1 Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.
2 Từ ban đầu, Ngài ở với Đức Chúa Trời.
3 Muôn vật đều do Ngài tạo dựng, không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài.
4 Trong Ngài có sự sống, sự sống là ánh sáng cho loài người.
5 Ánh sáng soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng.
6 Có một người Đức Chúa Trời sai đến tên là Giăng.
7 Ông đến với tư cách một nhân chứng để làm chứng về ánh sáng hầu cho nhờ ông mọi người đều tin.
8 Chính ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
9 Đây là ánh sáng thật đã đến thế gian để soi sáng mọi người.
10 Ngôi Lời ở trong thế gian và thế gian đã được tạo dựng bởi Ngài, nhưng thế gian không nhận biết Ngài.
11 Ngài đến trong đất nước Ngài mà dân Ngài không tiếp nhận Ngài.
12 Nhưng bất cứ ai tiếp nhận Ngài, tức là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền trở nên con của Đức Chúa Trời,
13 là những người được sinh ra không phải bởi khí huyết, hoặc bởi ước muốn xác thịt, hoặc bởi ý người, nhưng bởi Đức Chúa Trời.
14 Ngôi Lời đã trở nên xác thể, sống giữa chúng ta, đầy ân điển và chân lý. Chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, thật là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha.
15 Giăng làm chứng về Ngài và công bố rằng: “Đây là Đấng mà tôi đã nói: ‘Đấng đến sau tôi vượt trội hơn tôi vì Ngài vốn có trước tôi.’ ”
16 Và từ nguồn sung mãn của Ngài, tất cả chúng ta đều nhận được ân điển càng thêm ân điển.
17 Vì luật pháp đã được ban bố bởi Môi-se, còn ân điển và chân lý thì đến từ Đức Chúa Jêsus Christ.
18 Chưa ai từng thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha là Đấng đã bày tỏ Cha cho chúng ta biết.
19 Đây là lời chứng của Giăng: Khi những người Do Thái phái các thầy tế lễ và người Lê-vi từ thành Giê-ru-sa-lem đến hỏi ông rằng: “Ông là ai?”
20 thì ông thẳng thắn tuyên bố, không úp mở gì cả. Ông nói: “Tôi không phải là Đấng Christ.”
21 Họ lại hỏi: “Vậy thì ông là ai? Có phải là Ê-li không?” Ông đáp: “Không phải.” “Thế ông có phải là nhà tiên tri không?” Ông trả lời: “Không phải.”
22 Họ nói: “Thế thì ông là ai để chúng tôi trả lời cho những người đã sai phái chúng tôi? Ông tự xưng mình là ai?”
23 Ông trả lời: “Tôi là tiếng của người kêu lên trong hoang mạc: ‘Hãy làm cho thẳng con đường của Chúa’, như lời nhà tiên tri Ê-sai đã nói.”
24 Những người được phái đến thuộc nhóm Pha-ri-si,
25 hỏi ông rằng: “Nếu ông không phải là Đấng Christ, không phải là Ê-li, cũng không phải là nhà tiên tri, vậy thì tại sao ông lại làm báp-têm?”
26 Giăng đáp: “Tôi làm báp-têm bằng nước, nhưng có một Đấng đang ở giữa các ông mà các ông không nhận biết;
27 Đấng ấy đến sau tôi, mà tôi không xứng đáng mở quai dép Ngài.”
28 Những việc nầy xảy ra tại Bê-tha-ni bên kia sông Giô-đanh, nơi Giăng làm báp-têm.
29 Hôm sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến với mình, thì nói rằng: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi!
30 Đây là Đấng mà tôi đã nói: ‘Đấng đến sau tôi vượt trội hơn tôi, vì Ngài vốn trước tôi.’
31 Chính tôi vốn không biết Ngài, nhưng tôi đến làm báp-têm bằng nước để Ngài được bày tỏ cho dân Y-sơ-ra-ên.”
32 Giăng cũng làm chứng rằng: “Tôi đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài.
33 Chính tôi vốn không biết Ngài, nhưng Đấng đã sai tôi làm báp-têm bằng nước có phán với tôi: ‘Đấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh giáng xuống, ngự lên trên, ấy là Đấng làm báp-têm bằng Đức Thánh Linh.’
34 Tôi đã thấy và làm chứng rằng, đây chính là Con Đức Chúa Trời.”
35 Hôm sau, Giăng lại đứng tại đó với hai trong số các môn đồ của mình.
36 Khi nhìn thấy Đức Chúa Jêsus đi ngang qua, ông nói: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời!”
37 Hai môn đồ nghe ông nói, liền đi theo Đức Chúa Jêsus.
38 Đức Chúa Jêsus quay lại, thấy họ đi theo thì hỏi: “Các ngươi tìm ai?” Họ thưa: “Ra-bi (nghĩa là Thầy), Thầy đang trọ ở đâu?”
39 Ngài phán: “Hãy đến xem.” Họ đến xem chỗ Ngài trọ, và ở lại với Ngài trong ngày đó. Lúc ấy vào khoảng bốn giờ chiều.
40 Một trong hai người đã nghe Giăng nói và đi theo Đức Chúa Jêsus, đó là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ.
41 Trước tiên, ông tìm anh mình là Si-môn Phi-e-rơ và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Christ).
42 Ông đưa anh mình đến với Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus nhìn Si-môn và phán: “Ngươi là Si-môn, con của Giăng, ngươi sẽ được gọi là Sê-pha”, nghĩa là Phi-e-rơ.
43 Hôm sau, Đức Chúa Jêsus muốn đi qua miền Ga-li-lê. Ngài tìm Phi-líp và phán rằng: “Hãy theo Ta.”
44 Phi-líp là người Bết-sai-đa, cùng thành phố với Anh-rê và Phi-e-rơ.
45 Phi-líp tìm Na-tha-na-ên và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng mà Môi-se đã chép trong luật pháp, và các nhà tiên tri cũng có ghi lại; ấy là Đức Chúa Jêsus, con của Giô-sép, ở thành Na-xa-rét.”
46 Na-tha-na-ên nói: “Có điều gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” Phi-líp nói: “Hãy đến xem!”
47 Đức Chúa Jêsus thấy Na-tha-na-ên đến với Ngài thì nói về ông rằng: “Đây là một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá.”
48 Na-tha-na-ên thưa: “Làm thế nào Thầy biết tôi?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Trước khi Phi-líp gọi ngươi, Ta đã thấy ngươi ở dưới cây vả.”
49 Na-tha-na-ên thưa: “Thưa Thầy, Thầy là Con Đức Chúa Trời! Thầy là vua Y-sơ-ra-ên!”
50 Đức Chúa Jêsus đáp: “Có phải vì Ta nói Ta thấy ngươi ở dưới cây vả nên ngươi mới tin? Ngươi sẽ thấy những việc vĩ đại hơn nữa.”
51 Rồi Ngài phán: “Thật, Ta bảo thật với các ngươi: Các ngươi sẽ thấy trời mở ra và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con Người.”
1 Vào ngày thứ ba, có một tiệc cưới tại thành Ca-na trong miền Ga-li-lê; mẹ của Đức Chúa Jêsus có mặt tại đó.
2 Đức Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài cũng được mời dự tiệc.
3 Khi rượu đã cạn, mẹ của Đức Chúa Jêsus nói với Ngài: “Người ta không còn rượu nữa.”
4 Đức Chúa Jêsus trả lời: “Thưa bà, việc nầy có liên can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.”
5 Mẹ Ngài nói với những người phục vụ rằng: “Người bảo gì thì hãy làm y như vậy.”
6 Tại đó có sáu cái chum bằng đá dùng vào việc tẩy sạch theo lễ nghi Do Thái, mỗi cái chứa được hai ba thùng nước.
7 Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy đổ nước đầy những chum nầy.” Họ đổ đầy tới miệng.
8 Rồi Ngài lại bảo: “Bây giờ hãy múc ra, đem đến cho người quản tiệc.” Vậy họ đem đến cho người ấy.
9 Khi người quản tiệc nếm nước đã biến thành rượu (nhưng không biết rượu đến từ đâu, còn những người phục vụ đã múc nước thì biết), ông gọi chàng rể
10 và nói: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước, và khi người ta uống nhiều rồi mới đãi rượu kém hơn, nhưng anh thì giữ rượu ngon cho đến bây giờ.”
11 Đây là dấu lạ thứ nhất Đức Chúa Jêsus đã làm tại thành Ca-na, trong miền Ga-li-lê, và bày tỏ vinh quang Ngài nên các môn đồ tin Ngài.
12 Sau đó, Ngài cùng với mẹ, các em, và các môn đồ đi xuống thành Ca-bê-na-um và ở lại đó ít ngày.
13 Lễ Vượt Qua của dân Do Thái gần đến, Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
14 Ngài thấy trong đền thờ có những kẻ bán bò, chiên, bồ câu, và những người đổi tiền đang ngồi.
15 Ngài bện một cái roi bằng dây, đuổi tất cả ra khỏi đền thờ, luôn cả chiên, bò; đổ tiền của người đổi tiền và lật bàn của họ.
16 Ngài bảo những người bán bồ câu rằng: “Hãy dẹp bỏ những thứ nầy khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha Ta thành nhà buôn bán.”
17 Các môn đồ Ngài nhớ lại lời đã chép: “Lòng nhiệt thành về nhà Chúa thiêu đốt tôi.”
18 Người Do Thái hỏi Ngài: “Thầy có dấu lạ nào để chứng tỏ cho chúng tôi thấy Thầy có quyền làm điều nầy?”
19 Đức Chúa Jêsus đáp: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại.”
20 Người Do Thái lại nói: “Người ta xây dựng đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà Thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày sao?”
21 Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể Ngài.
22 Vì vậy, khi Ngài từ cõi chết sống lại, các môn đồ nhớ Ngài đã nói điều nầy, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã nói.
23 Đang lúc Đức Chúa Jêsus ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ Vượt Qua, nhiều người thấy các dấu lạ Ngài làm thì tin danh Ngài.
24 Nhưng Đức Chúa Jêsus không phó thác mình cho họ, vì Ngài biết rõ mọi người.
25 Ngài không cần ai làm chứng về người nào cả, vì chính Ngài biết rõ mọi điều trong lòng người.
1 Trong số những người Pha-ri-si, có một người tên là Ni-cô-đem, một nhà lãnh đạo của dân Do Thái.
2 Ban đêm, ông đến với Đức Chúa Jêsus và nói: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến. Nếu Đức Chúa Trời không ở cùng thì không ai làm được những dấu lạ mà Thầy đã làm.”
3 Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật ngươi, nếu một người không được sinh lại, thì không thể thấy vương quốc Đức Chúa Trời.”
4 Ni-cô-đem thưa rằng: “Người đã già thì sinh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sinh ra lần thứ hai sao?”
5 Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật ngươi: Nếu một người không nhờ nước và Thánh Linh mà sinh ra thì không thể vào vương quốc Đức Chúa Trời.
6 Điều gì do xác thịt sinh ra là xác thịt, điều gì bởi Thánh Linh sinh ra là linh.
7 Đừng ngạc nhiên về điều Ta đã nói với ngươi: ‘Các ngươi phải sinh lại.’
8 Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng gió, nhưng không biết gió đến từ đâu và đi đâu. Người nào sinh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.”
9 Ni-cô-đem lại nói: “Làm thế nào điều ấy có thể xảy ra được?”
10 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên mà không hiểu điều nầy sao?
11 Thật, Ta bảo thật ngươi: Chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy, nhưng các ngươi không chấp nhận lời chứng của chúng ta.
12 Nếu Ta nói với các ngươi những điều thuộc về đất mà các ngươi còn không tin, huống chi Ta nói những điều thuộc về trời thì làm sao các ngươi tin được?
13 Chưa từng có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, là Con Người.
14 Như Môi-se treo con rắn lên trong hoang mạc thể nào thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy,
15 để ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.
16 Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
17 Vì Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian không phải để kết án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con mà được cứu.
18 Ai tin Con thì không bị kết án đâu, còn ai không tin thì đã bị kết án rồi, vì không tin đến danh Con Một của Đức Chúa Trời.
19 Sự kết án đó là như thế nầy: Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng loài người ưa thích bóng tối hơn ánh sáng, vì việc làm của họ là xấu xa.
20 Vì ai làm ác thì ghét ánh sáng và không đến với ánh sáng, e rằng công việc của mình phải bị phơi bày.
21 Nhưng ai làm theo chân lý thì đến với ánh sáng để các việc mình làm trong Đức Chúa Trời được thấy rõ.”
22 Sau đó, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đi đến miền Giu-đê. Ngài ở lại đó với họ và làm báp-têm.
23 Giăng cũng làm báp-têm tại Ạt-nôn, gần Sa-lim, vì ở nơi nầy có nhiều nước và người ta đến để chịu báp-têm.
24 Lúc ấy Giăng chưa bị cầm tù.
25 Bấy giờ, có sự tranh luận về nghi lễ tẩy sạch giữa các môn đồ của Giăng và một người Do Thái.
26 Họ đến với Giăng và nói: “Thưa thầy, người đã ở với thầy bên kia sông Giô-đanh, đã được thầy làm chứng tốt, bây giờ đang làm báp-têm và mọi người đều đến với ông ấy.”
27 Giăng trả lời: “Nếu không phải từ trời ban cho thì không ai có thể nhận được điều gì.
28 Chính anh em làm chứng cho tôi rằng tôi đã nói tôi không phải là Đấng Christ, nhưng tôi được sai đến trước Ngài.
29 Ai cưới cô dâu, người ấy là chàng rể; còn bạn của chàng rể đứng lắng nghe và rất vui mừng khi nghe tiếng của chàng rể. Đó chính là niềm vui trọn vẹn của tôi vậy.
30 Ngài phải được tôn cao, còn tôi phải hạ xuống.
31 Đấng đến từ trên cao thì trên tất cả. Người ra từ đất thì thuộc về đất, nói những việc thuộc về đất; nhưng Đấng đến từ trời thì trên tất cả.
32 Ngài làm chứng những gì Ngài đã thấy và nghe, nhưng không ai tiếp nhận lời chứng của Ngài.
33 Ai tiếp nhận lời chứng của Ngài thì xác nhận rằng Đức Chúa Trời là chân thật.
34 Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không giới hạn.
35 Cha yêu thương Con và giao tất cả mọi sự trong tay Con.
36 Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng kinh nghiệm được sự sống đâu, nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy.”
1 Khi Đức Chúa Jêsus biết được người Pha-ri-si có nghe nói Ngài thu nhận và làm báp-têm nhiều môn đồ hơn Giăng,
2 (Thật ra không phải chính Đức Chúa Jêsus làm báp-têm, nhưng là các môn đồ của Ngài),
3 thì Ngài rời miền Giu-đê trở về miền Ga-li-lê.
4 Nhưng Ngài phải đi ngang qua vùng Sa-ma-ri.
5 Vậy, Ngài đến một thành của vùng Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần cánh đồng mà Gia-cốp đã cho con mình là Giô-sép.
6 Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi, nên Đức Chúa Jêsus ngồi lại bên giếng. Lúc ấy vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Một phụ nữ Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus nói với bà: “Cho Ta xin nước uống.”
8 Lúc ấy, các môn đồ Ngài đã đi ra phố mua thức ăn.
9 Người phụ nữ Sa-ma-ri nói: “Sao ông là một người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho uống nước?” (Vì người Do Thái vốn không giao tiếp với người Sa-ma-ri.)
10 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu chị biết quà tặng của Đức Chúa Trời, và Người đang nói với chị: ‘Cho Ta xin nước uống’ là ai thì chắc chắn chị sẽ nài xin Người, và Người sẽ cho chị nước sống.”
11 Người phụ nữ nói: “Thưa ông, ông không có gầu múc, mà giếng thì sâu, vậy ông lấy đâu ra nước sống ấy?
12 Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp đã cho chúng tôi giếng nầy; chính Gia-cốp, các con và bầy gia súc của người đều uống ở giếng nầy, vậy ông lớn hơn Gia-cốp sao?”
13 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát mãi,
14 nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ trở thành một mạch nước trong người ấy, tuôn trào đến tận sự sống đời đời.”
15 Người phụ nữ nói: “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi không còn khát và khỏi đến đây múc nước nữa.”
16 Ngài bảo: “Hãy đi gọi chồng chị, rồi trở lại đây.”
17 Người phụ nữ thưa: “Tôi không có chồng.” Đức Chúa Jêsus nói: “Chị bảo rằng chị không có chồng là phải,
18 vì chị đã có năm đời chồng, còn người mà chị hiện có không phải là chồng chị; điều nầy chị đã nói thật.”
19 Người phụ nữ nói: “Thưa ông, tôi nhận biết ông là một nhà tiên tri.
20 Tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên núi nầy, còn các ông thì nói rằng thành Giê-ru-sa-lem mới là chỗ đáng thờ phượng.”
21 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nầy, người phụ nữ kia, hãy tin Ta, giờ sắp đến, các ngươi không còn thờ phượng Cha trên núi nầy hay tại thành Giê-ru-sa-lem nữa.
22 Các ngươi thờ phượng Đấng các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng Đấng chúng ta biết, vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái.
23 Giờ sắp đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha bằng tâm linh và chân lý; ấy là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm.
24 Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý.”
25 Người phụ nữ thưa: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si-a (nghĩa là Đấng Christ) sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố cho chúng tôi mọi điều.”
26 Đức Chúa Jêsus phán: “Ta, người đang nói với chị đây, chính là Đấng đó.”
27 Lúc ấy, các môn đồ đến. Họ kinh ngạc khi thấy Ngài nói chuyện với một phụ nữ; nhưng không một ai hỏi: “Thầy cần gì?” hay là: “Sao Thầy nói chuyện với phụ nữ nầy?”
28 Người phụ nữ bỏ vò nước của mình lại và đi vào thành, nói với mọi người rằng:
29 “Hãy đến xem một người đã nói đúng hết tất cả những gì tôi đã làm. Đó không phải là Đấng Christ sao?”
30 Họ ra khỏi thành và đến với Đức Chúa Jêsus.
31 Trong lúc đó, các môn đồ nài nỉ Ngài: “Thưa Thầy, xin hãy ăn.”
32 Nhưng Ngài đáp: “Ta có lương thực để ăn mà các con không biết.”
33 Vì vậy, các môn đồ nói với nhau: “Có ai đã đem gì cho Ngài ăn chăng?”
34 Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Lương thực của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta, và hoàn tất công việc của Ngài.
35 Chẳng phải các con nói: ‘Còn bốn tháng nữa là đến mùa gặt sao?’ Nhưng Ta nói với các con: ‘Hãy ngước mắt lên và xem những cánh đồng đã vàng sẵn sàng cho mùa gặt.
36 Người gặt nhận tiền công và thu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng.’
37 Ở chỗ nầy, câu nói: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt,’ là rất đúng.
38 Ta đã sai các con gặt những gì mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các con thì vào chia sẻ công khó của họ.”
39 Nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì người phụ nữ đã làm chứng rằng: “Ngài đã nói ra hết mọi điều tôi đã làm.”
40 Vì vậy, khi đến với Ngài, những người Sa-ma-ri xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày.
41 Qua lời của Ngài, số người tin càng đông hơn nữa.
42 Họ nói với người phụ nữ rằng: “Bây giờ không còn phải nhờ những gì chị nói mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi đã nghe, và biết rằng Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian.”
43 Hai ngày sau, Đức Chúa Jêsus rời nơi ấy, đi đến miền Ga-li-lê.
44 (Vì chính Ngài đã xác nhận rằng, nhà tiên tri không được tôn trọng nơi quê hương mình.)
45 Khi đến miền Ga-li-lê, Ngài được dân Ga-li-lê tiếp đón, bởi họ đã chứng kiến tất cả những gì Ngài đã làm tại thành Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ, vì chính họ cũng đi dự lễ.
46 Vậy, Ngài trở lại Ca-na trong miền Ga-li-lê, nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Một viên quan trong hoàng gia tại Ca-bê-na-um có người con trai bị bệnh.
47 Khi viên quan nầy nghe Đức Chúa Jêsus đã từ Giu-đê đến Ga-li-lê thì tìm Ngài, và cầu xin Ngài đến chữa cho con mình vì nó sắp chết.
48 Đức Chúa Jêsus nói với viên quan rằng: “Nếu không thấy dấu lạ và phép mầu, thì hẳn các ngươi không tin!”
49 Viên quan thưa: “Lạy Chúa, xin đến trước khi con tôi chết!”
50 Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy đi, con ngươi sẽ sống.” Viên quan tin lời Đức Chúa Jêsus nói với mình và đi.
51 Khi ông đang đi, các đầy tớ của ông đến gặp ông và nói: “Con trai của chủ sống!”
52 Viên quan hỏi họ con ông đã bình phục vào giờ nào. Họ trả lời: “Hôm qua, vào khoảng một giờ chiều, cậu hết sốt.”
53 Người cha nhận biết đó chính là giờ Đức Chúa Jêsus đã bảo mình rằng: “Con của ngươi sẽ sống”; nên chính ông, và cả nhà đều tin.
54 Đây là dấu lạ thứ hai Đức Chúa Jêsus đã làm, sau khi Ngài từ Giu-đê về Ga-li-lê.
1 Sau đó, vào một ngày lễ của dân Do Thái, Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa. Hồ có năm vòm cửa.
3 Rất nhiều người đau ốm, mù lòa, què quặt, bại liệt nằm tại đó.
4
5 Có một người mắc bệnh đã ba mươi tám năm.
6 Đức Chúa Jêsus thấy người nầy nằm đó và biết bị bệnh đã lâu nên hỏi: “Ngươi có muốn được lành không?”
7 Người bệnh trả lời: “Thưa ông, không có ai giúp ném tôi xuống hồ lúc nước động, khi tôi đến thì người khác đã xuống trước tôi rồi.”
8 Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi.”
9 Người ấy liền được lành bệnh, vác giường và đi. Hôm ấy là ngày sa-bát.
10 Những người Do Thái nói với người được chữa lành: “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác giường.”
11 Nhưng anh ta đáp: “Người đã chữa lành cho tôi bảo tôi: ‘Hãy vác giường ngươi và đi.’ ”
12 Họ hỏi: “Ai là người bảo anh: ‘Hãy vác giường và đi’?”
13 Nhưng người được chữa lành không biết là ai, vì Đức Chúa Jêsus đã lẩn vào đám đông tại đó.
14 Sau đó, Đức Chúa Jêsus gặp người nầy trong đền thờ thì nói với anh ta: “Nầy, ngươi đã được lành bệnh rồi, đừng phạm tội nữa, e có điều càng tệ hơn xảy đến cho ngươi chăng.”
15 Người nầy đi nói với những người Do Thái rằng Đức Chúa Jêsus là người đã chữa bệnh cho mình.
16 Do đó, người Do Thái bắt bớ Đức Chúa Jêsus, vì Ngài làm những việc nầy trong ngày sa-bát.
17 Nhưng Ngài phán với họ: “Cha Ta vẫn đang làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng làm việc như vậy.”
18 Vì thế, người Do Thái càng tìm cách giết Ngài, vì Ngài không chỉ phá luật ngày sa-bát mà còn gọi Đức Chúa Trời là Cha, tự cho mình bình đẳng với Đức Chúa Trời.
19 Bởi vậy, Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, Con không thể tự mình làm điều gì, nhưng chỉ làm điều Con thấy Cha làm; vì bất cứ điều gì Cha làm, Con cũng làm như vậy.
20 Vì Cha yêu thương Con và bày tỏ cho Con mọi điều Cha làm. Cha sẽ còn bày tỏ cho Con những việc vĩ đại hơn những việc nầy nữa để các ngươi phải kinh ngạc.
21 Như Cha đã khiến những người chết sống lại thể nào thì Con cũng ban sự sống cho người nào Con muốn thể ấy.
22 Cha cũng không phán xét ai hết, nhưng giao trọn quyền phán xét cho Con,
23 để mọi người đều tôn kính Con cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con thì cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.
24 Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta thì được sự sống đời đời và không bị phán xét, nhưng vượt khỏi sự chết mà vào sự sống.
25 Thật, Ta bảo thật các ngươi, giờ sắp đến, và đã đến rồi, khi những người chết sẽ nghe tiếng Con Đức Chúa Trời, và những người nghe sẽ sống.
26 Vì như Cha có sự sống trong chính mình thể nào thì Cha cũng ban cho Con sự sống trong chính mình thể ấy.
27 Cha đã trao thẩm quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì Con là Con Người.
28 Đừng kinh ngạc về điều nầy, vì giờ sắp đến, khi tất cả những người ở trong mồ mả sẽ nghe tiếng Ngài và bước ra;
29 ai đã làm điều lành thì sống lại để được sống, ai đã làm điều dữ thì sống lại để bị phán xét.
30 Ta không thể tự mình làm điều gì; Ta phán xét theo điều Ta nghe, và sự phán xét của Ta là công minh, vì Ta không tìm ý riêng mình, nhưng tìm ý của Đấng đã sai Ta.
31 Nếu Ta tự làm chứng cho mình thì lời chứng của Ta không đáng tin.
32 Có Đấng khác làm chứng cho Ta; Ta biết lời Đấng ấy làm chứng về Ta là thật.
33 Các ngươi phái người đến với Giăng, và Giăng đã làm chứng cho chân lý.
34 Không phải Ta cần nhờ vào lời chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều nầy để các ngươi được cứu.
35 Giăng là ngọn đèn thắp sáng, còn các ngươi thì muốn tạm vui hưởng trong ánh sáng của người.
36 Nhưng Ta có một lời chứng vĩ đại hơn của Giăng; vì những công việc Cha giao cho Ta hoàn tất, chính những công việc Ta đang thực hiện đây, làm chứng rằng Cha đã sai Ta.
37 Chính Cha, Đấng đã sai Ta, cũng làm chứng cho Ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, hoặc thấy hình dạng Ngài,
38 và lời Ngài cũng không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Đấng Ngài đã sai đến.
39 Các ngươi tra cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó có sự sống đời đời. Chính Kinh Thánh làm chứng về Ta,
40 vậy mà các ngươi không muốn đến với Ta để được sự sống đời đời.
41 Ta không cầu vinh quang nơi loài người,
42 nhưng Ta biết các ngươi không có tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong chính mình.
43 Ta đã nhân danh Cha Ta mà đến, nhưng các ngươi không tiếp nhận Ta, nếu có ai khác nhân danh chính mình mà đến thì các ngươi sẽ tiếp nhận.
44 Các ngươi vẫn nhận vinh quang của nhau, không tìm cầu vinh quang đến từ Đức Chúa Trời duy nhất thì làm sao các ngươi tin được?
45 Đừng nghĩ rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha. Người sẽ tố cáo các ngươi là Môi-se, người mà các ngươi đặt hi vọng.
46 Nếu các ngươi tin Môi-se thì cũng tin Ta, vì Môi-se viết về Ta.
47 Nhưng nếu các ngươi không tin những lời Môi-se viết thì làm thế nào các ngươi tin lời Ta được?”
1 Sau đó, Đức Chúa Jêsus đi qua bờ bên kia biển Ga-li-lê, tức là biển Ti-bê-ri-át.
2 Một đoàn người rất đông đi theo Ngài, vì họ đã từng thấy các dấu lạ Ngài làm cho những người bệnh.
3 Đức Chúa Jêsus lên núi và ngồi đó với các môn đồ.
4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua, là đại lễ của dân Do Thái.
5 Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy một đoàn người rất đông đến với Ngài, Ngài nói với Phi-líp: “Chúng ta phải mua bánh ở đâu để cho những người nầy ăn?”
6 Ngài nói như vậy để thử Phi-líp chứ Ngài đã biết điều mình sẽ làm rồi.
7 Phi-líp thưa: “Hai trăm đơ-ni-ê bánh cũng không đủ cho mỗi người một ít.”
8 Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ, một trong các môn đồ, thưa rằng:
9 “Có một cậu bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng đông người như thế nầy thì ngần ấy có thấm vào đâu?”
10 Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy truyền cho mọi người ngồi xuống.” Chỗ nầy có nhiều cỏ. Vậy dân chúng ngồi xuống, số lượng ước chừng năm nghìn.
11 Đức Chúa Jêsus cầm bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người đã ngồi, cá cũng được phân phát như vậy, ai muốn bao nhiêu tùy ý.
12 Khi họ ăn đã no, Ngài bảo các môn đồ: “Hãy thu nhặt lại những miếng bánh thừa để không bị mất chút nào.”
13 Vậy, họ thu nhặt hết những miếng vụn của năm chiếc bánh lúa mạch mà người ta ăn còn thừa, chứa đầy mười hai giỏ.
14 Những người thấy dấu lạ Đức Chúa Jêsus đã làm thì nói: “Đây chính là Đấng tiên tri phải đến thế gian.”
15 Đức Chúa Jêsus nhận biết rằng họ sắp đến bắt ép Ngài làm vua nên lánh lên núi một mình.
16 Đến chiều tối, các môn đồ ra biển,
17 lên một chiếc thuyền, đi sang bờ bên kia, về hướng thành Ca-bê-na-um. Trời đã tối, nhưng Đức Chúa Jêsus vẫn chưa đến với họ.
18 Biển động vì gió thổi mạnh.
19 Khi họ chèo được khoảng năm hay sáu ki-lô-mét thì thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển đến gần thuyền. Họ hoảng sợ.
20 Nhưng Ngài bảo rằng: “Ta đây, đừng sợ!”
21 Họ muốn rước Ngài vào thuyền thì lập tức thuyền cập bến, là nơi họ định đi.
22 Ngày hôm sau, dân chúng ở bờ biển bên kia nhận ra rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền, và Đức Chúa Jêsus không xuống thuyền với các môn đồ, chỉ có các môn đồ đi mà thôi.
23 Nhưng có những chiếc thuyền khác từ Ti-bê-ri-át đến đậu gần nơi họ đã ăn bánh sau khi Chúa tạ ơn.
24 Vậy, khi đoàn dân thấy Đức Chúa Jêsus không có ở đó, các môn đồ Ngài cũng không, thì họ lên thuyền đi đến thành Ca-bê-na-um để tìm Đức Chúa Jêsus.
25 Lúc gặp Ngài ở bờ biển bên kia, họ thưa rằng: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?”
26 Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta không phải vì đã thấy các dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê.
27 Đừng làm việc vì thức ăn hay hư nát, mà vì thức ăn còn mãi đến sự sống đời đời, là thức ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Đấng mà Đức Chúa Trời, là Cha, đã ấn chứng cho.”
28 Họ thưa: “Chúng tôi phải làm gì để được làm công việc của Đức Chúa Trời?”
29 Đức Chúa Jêsus đáp: “Công việc của Đức Chúa Trời là các ngươi tin Đấng mà Ngài đã sai đến.”
30 Họ lại nói: “Thế thì, Thầy làm dấu lạ gì để chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì?
31 Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong hoang mạc, như lời đã chép: ‘Ngài cho họ ăn bánh từ trời.’ ”
32 Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, không phải Môi-se đã cho các ngươi bánh từ trời đâu; nhưng chính Cha Ta đã ban cho các ngươi bánh thật từ trời.
33 Vì bánh của Đức Chúa Trời là bánh từ trời xuống, ban sự sống cho thế gian.”
34 Họ nói: “Thưa Chúa, xin ban bánh ấy cho chúng tôi luôn luôn.”
35 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta là bánh của sự sống. Ai đến với Ta chẳng hề đói, ai tin Ta chẳng hề khát.
36 Nhưng Ta đã nói với các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, mà vẫn không tin.
37 Tất cả những người Cha Ta ban cho Ta đều đến với Ta; ai đến với Ta, Ta sẽ không bỏ ra ngoài đâu.
38 Vì Ta từ trời xuống, không phải để làm theo ý Ta, mà làm theo ý Đấng đã sai Ta.
39 Đây là ý muốn của Đấng đã sai Ta: Tất cả những người Ngài đã ban cho Ta thì Ta sẽ không để mất một ai, nhưng Ta phải làm cho sống lại trong ngày cuối cùng.
40 Vì đây là ý muốn của Cha Ta: Tất cả những ai thấy Con và tin Con thì được sự sống đời đời, Ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.”
41 Nhưng các người Do Thái phàn nàn về Ngài, vì Ngài nói: “Ta là bánh từ trời xuống.”
42 Họ nói: “Chẳng phải người nầy là Jêsus, con của Giô-sép sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta biết cả, sao bây giờ ông ấy lại nói: ‘Ta từ trời xuống’?”
43 Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Các ngươi đừng xầm xì với nhau nữa.
44 Nếu Cha, là Đấng đã sai Ta, không kéo đến thì không ai có thể đến với Ta, và Ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
45 Các sách tiên tri có chép: ‘Tất cả đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ.’ Bất cứ ai đã nghe và học nơi Cha thì đến với Ta.
46 Chưa hề có ai đã thấy Cha, ngoại trừ Đấng từ Đức Chúa Trời đến; Đấng ấy đã thấy Cha.
47 Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai tin thì được sự sống đời đời.
48 Ta là bánh của sự sống.
49 Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong hoang mạc rồi cũng chết.
50 Đây là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì không chết.
51 Ta là bánh sự sống từ trời xuống; nếu ai ăn bánh nầy thì sẽ sống đời đời. Bánh mà Ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian chính là thịt Ta.”
52 Vì vậy, có cuộc tranh cãi giữa những người Do Thái với nhau. Họ nói: “Làm sao ông ta có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”
53 Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt và uống huyết Con Người thì không có sự sống đời đời trong các ngươi đâu.
54 Ai ăn thịt và uống huyết Ta thì được sự sống đời đời; Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
55 Vì thịt Ta thật là thức ăn, huyết Ta thật là thức uống.
56 Ai ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy.
57 Như Cha hằng sống đã sai Ta, và Ta nhờ Ngài mà sống thể nào thì người ăn Ta cũng sẽ nhờ Ta mà sống thể ấy.
58 Đây là bánh từ trời xuống, không như bánh tổ phụ các ngươi ăn rồi chết; người nào ăn bánh nầy sẽ sống đời đời.”
59 Đức Chúa Jêsus nói những điều nầy khi đang dạy dỗ trong nhà hội tại thành Ca-bê-na-um.
60 Nhiều môn đồ của Ngài nghe điều nầy thì nói: “Lời nầy khó quá, ai mà nghe được?”
61 Nhưng Đức Chúa Jêsus tự biết các môn đồ đang xầm xì về điều nầy nên nói rằng: “Điều nầy làm cho các con vấp phạm sao?
62 Vậy, nếu như các con thấy Con Người lên nơi Ngài vốn ở trước kia thì sao?
63 Chính thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích gì. Những lời Ta nói với các con là thần linh và sự sống.
64 Nhưng có vài người trong các con không tin.” Vì ngay từ đầu, Đức Chúa Jêsus đã biết ai là những người không tin và ai là kẻ phản Ngài.
65 Ngài lại nói: “Vì vậy, Ta đã bảo các con rằng nếu Cha không ban cho thì không ai có thể đến với Ta được.”
66 Từ lúc ấy, nhiều môn đồ thối lui, không theo Ngài nữa.
67 Đức Chúa Jêsus nói với mười hai môn đồ: “Còn các con cũng muốn thối lui chăng?”
68 Si-môn Phi-e-rơ đáp: “Thưa Chúa, chúng con sẽ theo ai? Chúa có lời của sự sống đời đời.
69 Chúng con đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.”
70 Đức Chúa Jêsus đáp: “Chẳng phải Ta đã chọn các con là mười hai môn đồ sao? Thế mà một người trong các con là quỷ?”
71 Ngài nói về Giu-đa, con của Si-môn Ích-ca-ri-ốt, là một trong mười hai môn đồ; chính người nầy về sau sẽ phản Ngài.
1 Sau các việc đó, Đức Chúa Jêsus đi trong miền Ga-li-lê; Ngài không muốn đi trong miền Giu-đê vì người Do Thái đang tìm giết Ngài.
2 Lễ Lều Tạm của dân Do Thái đã đến gần.
3 Vì vậy, các em của Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: “Anh hãy rời nơi nầy và đi qua miền Giu-đê để các môn đồ của anh được thấy công việc anh làm,
4 vì không ai muốn được mọi người biết đến mà lại làm việc âm thầm cả. Nếu anh làm những việc ấy thì hãy bày tỏ chính mình cho thiên hạ biết đi.”
5 Ngay cả các em Ngài cũng không tin Ngài.
6 Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Thì giờ của anh chưa đến, nhưng thì giờ của các em thì luôn có sẵn.
7 Thế gian không thể ghét các em nhưng ghét anh, vì anh đã chứng minh cho thế gian biết rằng công việc của họ là xấu xa.
8 Các em hãy lên dự lễ, còn anh chưa lên dự lễ nầy vì thì giờ của anh chưa trọn.”
9 Nói xong, Ngài cứ ở lại miền Ga-li-lê.
10 Nhưng sau khi các em Ngài đã lên dự lễ rồi thì Ngài cũng lên, nhưng đi cách âm thầm chứ không công khai.
11 Những người Do Thái tìm Ngài trong kỳ lễ, và nói: “Ông ta ở đâu?”
12 Có nhiều tiếng xầm xì về Ngài giữa đám đông. Kẻ thì nói: “Ông ấy là người tốt;” người khác lại bảo: “Không, ông ta là kẻ lừa dối dân chúng.”
13 Nhưng vì sợ người Do Thái nên không ai dám nói về Ngài cách công khai.
14 Vào giữa kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus đi lên đền thờ và dạy dỗ.
15 Những người Do Thái rất kinh ngạc nói rằng: “Người nầy chưa từng học, làm sao lại biết được Kinh Thánh?”
16 Đức Chúa Jêsus đáp: “Đạo lý của Ta không phải của riêng Ta, nhưng của Đấng đã sai Ta đến.
17 Nếu ai sẵn lòng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì sẽ biết lời Ta dạy đến từ Đức Chúa Trời hay Ta tự nói theo ý mình.
18 Người nào tự nói theo ý mình thì tìm vinh quang cho riêng mình, còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình là người chân thật, trong người ấy không có điều gì bất chính.
19 Chẳng phải Môi-se đã ban luật pháp cho các ngươi sao? Nhưng không một ai trong các ngươi tuân theo luật pháp. Tại sao các ngươi lại tìm giết Ta?”
20 Dân chúng trả lời: “Ông bị quỷ ám rồi! Nào có ai tìm giết ông đâu?”
21 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta đã làm một việc mà tất cả các ngươi đều kinh ngạc.
22 Môi-se đã ban bố luật cắt bì cho các ngươi (thật ra luật đó không phải bởi Môi-se mà bởi các tổ phụ), và các ngươi cắt bì cho người nam trong ngày sa-bát.
23 Nếu người nam phải chịu cắt bì trong ngày sa-bát để khỏi phạm luật Môi-se thì sao các ngươi lại nổi giận khi Ta chữa lành cả thân thể cho một người trong ngày sa-bát?
24 Đừng xét đoán theo bề ngoài, nhưng hãy xét đoán theo lẽ công chính.”
25 Có vài người dân thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: “Đây chẳng phải là người mà người ta tìm giết sao?
26 Xem kìa, ông ta nói một cách công khai mà họ không nói gì ông ta cả! Phải chăng những người có thẩm quyền đã thật sự biết ông ta là Đấng Christ?
27 Nhưng khi Đấng Christ đến thì không ai biết Ngài từ đâu đến, còn ông nầy thì chúng ta biết đến từ đâu.”
28 Khi đang dạy dỗ trong đền thờ, Đức Chúa Jêsus công bố: “Các ngươi biết Ta và cũng biết Ta từ đâu đến! Ta không tự mình đến, nhưng Đấng đã sai Ta đến là chân thật mà các ngươi không biết Ngài.
29 Còn Ta thì biết Ngài vì Ta từ Ngài đến, và Ngài là Đấng đã sai Ta.”
30 Vậy họ tìm cách bắt Ngài, nhưng không ai tra tay trên Ngài được vì giờ Ngài chưa đến.
31 Nhưng có nhiều người trong dân chúng tin Ngài và nói rằng: “Khi Đấng Christ đến, Ngài sẽ làm nhiều dấu lạ hơn người nầy đã làm không?”
32 Người Pha-ri-si nghe những điều dân chúng xầm xì về Đức Chúa Jêsus nên họ và các thầy tế lễ cả sai các viên chức bảo vệ đền thờ đi bắt Ngài.
33 Vì vậy, Đức Chúa Jêsus nói rằng: “Ta còn ở với các ngươi ít lâu nữa, rồi Ta trở về với Đấng đã sai Ta.
34 Các ngươi sẽ tìm Ta nhưng không gặp; nơi Ta ở, các ngươi không thể đến được.”
35 Những người Do Thái nói với nhau: “Người nầy định đi đâu mà chúng ta không tìm được? Có phải ông ta định đến với những kiều bào lưu lạc giữa những người Hi Lạp và dạy người Hi Lạp chăng?
36 Ông ta có ý gì khi nói: ‘Các ngươi sẽ tìm Ta nhưng không gặp,’ và ‘nơi Ta ở, các ngươi không thể đến được’?”
37 Ngày cuối cùng là ngày rất quan trọng của kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus đứng dậy và công bố rằng: “Nếu người nào khát, hãy đến với Ta mà uống.
38 Người nào tin Ta thì những dòng sông sự sống sẽ tuôn tràn từ lòng mình, đúng như Kinh Thánh đã nói.”
39 Ngài nói điều nầy chỉ về Thánh Linh mà những người tin Ngài sẽ nhận được; bởi Thánh Linh chưa giáng xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được tôn vinh.
40 Khi đoàn dân nghe những lời nầy, một số người nói: “Đây thật là một nhà tiên tri.”
41 Một số khác nói: “Đây là Đấng Christ.” Nhưng một số khác nữa lại nói: “Đấng Christ mà lại đến từ miền Ga-li-lê sao?
42 Chẳng phải Kinh Thánh nói rằng Đấng Christ xuất thân từ dòng Đa-vít và đến từ Bết-lê-hem, là làng của Đa-vít sao?”
43 Như thế, vì Ngài mà dân chúng chia rẽ nhau.
44 Một số người trong dân chúng muốn bắt Ngài, nhưng không ai tra tay trên Ngài.
45 Vì vậy, các viên chức bảo vệ đền thờ trở về với các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si. Những người nầy hỏi họ: “Sao các anh không giải ông ta về đây?”
46 Những viên chức nầy trả lời: “Chưa bao giờ có người nào đã nói như người nầy.”
47 Những người Pha-ri-si nói với họ: “Các anh cũng bị lừa dối sao?
48 Có ai trong số các quan quyền hay những người Pha-ri-si tin ông ta chăng?
49 Còn đám dân chúng nầy chẳng biết luật pháp gì cả, thật đáng bị rủa sả!”
50 Ni-cô-đem, người trước đây đã đến với Đức Chúa Jêsus, là một người trong nhóm Pha-ri-si, nói với họ:
51 “Luật của chúng ta có kết tội một người mà trước đó chưa nghe lời khai và chưa biết người ấy làm gì không?”
52 Họ đáp: “Ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông hãy tra cứu thì sẽ thấy rằng không có một nhà tiên tri nào ra từ miền Ga-li-lê cả.” [
53 Rồi mọi người đều trở về nhà mình.
1 Còn Đức Chúa Jêsus lên núi Ô-liu.
2 Đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ. Cả đoàn dân đều đến với Ngài; Ngài ngồi xuống giảng dạy cho họ.
3 Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đem một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình, để người nầy đứng ở giữa
4 và nói với Ngài: “Thưa Thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang đang ngoại tình.
5 Trong luật pháp, Môi-se truyền cho chúng ta phải ném đá những người như vậy. Còn Thầy thì nói thế nào?”
6 Họ nói như thế để thử Ngài, nhằm có cớ tố cáo Ngài. Đức Chúa Jêsus cúi xuống, dùng ngón tay viết trên đất.
7 Vì họ cứ hỏi mãi nên Ngài ngước lên và nói: “Ai trong các ngươi là người không có tội, hãy lấy đá ném vào chị ấy trước đi.”
8 Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất.
9 Khi họ nghe điều nầy thì lần lượt bỏ đi, những người cao tuổi đi trước. Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người phụ nữ vẫn đang đứng giữa đó.
10 Đức Chúa Jêsus ngước lên nói với người phụ nữ: “Nầy chị kia, họ đâu cả rồi? Không ai kết án chị sao?”
11 Người phụ nữ đáp: “Thưa Chúa, không ai cả.” Đức Chúa Jêsus phán: “Ta cũng không kết án chị đâu; hãy đi, đừng phạm tội nữa.”]
12 Đức Chúa Jêsus lại nói với dân chúng rằng: “Ta là ánh sáng của thế gian, người nào theo Ta sẽ không đi trong bóng tối, nhưng có ánh sáng của sự sống.”
13 Những người Pha-ri-si nói: “Thầy tự làm chứng cho mình thì lời chứng của Thầy không đáng tin.”
14 Đức Chúa Jêsus đáp: “Cho dù Ta tự làm chứng cho mình đi nữa thì lời chứng của Ta vẫn đáng tin, vì Ta biết mình từ đâu đến và đang đi đâu. Nhưng các ngươi không biết Ta đến từ đâu và đang đi đâu.
15 Các ngươi xét đoán theo xác thịt, còn Ta không xét đoán ai hết.
16 Tuy nhiên, nếu Ta xét đoán thì sự xét đoán của Ta vẫn xác thực vì Ta không phải chỉ có một mình, nhưng Ta cùng Cha là Đấng đã sai Ta.
17 Trong luật pháp của các ngươi có chép rằng lời chứng của hai người là xác thực.
18 Ta tự làm chứng cho mình, và Cha là Đấng đã sai Ta cũng làm chứng cho Ta.”
19 Vì vậy, họ hỏi Ngài: “Cha của Thầy ở đâu?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi không biết Ta, cũng không biết Cha Ta. Nếu các ngươi biết Ta thì cũng biết Cha Ta nữa.”
20 Đức Chúa Jêsus phán những lời nầy tại nơi đặt các thùng tiền dâng, lúc đang giảng dạy trong đền thờ. Nhưng không ai bắt Ngài vì giờ Ngài chưa đến.
21 Ngài lại nói với họ: “Ta đi, các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được.”
22 Những người Do Thái nói: “Liệu ông ta sẽ tự tử chăng, khi nói rằng: ‘Nơi Ta đi, các ngươi không đến được’?”
23 Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi ra từ dưới, còn Ta đến từ trên. Các ngươi ra từ thế gian nầy, còn Ta không ra từ thế gian nầy.
24 Vì thế, Ta đã bảo các ngươi rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi không tin Ta là Đấng Hằng Hữu thì các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình.”
25 Họ hỏi Ngài rằng: “Vậy Thầy là ai?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Như Ta đã nói với các ngươi từ lúc đầu.
26 Ta có nhiều điều để nói và xét đoán về các ngươi; nhưng Đấng đã sai Ta đến là thật, và Ta công bố cho thế gian những gì Ta đã nghe nơi Ngài.”
27 Họ không hiểu rằng Ngài đang nói về Cha cho họ.
28 Vì vậy, Đức Chúa Jêsus nói rằng: “Khi các ngươi treo Con Người lên, lúc ấy các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đấng Hằng Hữu, và biết Ta không tự mình làm điều gì, nhưng chỉ công bố những điều Cha dạy Ta.
29 Đấng đã sai Ta vẫn ở với Ta, không để Ta một mình, vì Ta luôn luôn làm những điều đẹp lòng Ngài.”
30 Khi Ngài nói những điều nầy thì nhiều người tin Ngài.
31 Vậy, Đức Chúa Jêsus nói với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: “Nếu các ngươi cứ ở trong lời của Ta, thì các ngươi thật là môn đồ Ta.
32 Các ngươi sẽ biết chân lý, và chân lý sẽ giải phóng các ngươi.”
33 Những người Do Thái nói: “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa từng làm nô lệ ai, sao Thầy lại nói: ‘Các ngươi sẽ được tự do’?”
34 Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai phạm tội là nô lệ cho tội lỗi.
35 Nô lệ thì không ở mãi trong nhà, nhưng con cái thì ở đó mãi mãi.
36 Vậy, nếu Con giải phóng các ngươi thì các ngươi thật sự được tự do.
37 Ta biết các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi lại tìm cách giết Ta, vì lời Ta không có chỗ trong các ngươi.
38 Ta nói những điều Ta thấy nơi Cha Ta, còn các ngươi làm những điều các ngươi nghe nơi cha mình.”
39 Họ trả lời: “Cha chúng tôi là Áp-ra-ham.” Đức Chúa Jêsus nói: “Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham thì phải làm những điều Áp-ra-ham đã làm.
40 Nhưng bây giờ các ngươi tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi chân lý nghe được từ Đức Chúa Trời. Áp-ra-ham đã không làm những việc như thế.
41 Các ngươi làm những công việc của cha mình.” Họ nói: “Chúng tôi không phải là con ngoại tình, chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời.”
42 Ngài bảo họ: “Nếu Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi phải yêu thương Ta; vì Ta ra từ Đức Chúa Trời và từ Ngài mà đến, bởi Ta không tự mình đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta.
43 Tại sao các ngươi không thể hiểu điều Ta nói? Vì các ngươi không thể nghe được lời của Ta.
44 Các ngươi ra từ cha mình là ma quỷ, và muốn làm theo dục vọng của cha mình. Ngay từ đầu nó đã là kẻ giết người, và không đứng trong chân lý vì chân lý không ở trong nó. Khi nó nói dối thì nói theo bản tính của mình, vì nó là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối.
45 Nhưng vì Ta nói chân lý nên các ngươi không tin Ta.
46 Có ai trong các ngươi kết tội Ta được không? Nếu Ta nói chân lý, sao các ngươi không tin Ta?
47 Ai ra từ Đức Chúa Trời thì nghe lời Đức Chúa Trời. Sở dĩ các ngươi không nghe, vì các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời.”
48 Những người Do Thái đáp: “Chúng tôi nói Thầy là người Sa-ma-ri và bị quỷ ám, không đúng lắm sao?”
49 Đức Chúa Jêsus trả lời: “Ta không bị quỷ ám, nhưng Ta tôn vinh Cha Ta, còn các ngươi thì làm nhục Ta.
50 Ta không tìm vinh quang cho riêng mình; đã có Đấng tìm điều ấy và xét đoán.
51 Thật, Ta bảo thật các ngươi, nếu người nào giữ lời Ta thì sẽ không bao giờ thấy sự chết.”
52 Những người Do Thái nói: “Bây giờ, chúng tôi biết rõ Thầy bị quỷ ám. Áp-ra-ham đã chết, các nhà tiên tri cũng vậy; thế mà Thầy nói: ‘Nếu người nào giữ lời Ta sẽ không bao giờ nếm trải sự chết.’
53 Có phải Thầy vĩ đại hơn Áp-ra-ham, tổ phụ chúng tôi, là người đã chết rồi chăng? Các nhà tiên tri cũng đã chết! Thầy tự cho mình là ai?”
54 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta tự tôn vinh mình thì vinh quang của Ta chẳng ra gì. Chính Cha tôn vinh Ta, Ngài là Đấng các ngươi gọi là Đức Chúa Trời của mình.
55 Các ngươi không biết Ngài nhưng Ta biết Ngài. Nếu Ta nói Ta không biết Ngài thì Ta cũng nói dối như các ngươi. Nhưng Ta thật biết Ngài và giữ lời Ngài.
56 Cha các ngươi là Áp-ra-ham vui mừng mong được thấy ngày của Ta; người đã thấy và mừng rỡ.”
57 Những người Do Thái nói: “Thầy chưa đầy năm mươi tuổi mà đã thấy Áp-ra-ham!”
58 Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, trước khi Áp-ra-ham hiện hữu, Ta hằng hữu.”
59 Họ liền nhặt đá để ném Ngài, nhưng Đức Chúa Jêsus lánh đi, và ra khỏi đền thờ.
1 Đang khi đi đường, Đức Chúa Jêsus thấy một người mù từ lúc mới sinh.
2 Các môn đồ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai là người đã phạm tội, người nầy hay cha mẹ anh ta, khiến anh ta mới sinh ra đã bị mù?”
3 Đức Chúa Jêsus đáp: “Không phải vì anh nầy, hay cha mẹ anh đã phạm tội; nhưng để công việc của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong anh ta.
4 Lúc còn ban ngày, chúng ta phải làm những công việc của Đấng đã sai Ta; đêm đến, không ai có thể làm việc được.
5 Đang lúc Ta còn ở thế gian, Ta là ánh sáng của thế gian.”
6 Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước bọt hòa thành bùn và bôi vào mắt người mù,
7 rồi bảo anh ta: “Hãy đi và rửa nơi hồ Si-lô-ê” (từ nầy có nghĩa là “được sai đi”). Vậy, anh ta đi và rửa, rồi trở lại thì thấy được.
8 Láng giềng và những người trước đây đã thấy anh ăn xin, nói rằng: “Đây có phải là người vẫn ngồi ăn xin đó không?”
9 Người thì nói: “Đúng là anh ta”; kẻ lại bảo: “Không phải, nhưng là một người nào đó giống anh ta.” Còn anh ta nói: “Chính tôi đây.”
10 Họ hỏi anh ta: “Thế thì, làm sao mắt anh lại mở ra được?”
11 Anh đáp: “Một người tên là Jêsus đã hòa bùn bôi vào mắt tôi, và bảo tôi hãy đi đến hồ Si-lô-ê mà rửa. Vậy tôi đã đi, rửa và thấy được.”
12 Họ lại hỏi: “Ông ấy ở đâu?” Anh đáp: “Tôi không biết.”
13 Họ dẫn người trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-si.
14 Ngày Đức Chúa Jêsus hòa bùn và mở mắt cho người mù là ngày sa-bát.
15 Những người Pha-ri-si lại hỏi anh được sáng mắt cách nào. Anh đáp: “Ông ấy bôi bùn vào mắt tôi, tôi rửa, rồi thấy được.”
16 Vài người trong nhóm Pha-ri-si nói: “Người nầy không phải đến từ Đức Chúa Trời, vì không giữ ngày sa-bát.” Số khác thì nói: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Và giữa họ có sự chia rẽ.
17 Vì vậy, họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nói gì về người đã làm cho anh sáng mắt?” Anh đáp: “Ông ấy là một nhà tiên tri.”
18 Tuy nhiên, người Do Thái không tin rằng người nầy trước đây đã mù mà nay lại thấy được, cho đến lúc họ gọi cha mẹ anh ta đến
19 và hỏi rằng: “Đây có phải là con trai ông bà, người mà ông bà nói đã bị mù từ lúc mới sinh không? Thế sao bây giờ anh ta lại thấy được?”
20 Cha mẹ anh ta trả lời: “Chúng tôi biết đây chính là con trai chúng tôi, cháu bị mù từ lúc mới sinh.
21 Nhưng bây giờ làm thế nào cháu thấy được thì chúng tôi không biết. Chúng tôi cũng không biết ai đã mở mắt cho cháu. Các ông cứ hỏi cháu, cháu đã đủ tuổi rồi, nó sẽ tự nói.”
22 Cha mẹ người mù nói vậy vì sợ người Do Thái, vì người Do Thái đã thỏa thuận rằng nếu ai xưng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ thì bị khai trừ khỏi nhà hội.
23 Vì vậy, cha mẹ người mù mới nói: “Cháu đủ tuổi rồi, cứ hỏi nó.”
24 Một lần nữa, những người Pha-ri-si lại gọi người trước đây đã bị mù, và nói: “Hãy tôn vinh Đức Chúa Trời! Chúng tôi biết người nầy là kẻ có tội.”
25 Anh trả lời: “Tôi không biết ông ấy có phải là kẻ có tội hay không. Nhưng tôi chỉ biết một điều, ấy là trước tôi đã mù mà bây giờ thấy được.”
26 Họ lại hỏi: “Ông ta đã làm gì cho anh? Ông ta đã mở mắt anh ra sao?”
27 Anh đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không chịu nghe. Tại sao các ông lại muốn nghe nữa? Có phải các ông cũng muốn trở nên môn đồ của ông ấy không?”
28 Họ lăng mạ anh ta và nói: “Mầy mới là môn đồ của ông ấy, chứ chúng ta là môn đồ của Môi-se.
29 Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se, nhưng về người nầy thì chúng ta không biết từ đâu đến.”
30 Người mù trả lời: “Người đã mở mắt cho tôi mà các ông không biết từ đâu đến thì quả là một việc lạ.
31 Chúng ta biết Đức Chúa Trời không nghe những kẻ có tội, nhưng nếu ai kính sợ Ngài, và làm theo ý muốn Ngài thì Ngài nghe người ấy.
32 Từ xưa đến giờ, chưa hề nghe nói có ai mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.
33 Nếu người nầy không đến từ Đức Chúa Trời thì không thể làm được gì cả.”
34 Họ trả lời: “Cả con người của mầy vốn sinh ra trong tội lỗi mà còn muốn dạy chúng ta sao?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
35 Đức Chúa Jêsus nghe họ đã đuổi anh ta ra, nên khi gặp anh, Ngài hỏi: “Anh có tin Con Người không?”
36 Anh trả lời: “Thưa Chúa, người ấy là ai, để tôi có thể tin vào người?”
37 Đức Chúa Jêsus đáp: “Anh đã thấy người, và ấy là người đang nói với anh.”
38 Anh nói: “Thưa Chúa, tôi tin,” rồi thờ lạy Ngài.
39 Đức Chúa Jêsus nói: “Ta đến thế gian nầy để phán xét, khiến cho người mù được thấy, còn kẻ thấy lại hóa mù.”
40 Những người Pha-ri-si đang ở gần đó nghe vậy thì nói với Ngài: “Chúng tôi cũng mù cả sao?”
41 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu các ngươi mù thì không có tội gì, nhưng vì các ngươi nói: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ngươi vẫn còn.”
1 “Thật, Ta bảo thật các ngươi, người nào không do cửa mà vào chuồng chiên, lại trèo vào bằng lối khác thì người ấy là kẻ trộm cướp.
2 Nhưng ai do cửa mà vào là người chăn chiên.
3 Người canh gác mở cửa và chiên nghe tiếng người chăn. Người chăn gọi tên chiên mình và dẫn ra ngoài.
4 Khi đã đem chiên ra hết thì người chăn đi trước, chiên theo sau vì chiên quen tiếng người chăn.
5 Chiên không theo người lạ, trái lại, chúng bỏ chạy vì chiên không quen tiếng người lạ.”
6 Đức Chúa Jêsus kể ẩn dụ nầy cho họ, nhưng họ không hiểu Ngài muốn nói gì.
7 Vì vậy, Đức Chúa Jêsus lại nói: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, Ta là cửa của chiên.
8 Tất cả những người đến trước Ta đều là quân trộm cướp, nhưng chiên không nghe chúng.
9 Ta là cái cửa, nếu ai do Ta mà vào thì sẽ được cứu rỗi. Họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.
10 Kẻ trộm chỉ đến để cướp, giết, và hủy diệt; còn Ta đã đến để chiên được sự sống và sự sống sung mãn.
11 Ta là người chăn nhân lành, người chăn nhân lành vì bầy chiên hi sinh mạng sống mình.
12 Kẻ chăn thuê không phải là người chăn; chiên không thuộc về nó nên khi thấy muông sói đến, nó bỏ chiên chạy trốn. Muông sói vồ lấy chiên và làm cho tan lạc.
13 Vì là kẻ chăn thuê nên nó không quan tâm gì đến chiên.
14 Ta là người chăn nhân lành. Ta biết chiên Ta, và chiên Ta biết Ta;
15 cũng như Cha biết Ta, và Ta biết Cha vậy. Ta vì bầy chiên mà hi sinh mạng sống mình.
16 Ta còn có những chiên khác không thuộc về chuồng nầy; Ta cần phải đem chúng về nữa. Chiên ấy sẽ nghe tiếng Ta, rồi sẽ chỉ có một bầy và một người chăn mà thôi.
17 Sở dĩ Cha yêu thương Ta, là vì Ta hi sinh mạng sống mình để được nhận lại.
18 Không ai cất mạng sống Ta đi được, nhưng Ta tự nguyện hi sinh. Ta có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại. Ta đã nhận mệnh lệnh nầy từ nơi Cha Ta.”
19 Vì những lời nầy, những người Do Thái lại có sự chia rẽ.
20 Nhiều người trong số họ nói: “Ông ta bị quỷ ám, ông ta điên; sao còn nghe ông ta làm gì?”
21 Một số khác thì nói: “Đây không phải là những lời nói của một người bị quỷ ám. Làm sao quỷ có thể mở mắt cho người mù?”
22 Khi ấy tại thành Giê-ru-sa-lem có lễ kỷ niệm Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông,
23 Đức Chúa Jêsus đang đi trong khuôn viên đền thờ, dưới hành lang Sa-lô-môn thì
24 những người Do Thái vây quanh Ngài và hỏi: “Thầy để chúng tôi phải chờ đợi đến bao giờ? Nếu Thầy là Đấng Christ thì hãy nói rõ cho chúng tôi đi.”
25 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta đã nói cho các ngươi rồi nhưng các ngươi không tin; những việc Ta thực hiện trong danh Cha đều làm chứng cho Ta.
26 Nhưng các ngươi không tin, vì các ngươi không phải là chiên của Ta.
27 Chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta.
28 Ta ban cho chúng sự sống đời đời, chúng chẳng hư mất bao giờ, và chẳng ai cướp được chúng khỏi tay Ta.
29 Cha Ta, Đấng vĩ đại hơn tất cả, đã cho Ta những chiên ấy, và chẳng ai cướp được chúng khỏi tay Cha.
30 Ta với Cha là một.”
31 Những người Do Thái lại nhặt đá để ném Ngài.
32 Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Ta đã bày tỏ cho các ngươi nhiều việc tốt đẹp từ Cha. Vậy, vì cớ gì mà các ngươi ném đá Ta?”
33 Những người Do Thái đáp: “Chúng tôi không ném đá ông vì một việc tốt đẹp, nhưng vì lời phạm thượng; bởi ông là con người mà tự cho mình là Đức Chúa Trời.”
34 Đức Chúa Jêsus trả lời: “Chẳng phải trong luật pháp của các ngươi có chép: ‘Ta đã nói các ngươi là thần,’ hay sao?
35 Nếu luật pháp gọi những người nhận được lời của Đức Chúa Trời là thần, và lời Kinh Thánh không thể hủy bỏ được
36 thì Ta đây, Đấng được Cha biệt ra thánh và sai đến thế gian, tại sao các ngươi lại bảo Ta phạm thượng, khi Ta nói: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời’?
37 Nếu Ta không làm những công việc của Cha Ta thì các người đừng tin Ta.
38 Còn nếu Ta làm thì dù các ngươi không tin Ta, hãy tin các công việc của Ta, để các ngươi có thể biết và hiểu rằng Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha.”
39 Họ lại tìm cách bắt Ngài, nhưng Ngài thoát khỏi tay họ.
40 Đức Chúa Jêsus lại đi qua bên kia sông Giô-đanh, đến nơi Giăng đã làm báp-têm đầu tiên, và ở lại đó.
41 Nhiều người đến với Ngài. Họ nói rằng: “Giăng không làm dấu lạ nào, nhưng tất cả những điều Giăng nói về người nầy đều là thật.”
42 Tại đó có nhiều người tin Ngài.
1 Có một người bệnh tên là La-xa-rơ, quê ở Bê-tha-ni, làng của Ma-ri và chị là Ma-thê.
2 Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa và dùng tóc mình lau chân Ngài; chính anh cô là La-xa-rơ đang bị bệnh.
3 Vậy, hai chị em sai người đến thưa với Đức Chúa Jêsus rằng: “Thưa Chúa, người Chúa yêu thương đang bệnh.”
4 Nhưng khi Đức Chúa Jêsus nghe điều nầy thì nói rằng: “Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu, nhưng ấy là vì vinh quang của Đức Chúa Trời, để Con Đức Chúa Trời nhờ đó được tôn vinh.”
5 Đức Chúa Jêsus yêu thương Ma-thê, em gái cô ấy, và La-xa-rơ.
6 Tuy nhiên, khi nghe La-xa-rơ bệnh thì Ngài ở nán lại hai ngày nữa tại nơi Ngài đang ở.
7 Sau đó, Ngài bảo các môn đồ: “Chúng ta hãy trở về miền Giu-đê.”
8 Các môn đồ thưa rằng: “Thưa Thầy, người Do Thái đang tìm ném đá Thầy mà sao bây giờ Thầy còn trở lại nơi ấy?”
9 Đức Chúa Jêsus đáp: “Không phải mỗi ngày có mười hai giờ sao? Nếu ai đi trong ban ngày thì không vấp, vì thấy ánh sáng của thế giới nầy.
10 Nhưng nếu ai đi trong ban đêm thì bị vấp, vì không có ánh sáng.”
11 Sau khi nói điều nầy, Đức Chúa Jêsus lại bảo: “La-xa-rơ, bạn của chúng ta, đang ngủ nhưng Ta đi đánh thức anh ấy.”
12 Các môn đồ thưa: “Thưa Chúa, nếu anh ấy ngủ, chắc sẽ khỏi bệnh.”
13 Đức Chúa Jêsus nói về sự chết của La-xa-rơ, nhưng các môn đồ lại tưởng Ngài nói về giấc ngủ bình thường.
14 Vì thế, Đức Chúa Jêsus nói rõ ràng với họ: “La-xa-rơ đã chết rồi.
15 Nhưng vì các con, Ta mừng bởi không có Ta tại đó để các con tin. Bây giờ, chúng ta hãy đi đến với anh ấy.”
16 Do đó, Thô-ma gọi là Đi-đim nói với các môn đồ khác rằng: “Chúng ta hãy đi đến đó cùng chết với Ngài.”
17 Khi đến nơi, Đức Chúa Jêsus thấy La-xa-rơ đã được chôn trong mộ bốn ngày rồi.
18 Làng Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem khoảng ba ki-lô-mét,
19 nên có nhiều người Do Thái đến an ủi Ma-thê và Ma-ri về anh của họ.
20 Khi Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến thì đi đón Ngài, còn Ma-ri vẫn ngồi ở nhà.
21 Ma-thê thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thưa Chúa, nếu Chúa có ở đây thì anh con không chết.
22 Nhưng con biết, ngay cả bây giờ, bất cứ điều gì Thầy xin Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ ban cho Thầy.”
23 Đức Chúa Jêsus nói: “Anh con sẽ sống lại.”
24 Ma-thê thưa: “Con biết rằng anh con sẽ sống lại trong kỳ phục sinh vào ngày cuối cùng.”
25 Đức Chúa Jêsus nói với Ma-thê: “Ta là sự sống lại và sự sống. Người nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dù đã chết rồi.
26 Còn ai sống mà tin Ta thì sẽ không bao giờ chết. Con tin điều đó không?”
27 Ma-thê đáp: “Vâng, thưa Chúa, con tin rằng Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng phải đến thế gian.”
28 Nói xong, Ma-thê đi về, gọi riêng em gái là Ma-ri và nói: “Thầy đã ở đây rồi, và cho gọi em đó.”
29 Khi nghe điều nầy, Ma-ri vội vàng đứng dậy đến gặp Ngài.
30 Lúc ấy, Đức Chúa Jêsus chưa vào làng mà vẫn còn đứng tại nơi Ma-thê đã đón Ngài.
31 Khi những người Do Thái đang ở trong nhà với Ma-ri, để an ủi cô, thấy cô vội vàng đứng dậy đi ra thì đi theo, vì nghĩ rằng cô đi đến mộ để khóc.
32 Khi đến chỗ Đức Chúa Jêsus, vừa thấy Ngài thì Ma-ri phủ phục dưới chân Ngài và nói: “Thưa Chúa, nếu có Chúa ở đây thì anh con không chết.”
33 Đức Chúa Jêsus thấy Ma-ri khóc, và những người Do Thái đi với cô cũng khóc, thì trong lòng bồi hồi, xúc động và hỏi: “Các con đã chôn anh ấy ở đâu?”
34 Họ đáp: “Thưa Chúa, xin hãy đến xem.”
35 Đức Chúa Jêsus khóc.
36 Vì vậy, những người Do Thái nói: “Xem kìa, ông ấy yêu thương La-xa-rơ biết chừng nào!”
37 Nhưng vài người trong số họ nói: “Ông ấy đã mở mắt người mù, lại không thể làm cho người nầy khỏi chết sao?”
38 Đức Chúa Jêsus lại xúc động hơn nữa, liền đi đến phần mộ. Đó là một cái hang có một tảng đá chận lại.
39 Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy dời tảng đá đi.” Ma-thê, em gái của người quá cố, thưa rằng: “Thưa Chúa, đã có mùi, vì anh ấy nằm ở đây đã bốn ngày rồi.”
40 Đức Chúa Jêsus lại bảo: “Ta đã chẳng nói với con rằng, nếu con tin thì sẽ thấy vinh quang của Đức Chúa Trời sao?”
41 Vậy, họ dời tảng đá đi. Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên và nói: “Thưa Cha, Con tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời Con.
42 Con biết Cha luôn nhậm lời Con, nhưng Con nói điều nầy vì những người đang đứng quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con đến.”
43 Nói xong, Ngài kêu lớn: “Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!”
44 Người chết đi ra, chân tay buộc vải liệm, mặt phủ một tấm khăn. Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy mở cho anh ấy, và để anh ấy đi.”
45 Nhiều người Do Thái đến thăm Ma-ri, thấy điều Đức Chúa Jêsus làm thì tin Ngài.
46 Nhưng có vài người trong số đó đi đến với người Pha-ri-si, kể cho họ những gì Đức Chúa Jêsus đã làm.
47 Vì vậy, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si họp Hội đồng Công luận, và nói rằng: “Chúng ta phải làm gì đây? Người nầy thực hiện quá nhiều dấu lạ.
48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục như thế nầy thì tất cả sẽ tin ông ta, rồi người Rô-ma sẽ đến đánh chiếm cả nơi nầy lẫn đất nước chúng ta.”
49 Nhưng một người trong số họ là Cai-phe, thầy tế lễ thượng phẩm trong năm ấy, nói với họ: “Các ông chẳng biết gì cả!
50 Các ông không hiểu rằng, thà để một người chết thay cho dân, còn hơn cả dân tộc phải bị hủy diệt.”
51 Ông ta không tự nói điều đó, nhưng vì là thầy tế lễ thượng phẩm trong năm ấy, nên ông ta nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân chịu chết,
52 không phải chỉ vì dân tộc nầy mà thôi, nhưng cũng để quy tụ những con cái của Đức Chúa Trời bị tan lạc lại làm một.
53 Từ ngày ấy, họ lập mưu để giết Ngài.
54 Vì thế, Đức Chúa Jêsus không đi lại một cách công khai giữa những người Do Thái, nhưng đi trong vùng gần hoang mạc, đến một thành gọi là Ép-ra-im và ở lại đó với các môn đồ.
55 Lễ Vượt Qua của dân Do Thái gần đến, nhiều người từ các vùng quê đi lên thành Giê-ru-sa-lem để thanh tẩy trước kỳ lễ.
56 Bấy giờ, họ tìm Đức Chúa Jêsus và đứng bàn tán với nhau trong đền thờ: “Anh em nghĩ thế nào? Ông ấy không đến dự lễ sao?”
57 Còn các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si ra lệnh: nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu thì phải báo cho họ biết, để họ bắt Ngài.
1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus đến làng Bê-tha-ni là nơi ở của La-xa-rơ, người mà Ngài đã khiến từ cõi chết sống lại.
2 Họ dọn tiệc đãi Ngài tại đó. Ma-thê phục vụ, còn La-xa-rơ là một trong số những người cùng ngồi bàn với Ngài.
3 Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng nguyên chất rất quý giá xức chân Đức Chúa Jêsus, rồi dùng tóc mình lau chân Ngài. Mùi dầu thơm tỏa khắp nhà.
4 Nhưng một trong các môn đồ của Đức Chúa Jêsus là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, kẻ sau nầy phản Ngài, nói rằng:
5 “Sao không bán dầu thơm nầy lấy ba trăm đơ-ni-ê để cho người nghèo?”
6 Anh ta nói vậy không phải vì quan tâm đến người nghèo, nhưng vì vốn là một tên trộm cắp, lại giữ túi tiền, nên anh ta thường lấy trộm tiền mà người ta bỏ vào đó.
7 Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy để cô ấy yên, vì cô ấy đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn cất Ta.
8 Các con luôn có người nghèo ở với mình, nhưng các con không có Ta mãi đâu.”
9 Một đám đông người Do Thái biết Đức Chúa Jêsus ở đó thì kéo đến, không phải chỉ vì Ngài mà thôi, nhưng cũng để xem La-xa-rơ, người mà Ngài đã khiến từ cõi chết sống lại.
10 Cho nên các thầy tế lễ cả cũng định giết luôn La-xa-rơ nữa,
11 vì do anh mà nhiều người Do Thái đã bỏ họ và tin Đức Chúa Jêsus.
12 Hôm sau, có đoàn người rất đông đến dự lễ. Khi nghe nói Đức Chúa Jêsus đang đến thành Giê-ru-sa-lem
13 thì họ lấy cành cọ, đi ra đón Ngài và tung hô rằng: “Hô-sa-na! Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên.”
14 Đức Chúa Jêsus gặp một con lừa con thì cưỡi lên, như lời đã chép:
15 “Hỡi con gái Si-ôn, đừng sợ! Kìa, vua ngươi đến, cưỡi trên lừa con!”
16 Thoạt đầu, các môn đồ không hiểu những điều đó, nhưng khi Đức Chúa Jêsus đã được tôn vinh, lúc ấy họ mới nhớ lại những điều đó được chép về Ngài, và đã được thực hiện cho Ngài.
17 Đoàn người đã ở với Đức Chúa Jêsus lúc Ngài gọi La-xa-rơ ra khỏi mộ, và khiến anh ấy từ cõi chết sống lại, đều làm chứng về Ngài.
18 Sở dĩ đoàn người đi đón Ngài, là vì họ đã nghe nói Ngài thực hiện dấu lạ đó.
19 Vì thế, những người Pha-ri-si nói với nhau: “Các ông thấy không, các ông chẳng làm gì được cả. Hãy xem, cả thiên hạ đều theo ông ta.”
20 Lúc ấy, trong số những người đi lên thờ phượng vào dịp lễ có vài người Hi Lạp.
21 Những người nầy đến với Phi-líp, người ở thành Bết-sai-đa thuộc miền Ga-li-lê, và nói rằng: “Thưa ông, chúng tôi muốn gặp Đức Chúa Jêsus.”
22 Phi-líp đi nói với Anh-rê; rồi Anh-rê cùng Phi-líp đến thưa với Đức Chúa Jêsus.
23 Đức Chúa Jêsus đáp: “Giờ Con Người được tôn vinh đã đến.
24 Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn chỉ là một hạt thôi; nhưng nếu chết đi, nó được kết quả nhiều.
25 Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.
26 Nếu ai phục vụ Ta thì phải theo Ta; và Ta ở đâu, người phục vụ Ta cũng sẽ ở đó. Nếu ai phục vụ Ta thì Cha Ta sẽ tôn quý người.
27 Bây giờ linh hồn Ta phiền não. Ta sẽ nói gì đây? ‘Cha ơi, xin cứu Con khỏi giờ nầy! Nhưng cũng chính vì giờ nầy mà Con đã đến.
28 Cha ơi, xin hãy tôn vinh danh Cha!’” Lúc ấy có tiếng từ trời phán rằng: “Ta đã tôn vinh rồi, Ta sẽ còn tôn vinh nữa.”
29 Đoàn người đứng tại đó nghe được tiếng ấy thì nói: “Đó là tiếng sấm”. Một số khác lại bảo: “Ấy là một thiên sứ nói chuyện với Ngài.”
30 Đức Chúa Jêsus nói: “Không phải vì Ta mà tiếng nầy vang ra đâu, nhưng vì các ngươi.
31 Bây giờ là lúc thế gian bị phán xét, và kẻ cai trị thế gian nầy sẽ bị truất phế.
32 Còn Ta, khi Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta.”
33 Ngài nói vậy để chỉ cho thấy Ngài sẽ chết cách nào.
34 Đoàn dân thưa rằng: “Chúng tôi có nghe luật pháp nói Đấng Christ còn đời đời. Thế sao Thầy nói Con Người phải được treo lên? Vậy Con Người nầy là ai?”
35 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ánh sáng còn ở với các ngươi ít lâu nữa. Hãy bước đi trong lúc các ngươi còn có ánh sáng, e bóng tối thình lình phủ vây các ngươi. Người nào đi trong bóng tối thì không biết mình đi đâu.
36 Trong lúc đang có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng để các ngươi trở nên con của ánh sáng.” Sau khi nói như vậy, Đức Chúa Jêsus đi, và tránh khỏi họ.
37 Mặc dù Ngài đã làm rất nhiều dấu lạ trước mặt họ, nhưng họ vẫn không tin Ngài,
38 để lời nhà tiên tri Ê-sai đã nói được ứng nghiệm: “Lạy Chúa, ai đã tin điều chúng tôi rao giảng, Và cánh tay Chúa đã được tỏ ra cho ai?”
39 Do đó, họ không thể tin, vì Ê-sai còn nói:
40 “Chúa đã khiến mắt họ đui mù, Lòng họ chai đá, Kẻo mắt họ thấy được, Lòng họ hiểu được và hối cải, Để Ta chữa lành cho.”
41 Ê-sai nói điều nầy, vì đã thấy vinh quang của Ngài và nói về Ngài.
42 Tuy nhiên, có nhiều người trong hàng lãnh đạo tin Ngài, nhưng vì người Pha-ri-si, nên họ không dám xưng nhận Ngài, sợ bị đuổi khỏi nhà hội.
43 Vì họ quý chuộng vinh quang của loài người hơn là vinh quang của Đức Chúa Trời.
44 Đức Chúa Jêsus công bố rằng: “Người nào tin Ta, không phải chỉ tin Ta, nhưng tin Đấng đã sai Ta.
45 Còn người nào thấy Ta là thấy Đấng đã sai Ta.
46 Ta là ánh sáng đã đến thế gian, để người nào tin Ta thì không còn ở trong bóng tối.
47 Nếu người nào nghe lời Ta mà không vâng giữ thì không phải Ta phán xét người đó. Vì Ta đến không phải để phán xét thế gian, nhưng để cứu chuộc thế gian.
48 Người nào chối bỏ Ta, không chịu tiếp nhận lời Ta, thì đã có một quan tòa xét xử; chính lời Ta đã nói sẽ xét xử họ trong ngày cuối cùng.
49 Ta không nói theo ý riêng mình, nhưng chính Cha là Đấng đã sai Ta truyền cho Ta phải nói điều chi và công bố điều gì.
50 Ta biết rằng mệnh lệnh của Ngài là sự sống đời đời. Vì vậy, những điều Ta nói thì Ta nói đúng như Cha đã truyền dặn.”
1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ Ngài phải rời thế gian nầy để trở về với Cha đã đến. Ngài đã yêu thương những người thuộc về mình trong thế gian thì cứ yêu thương cho đến cuối cùng.
2 Đang bữa ăn tối, ma quỷ gieo ý định phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con của Si-môn.
3 Đức Chúa Jêsus biết rằng Cha đã giao mọi sự trong tay Ngài, và Ngài từ Đức Chúa Trời đến, cũng sắp về với Đức Chúa Trời,
4 nên đứng dậy khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn quấn ngang lưng,
5 rồi Ngài đổ nước vào chậu, và bắt đầu rửa chân cho các môn đồ. Ngài cũng lấy khăn đã quấn ngang lưng mà lau chân cho họ.
6 Khi Ngài đến với Si-môn Phi-e-rơ thì ông nói: “Thưa Chúa, Chúa mà lại rửa chân cho con sao?”
7 Đức Chúa Jêsus đáp: “Bây giờ, con chưa hiểu việc Ta làm, nhưng về sau sẽ hiểu.”
8 Phi-e-rơ thưa: “Con sẽ không bao giờ để Chúa rửa chân cho con đâu!” Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta không rửa chân cho con thì con không có phần gì nơi Ta cả.”
9 Phi-e-rơ nói: “Thưa Chúa, không phải chỉ rửa chân thôi, mà luôn cả tay và đầu con nữa!”
10 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ai đã tắm rồi, chỉ cần rửa chân thì sạch tất cả. Các con đã được sạch rồi, nhưng không phải tất cả.”
11 Vì biết ai là kẻ sẽ phản Ngài nên Ngài mới nói: “Không phải tất cả các con đều tinh sạch.”
12 Sau khi đã rửa chân cho các môn đồ, Ngài mặc áo lại, rồi ngồi vào bàn và nói: “Các con có hiểu điều Ta đã làm cho các con không?
13 Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa. Các con nói rất đúng, vì Ta thật như vậy.
14 Nhưng nếu Ta là Thầy, là Chúa, mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
15 Vì Ta đã làm gương cho các con, để các con cũng làm như Ta đã làm cho các con.
16 Thật, Ta bảo thật các con: Đầy tớ không lớn hơn chủ, sứ giả không lớn hơn người sai phái mình.
17 Nếu các con biết những điều nầy và làm theo thì được phước.
18 Ta không nói về tất cả các con, Ta biết những người Ta đã chọn. Nhưng lời Kinh Thánh nầy phải được ứng nghiệm: ‘Kẻ ăn bánh của Ta, trở gót chống lại Ta.’
19 Bây giờ, Ta nói điều nầy với các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra thì các con tin rằng Ta là Đấng Hằng Hữu.
20 Thật, Ta bảo thật các con, ai tiếp người Ta sai đến tức là tiếp Ta; còn ai tiếp Ta tức là tiếp Đấng đã sai Ta đến.”
21 Khi Đức Chúa Jêsus đã nói như vậy rồi, thì Ngài xúc động trong tâm linh và khẳng định rằng: “Thật, Ta bảo thật các con, một người trong các con sẽ phản Ta.”
22 Các môn đồ nhìn nhau, không rõ Ngài nói về ai.
23 Một trong các môn đồ, là người được Đức Chúa Jêsus yêu thương, đang tựa vào lòng Đức Chúa Jêsus.
24 Si-môn Phi-e-rơ ra hiệu cho môn đồ ấy hỏi xem Thầy muốn nói về ai.
25 Môn đồ nầy nghiêng mình trên ngực Đức Chúa Jêsus và hỏi: “Thưa Chúa, người ấy là ai?”
26 Đức Chúa Jêsus đáp: “Đó là người mà Ta sẽ trao miếng bánh Ta sắp nhúng đây.” Rồi Ngài nhúng một miếng bánh và trao cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con của Si-môn.
27 Sau khi Giu-đa nhận lấy miếng bánh thì Sa-tan vào lòng anh ta. Đức Chúa Jêsus bảo Giu-đa: “Việc con làm, hãy làm nhanh đi.”
28 Nhưng không một ai ngồi tại bàn biết vì sao Ngài nói với anh ta như vậy.
29 Một vài người nghĩ rằng, vì Giu-đa giữ túi tiền nên Đức Chúa Jêsus bảo anh ta đi mua những thứ cần dùng cho kỳ lễ, hoặc ban phát điều gì cho người nghèo.
30 Khi đã nhận miếng bánh rồi, Giu-đa liền đi ra. Lúc ấy trời đã tối.
31 Khi Giu-đa đi ra rồi, Đức Chúa Jêsus nói: “Bây giờ Con Người được tôn vinh, và Đức Chúa Trời được tôn vinh nơi Con Người.
32 Nếu Đức Chúa Trời được tôn vinh nơi Con Người thì Đức Chúa Trời cũng sẽ tôn vinh Con Người trong chính Ngài, và sẽ tôn vinh ngay.
33 Hỡi các con bé nhỏ, Ta không còn ở với các con bao lâu nữa. Các con sẽ tìm Ta, và như Ta đã nói với người Do Thái rằng: ‘Nơi Ta đi các ngươi không thể đến được’, thì bây giờ Ta cũng nói với các con như vậy.
34 Ta ban cho các con một điều răn mới, ấy là các con phải yêu thương nhau. Như Ta đã yêu thương các con thể nào thì các con cũng hãy yêu thương nhau thể ấy.
35 Nếu các con yêu thương nhau, thì bởi đó, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đồ Ta.”
36 Si-môn Phi-e-rơ thưa: “Thưa Chúa, Chúa đi đâu?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Nơi Ta đi, bây giờ con không thể theo được, nhưng sau nầy con sẽ theo.”
37 Phi-e-rơ thưa: “Thưa Chúa, vì sao bây giờ con không thể theo Chúa? Con sẽ hi sinh mạng sống con vì Chúa!”
38 Đức Chúa Jêsus đáp: “Con sẽ hi sinh mạng sống con vì Ta sao? Thật, Ta bảo thật với con: Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần!”
1 “Lòng các con đừng bối rối. Hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa.
2 Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; nếu không phải vậy, sao Ta lại nói với các con rằng Ta đi chuẩn bị cho các con một chỗ?
3 Khi Ta đi và đã chuẩn bị chỗ cho các con rồi, Ta sẽ trở lại đem các con đi với Ta, để Ta ở đâu thì các con cũng ở đó.
4 Các con biết Ta đi đâu, và biết đường đi nữa.”
5 Thô-ma nói: “Thưa Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, làm sao biết đường được?”
6 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai được đến với Cha.
7 Nếu các con biết Ta thì cũng biết Cha Ta; từ bây giờ các con biết và đã thấy Ngài.”
8 Phi-líp thưa rằng: “Thưa Chúa, xin chỉ Cha cho chúng con thì đủ rồi.”
9 Đức Chúa Jêsus đáp: “Phi-líp ơi, Ta đã ở với các con lâu rồi, mà các con chưa biết Ta! Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha. Tại sao con lại nói: ‘Xin chỉ Cha cho chúng con’?
10 Có phải con không tin rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta chăng? Những lời Ta nói với các con không phải Ta tự nói, nhưng chính Cha là Đấng ở trong Ta đang làm những việc của Ngài.
11 Khi Ta nói Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta thì hãy tin Ta; bằng không, hãy tin qua chính các công việc Ta làm.
12 Thật, Ta bảo thật các con, người nào tin Ta cũng sẽ làm những việc Ta làm, và sẽ làm những việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về với Cha.
13 Các con nhân danh Ta cầu xin bất cứ điều gì, Ta sẽ làm cho, để Cha được tôn vinh nơi Con.
14 Nếu các con nhân danh Ta cầu xin bất cứ điều gì, Ta sẽ làm cho.”
15 “Nếu các con yêu mến Ta thì sẽ vâng giữ các điều răn Ta.
16 Ta sẽ cầu xin Cha, Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác để ở với các con đời đời,
17 tức là Thần Chân Lý mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì không thấy và không biết Ngài. Nhưng các con biết Ngài vì Ngài đang ở với các con, và sẽ ở trong các con.
18 Ta không để các con mồ côi đâu, Ta sẽ đến với các con.
19 Không bao lâu, thế gian sẽ chẳng còn thấy Ta nữa, nhưng các con sẽ thấy Ta. Vì Ta sống thì các con cũng sẽ sống.
20 Trong ngày đó, các con sẽ biết rằng Ta ở trong Cha Ta; các con ở trong Ta, và Ta ở trong các con.
21 Ai có các điều răn của Ta và vâng giữ, ấy là người yêu mến Ta. Người nào yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu thương, Ta cũng sẽ yêu thương người, và bày tỏ chính Ta cho người.”
22 Giu-đa, không phải là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, thưa rằng: “Thưa Chúa, vì sao Chúa sẽ bày tỏ chính mình cho chúng con mà không bày tỏ cho thế gian?”
23 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu ai yêu mến Ta thì sẽ vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta sẽ đến cùng người và ở với người.
24 Ai không yêu mến Ta thì không vâng giữ các lời Ta. Những lời các con nghe không phải là lời của Ta, nhưng của Cha là Đấng đã sai Ta đến.
25 Ta đã nói những điều nầy cho các con trong lúc Ta còn ở với các con.
26 Nhưng Đấng An Ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh Ta sai đến, Ngài sẽ dạy dỗ các con mọi điều, và nhắc các con nhớ tất cả những gì Ta đã phán với các con.
27 Ta để sự bình an lại cho các con. Ta ban sự bình an của Ta cho các con. Sự bình an Ta cho các con không giống như thế gian cho. Lòng các con chớ bối rối và đừng sợ hãi.
28 Các con đã nghe Ta nói: ‘Ta đi, và Ta sẽ trở lại với các con.’ Nếu các con yêu mến Ta thì nên vui mừng vì Ta đi về với Cha, bởi Cha cao trọng hơn Ta.
29 Bây giờ Ta nói điều nầy cho các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra thì các con sẽ tin.
30 Ta sẽ không còn nói nhiều với các con nữa, vì kẻ cai trị thế gian nầy đang đến. Nó chẳng có quyền hành gì trên Ta,
31 nhưng Ta làm theo điều Cha đã truyền bảo, để thế gian biết rằng Ta yêu mến Cha. Hãy đứng dậy, chúng ta phải đi khỏi đây.”
1 “Ta là cây nho thật, Cha Ta là người trồng nho.
2 Bất cứ cành nào trong Ta không kết quả thì Ngài chặt đi, còn những cành nào kết quả thì Ngài tỉa sửa để được nhiều quả hơn.
3 Các con đã được tinh sạch nhờ lời Ta đã truyền dạy các con.
4 Hãy cứ ở trong Ta thì Ta sẽ ở trong các con. Như cành nho, nếu không ở trong cây nho thì tự nó không thể ra quả được. Nếu các con không cứ ở trong Ta thì cũng như vậy.
5 Ta là cây nho, các con là cành. Ai cứ ở trong Ta, và Ta trong người ấy thì sinh ra nhiều quả, vì ngoài Ta các con không làm gì được.
6 Nếu ai không cứ ở trong Ta thì bị ném ra ngoài như cành nho và bị héo, người ta nhặt lấy, ném vào lửa thì nó cháy.
7 Nếu các con cứ ở trong Ta và lời Ta cứ ở trong các con, hãy cầu xin bất cứ điều gì mình muốn, các con sẽ nhận được điều đó.
8 Bởi điều nầy Cha Ta được tôn vinh, ấy là các con kết quả nhiều và trở nên môn đồ Ta.
9 Như Cha đã yêu thương Ta thể nào, Ta cũng yêu thương các con thể ấy. Hãy cứ ở trong tình yêu thương của Ta.
10 Nếu các con vâng giữ các điều răn của Ta thì sẽ ở trong tình yêu thương của Ta, cũng như Ta đã vâng giữ các điều răn của Cha Ta và cứ ở trong tình yêu thương của Ngài.
11 Ta nói với các con những điều nầy để niềm vui của Ta ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn.
12 Đây là điều răn của Ta: Các con hãy yêu thương nhau, như Ta đã yêu thương các con.
13 Không có tình yêu thương nào lớn hơn tình yêu thương vì bạn hữu mà hi sinh mạng sống mình.
14 Nếu các con làm theo điều Ta truyền dạy thì các con là bạn hữu Ta.
15 Ta không còn gọi các con là đầy tớ nữa, vì đầy tớ không biết điều chủ làm. Nhưng Ta gọi các con là bạn hữu, vì Ta đã bày tỏ cho các con biết tất cả những gì Ta đã nghe nơi Cha Ta.
16 Không phải các con đã chọn Ta, nhưng Ta đã chọn và bổ nhiệm các con, để các con đi, được kết quả, và quả của các con cứ còn mãi; để bất cứ điều gì các con nhân danh Ta cầu xin Cha thì Ngài ban cho các con.
17 Ta truyền dạy điều nầy cho các con để các con yêu thương nhau.
18 Nếu thế gian ghét các con thì hãy biết rằng thế gian đã ghét Ta trước các con.
19 Nếu các con thuộc về thế gian thì thế gian hẳn yêu thương những người thuộc về mình. Nhưng vì các con không thuộc về thế gian, và Ta đã lựa chọn các con từ giữa thế gian, nên thế gian ghét các con.
20 Hãy nhớ lời Ta đã nói với các con: ‘Đầy tớ không hơn chủ.’ Nếu họ bắt bớ Ta, họ cũng sẽ bắt bớ các con. Nếu họ vâng giữ lời Ta, họ cũng sẽ vâng giữ lời các con.
21 Nhưng vì danh Ta, họ sẽ làm mọi điều đó cho các con, vì họ không biết Đấng đã sai Ta đến.
22 Nếu Ta không đến và không nói với họ thì họ không có tội gì. Nhưng bây giờ họ không thể bào chữa cho tội của mình được.
23 Ai ghét Ta thì cũng ghét Cha Ta nữa.
24 Nếu Ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người nào làm thì họ không có tội. Nhưng bây giờ họ đã thấy mà lại ghét cả Ta lẫn Cha Ta.
25 Như vậy lời đã chép trong luật pháp của họ được ứng nghiệm: ‘Chúng ghét Ta vô cớ.’
26 Nhưng khi Đấng An Ủi đến, là Đấng mà Ta sẽ từ Cha sai đến với các con, tức là Thần Chân Lý ra từ Cha, chính Ngài sẽ làm chứng về Ta.
27 Các con cũng làm chứng về Ta, vì các con đã ở với Ta từ lúc ban đầu.”
1 “Ta đã bảo các con những điều nầy để các con khỏi bị vấp ngã.
2 Họ sẽ khai trừ các con khỏi nhà hội; và sẽ đến giờ mà kẻ nào giết các con lại tưởng rằng mình đang phục vụ Đức Chúa Trời.
3 Họ sẽ làm những điều nầy vì họ không biết Cha, cũng không biết Ta nữa.
4 Nhưng Ta đã nói những điều nầy cho các con để khi đến giờ của họ, các con nhớ lại rằng Ta đã nói cho các con rồi. Ta không nói điều nầy với các con ngay từ đầu, vì Ta đang ở với các con.
5 Nhưng bây giờ Ta sắp về với Đấng đã sai Ta đến, và không ai trong các con hỏi Ta: ‘Thầy đi đâu?’
6 Nhưng vì Ta đã nói những điều nầy cho các con nên lòng các con đầy đau buồn.
7 Dù vậy, Ta nói thật với các con: Ta đi là ích lợi cho các con. Vì nếu Ta không đi thì Đấng An Ủi sẽ không đến với các con. Nhưng nếu Ta đi, Ta sẽ sai Ngài đến.
8 Khi Ngài đến, Ngài sẽ cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công chính và về sự phán xét.
9 Về tội lỗi, vì họ không tin Ta;
10 về sự công chính, vì Ta đi đến với Cha, và các con không còn thấy Ta nữa;
11 về sự phán xét, vì kẻ cai trị thế gian nầy đã bị phán xét.
12 Ta còn nhiều điều để nói với các con, nhưng bây giờ các con không thể hiểu nổi.
13 Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ dẫn các con vào mọi chân lý; vì Ngài không tự mình nói, nhưng sẽ nói những gì mình nghe, và công bố cho các con những gì sẽ đến.
14 Ngài sẽ tôn vinh Ta, vì Ngài sẽ lấy những gì thuộc về Ta mà công bố cho các con.
15 Tất cả những gì Cha có là của Ta, vậy nên Ta nói rằng Ngài sẽ lấy những gì thuộc về Ta mà công bố cho các con.”
16 “Ít lâu nữa, các con sẽ không còn thấy Ta, và rồi ít lâu sau, các con sẽ lại thấy Ta.”
17 Vì vậy, vài môn đồ Ngài nói với nhau rằng: “Thầy bảo chúng ta: ‘Ít lâu nữa, các con sẽ không còn thấy Ta, và rồi, ít lâu sau các con sẽ lại thấy Ta, vì Ta về với Cha.’ Điều nầy có nghĩa gì?”
18 Họ nói: “‘Ít lâu’ có nghĩa gì? Chúng ta không hiểu Ngài muốn nói gì.”
19 Đức Chúa Jêsus biết các môn đồ muốn hỏi Ngài nên nói rằng: “Có phải các con đang hỏi nhau về câu nói: ‘Ít lâu nữa, các con sẽ không còn thấy Ta, và rồi ít lâu sau, các con sẽ thấy Ta’, có nghĩa là gì phải không?
20 Thật, Ta bảo thật các con, các con sẽ khóc lóc, than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Các con sẽ đau buồn, nhưng sự đau buồn của các con sẽ trở thành vui mừng.
21 Người phụ nữ lúc sinh nở thì đau đớn, vì đã đến giờ của mình, nhưng khi đứa trẻ chào đời thì người ấy không còn nhớ đến sự đau đớn nữa, mà vui mừng vì một người đã được sinh ra trong thế gian.
22 Cũng vậy, bây giờ các con đau buồn, nhưng Ta sẽ gặp lại các con thì lòng các con vui mừng, và không ai có thể đoạt lấy niềm vui của các con.
23 Trong ngày đó, các con sẽ không hỏi Ta điều gì nữa. Thật, Ta bảo thật các con, bất cứ điều gì các con cầu xin Cha thì Ngài sẽ nhân danh Ta ban cho các con.
24 Đến bây giờ, các con chưa từng nhân danh Ta cầu xin điều gì. Hãy cầu xin đi, các con sẽ nhận được, để niềm vui của các con được trọn vẹn.
25 Ta đã dùng ẩn dụ để nói những điều nầy cho các con. Nhưng giờ đến, Ta không còn dùng ẩn dụ để nói với các con nữa, nhưng sẽ nói về Cha cho các con một cách rõ ràng.
26 Trong ngày ấy, các con sẽ nhân danh Ta mà cầu xin. Ta không nói rằng Ta sẽ vì các con mà cầu xin Cha đâu;
27 vì chính Cha yêu thương các con, bởi các con đã yêu mến Ta và tin rằng Ta từ Đức Chúa Trời đến.
28 Ta đã từ Cha đến thế gian, và Ta lại rời thế gian để về với Cha.”
29 Các môn đồ thưa rằng: “Bây giờ Thầy nói rõ ràng, không dùng ẩn dụ nữa.
30 Bây giờ chúng con biết rằng Thầy biết tất cả, không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin rằng Thầy đến từ Đức Chúa Trời.”
31 Đức Chúa Jêsus đáp: “Bây giờ các con tin không?
32 Nầy giờ đến và đã đến rồi, khi các con sẽ tan lạc, ai đi đường nấy, bỏ Ta lại một mình. Nhưng Ta không ở một mình, vì Cha ở với Ta.
33 Ta đã bảo các con những điều nầy, để các con có sự bình an trong Ta. Các con sẽ có hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi.”
1 Khi phán những lời nầy xong, Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên trời và thưa rằng: “Cha ơi! Giờ đã đến, xin tôn vinh Con, để Con cũng tôn vinh Cha.
2 Vì Cha đã ban cho Con thẩm quyền trên mọi loài xác thịt, để ban sự sống đời đời cho tất cả những người Cha ban cho Con.
3 Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Đức Chúa Trời duy nhất và chân thật, cùng Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Cha đã sai đến.
4 Con đã tôn vinh Cha trên đất và hoàn tất công việc Cha giao cho Con làm.
5 Cha ơi! Bây giờ, xin lấy vinh quang Con vốn có với Cha trước khi tạo dựng thế gian mà tôn vinh Con trước mặt Cha.
6 Con đã bày tỏ danh Cha cho những người Cha ban cho Con từ giữa thế gian nầy. Họ thuộc về Cha, Cha ban họ cho Con, và họ đã vâng giữ lời Cha.
7 Bây giờ, họ biết rằng tất cả những gì Cha đã ban cho Con đều đến từ Cha.
8 Vì Con đã ban cho họ những lời Cha đã ban cho Con. Họ đã tiếp nhận, biết Con thật đến từ Cha và tin rằng Cha đã sai Con.
9 Con vì họ mà cầu xin, không phải vì thế gian mà Con cầu xin đâu, nhưng vì những người mà Cha đã ban cho Con, vì họ thuộc về Cha.
10 Tất cả những gì của Con là của Cha, tất cả những gì của Cha là của Con; và qua họ, Con được tôn vinh.
11 Con không còn ở thế gian nữa, Con về với Cha, nhưng họ vẫn ở thế gian. Cha Thánh ơi! Xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ có thể trở nên một như Chúng Ta.
12 Trong lúc còn ở với họ, Con đã gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con. Con đã bảo vệ họ, không để mất một ai, trừ đứa con của sự hư mất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
13 Nhưng bây giờ Con về với Cha, và Con nói những điều nầy lúc còn trong thế gian, để sự vui mừng của Con được đầy trọn trong chính họ.
14 Con đã truyền lời Cha cho họ, và thế gian ghét họ vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian vậy.
15 Con không cầu xin Cha đem họ ra khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi điều ác.
16 Họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian.
17 Xin Cha dùng chân lý thánh hóa họ. Lời của Cha là chân lý.
18 Như Cha đã sai Con vào thế gian thì Con cũng sai họ vào thế gian.
19 Con hiến dâng chính mình vì họ, để họ cũng được thánh hóa trong chân lý.
20 Cha ơi! Con không chỉ cầu xin cho những người nầy mà thôi, nhưng cũng cho những người nhờ lời họ mà tin Con nữa,
21 để tất cả đều trở nên một; như Cha ở trong Con và Con trong Cha để họ cũng ở trong Chúng Ta, nhờ đó thế gian tin rằng Cha đã sai Con đến.
22 Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ trở nên một như Chúng Ta là một.
23 Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hiệp nhất trọn vẹn, nhờ đó thế gian biết rằng Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con.
24 Cha ơi, Con muốn Con ở đâu thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con; vì Cha đã yêu thương Con từ trước khi sáng thế.
25 Cha công chính ơi, thế gian không biết Cha, nhưng Con đã biết Cha; và những người nầy biết rằng Cha đã sai Con đến.
26 Con đã bày tỏ danh Cha cho họ, và Con sẽ còn bày tỏ nữa, để tình yêu mà Cha đã yêu Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa.”
1 Sau khi cầu nguyện, Đức Chúa Jêsus đi với các môn đồ sang bên kia suối Kết-rôn; tại đó có một khu vườn, Ngài cùng các môn đồ đi vào đó.
2 Giu-đa, kẻ phản Ngài, cũng biết chỗ nầy vì Đức Chúa Jêsus và các môn đồ thường nhóm họp tại đây.
3 Vậy, Giu-đa dẫn một toán lính cùng với thuộc hạ của các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đến đó, cầm đèn, đuốc và vũ khí.
4 Đức Chúa Jêsus biết tất cả những gì sẽ xảy đến cho mình, nên bước tới và hỏi: “Các ngươi tìm ai?”
5 Họ đáp: “Jêsus, người Na-xa-rét.” Đức Chúa Jêsus nói: “Chính Ta đây!” Giu-đa, kẻ phản Ngài, cũng đứng đó với họ.
6 Khi Đức Chúa Jêsus nói: “Chính Ta đây” thì họ đều lùi lại và ngã xuống đất.
7 Ngài lại hỏi: “Các ngươi tìm ai?” Họ đáp: “Jêsus, người Na-xa-rét.”
8 Đức Chúa Jêsus nói: “Ta đã bảo các ngươi, chính Ta đây. Vậy, nếu các ngươi tìm bắt Ta thì hãy để cho những người nầy đi.”
9 Điều nầy ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Con không để mất một ai trong những người Cha đã ban cho Con.”
10 Si-môn Phi-e-rơ có một thanh gươm, liền rút ra, đánh đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm, chém đứt tai phải của người nầy. Đầy tớ đó tên là Man-chu.
11 Đức Chúa Jêsus bảo Phi-e-rơ: “Hãy nạp gươm của con vào vỏ! Chén mà Cha đã ban cho Ta, Ta lại không uống sao?”
12 Lúc ấy, binh lính với viên chỉ huy và các thuộc hạ của người Do Thái bắt Đức Chúa Jêsus và trói lại.
13 Trước hết, họ giải Ngài đến An-ne, vì ông là nhạc gia của Cai-phe, người đang làm thầy tế lễ thượng phẩm trong năm đó.
14 Chính Cai-phe là người đã bàn với người Do Thái rằng: “Thà để một người chết vì toàn dân thì vẫn hơn.”
15 Si-môn Phi-e-rơ và một môn đồ khác đi theo Đức Chúa Jêsus. Môn đồ nầy quen biết thầy tế lễ thượng phẩm, nên vào với Đức Chúa Jêsus trong sân của thầy tế lễ thượng phẩm.
16 Còn Phi-e-rơ thì đứng bên ngoài, gần cửa. Vì vậy, môn đồ kia, người quen biết thầy tế lễ thượng phẩm, đi ra nói với người phụ nữ canh cửa, rồi đem Phi-e-rơ vào.
17 Người phụ nữ canh cửa nói với Phi-e-rơ: “Chẳng phải ông cũng là một trong các môn đồ của người ấy sao?” Phi-e-rơ đáp: “Không phải tôi.”
18 Vì trời lạnh nên các đầy tớ và các thuộc hạ nhóm một đống lửa than, rồi đứng sưởi ấm. Phi-e-rơ cũng đứng sưởi với họ.
19 Thầy tế lễ thượng phẩm hỏi Đức Chúa Jêsus về các môn đồ và sự dạy dỗ của Ngài.
20 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta đã nói rõ cho thiên hạ. Ta thường xuyên dạy trong các nhà hội và đền thờ, nơi tất cả người Do Thái tụ họp, chứ Ta chẳng nói điều gì lén lút cả.
21 Sao ngươi lại chất vấn Ta? Cứ hỏi những người đã nghe Ta, xem Ta đã nói gì với họ. Những người đó biết những điều Ta đã nói.”
22 Khi Ngài vừa nói xong, một kẻ trong nhóm thuộc hạ đang đứng đó lấy tay tát vào mặt Ngài và nói: “Ngươi dám trả lời thầy tế lễ thượng phẩm như thế sao?”
23 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta nói sai, hãy chỉ ra chỗ sai đi; còn nếu Ta nói đúng, tại sao ngươi lại đánh Ta?”
24 An-ne sai giải Đức Chúa Jêsus vẫn đang bị trói đến thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe.
25 Lúc Phi-e-rơ còn đang đứng sưởi, họ hỏi ông: “Anh cũng là một trong số các môn đồ của ông ta phải không?” Phi-e-rơ chối và trả lời: “Không phải tôi.”
26 Một người trong các đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm, có họ hàng với người đã bị Phi-e-rơ chém đứt tai, nói: “Chẳng phải chính tôi đã thấy anh ở trong vườn với ông ta sao?”
27 Phi-e-rơ lại chối một lần nữa, tức thì gà gáy.
28 Vậy, họ giải Đức Chúa Jêsus từ nhà Cai-phe đến dinh tổng đốc. Lúc ấy vào buổi sáng sớm. Chính họ không vào trong dinh, để khỏi bị ô uế, và được ăn lễ Vượt Qua.
29 Vì thế, Phi-lát đi ra, đến với họ và nói: “Các ngươi tố cáo người nầy về việc gì?”
30 Họ trả lời: “Nếu người nầy không phải là kẻ làm ác thì chúng tôi không nộp cho quan.”
31 Phi-lát nói với họ: “Các ngươi cứ đem ông ta đi và xử theo luật của các ngươi.” Người Do Thái thưa: “Chúng tôi không được phép xử tử bất cứ ai.”
32 Điều nầy ứng nghiệm lời Đức Chúa Jêsus đã nói, khi đề cập đến việc Ngài phải chết cách nào.
33 Phi-lát trở lại dinh tổng đốc, gọi Đức Chúa Jêsus và hỏi: “Có phải ngươi là vua dân Do Thái không?”
34 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ngươi tự mình nói điều nầy, hay có ai khác nói cho ngươi về Ta?”
35 Phi-lát trả lời: “Ta có phải là người Do Thái đâu? Dân tộc ngươi và mấy thầy tế lễ cả đã nộp ngươi cho Ta. Vậy ngươi đã làm gì?”
36 Đức Chúa Jêsus đáp: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian nầy. Nếu vương quốc của Ta thuộc về thế gian nầy thì những người theo Ta đã chiến đấu, không để Ta bị nộp vào tay người Do Thái. Nhưng vương quốc của Ta không thuộc về thế gian nầy.”
37 Phi-lát nói: “Thế thì ngươi là vua sao?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi nói Ta là vua. Đây là lý do tại sao Ta đã sinh ra, tại sao Ta đã giáng thế: Ấy là để làm chứng cho chân lý. Bất cứ ai thuộc về chân lý đều nghe tiếng Ta.”
38 Phi-lát hỏi: “Chân lý là gì?” Sau khi đã nói như vậy, Phi-lát lại đi ra gặp người Do Thái và nói: “Ta không tìm thấy người nầy có tội gì cả.
39 Nhưng theo thông lệ của các ngươi, cứ đến lễ Vượt Qua thì ta tha cho các ngươi một tên tù. Vậy, các ngươi có muốn ta tha vua dân Do Thái cho các ngươi không?”
40 Họ lại la lớn lên: “Đừng tha nó, hãy tha Ba-ra-ba!” Ba-ra-ba vốn là một tên cướp.
1 Bấy giờ, Phi-lát cho đem Đức Chúa Jêsus đi đánh đòn.
2 Bọn lính đan một chiếc mão gai, đội trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một chiếc áo điều.
3 Họ đến gần Ngài và nói: “Lạy vua dân Do Thái!” Rồi họ tát vào mặt Ngài.
4 Phi-lát trở ra một lần nữa và nói với dân chúng: “Đây nầy, ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các ngươi, để các ngươi biết ta không tìm thấy ông ấy có tội gì cả.”
5 Vậy, Đức Chúa Jêsus đi ra, đầu đội mão gai, mình mặc áo điều. Phi-lát nói với họ: “Hãy xem người nầy.”
6 Nhưng khi các thầy tế lễ cả và những thuộc hạ thấy Ngài thì la lên: “Đóng đinh nó trên cây thập tự! Đóng đinh nó trên cây thập tự!” Phi-lát bảo chúng: “Các ngươi hãy tự đem ông ấy đi mà đóng đinh, vì ta không tìm thấy ông ấy có tội gì cả.”
7 Những người Do Thái đáp: “Chúng tôi có luật, chiếu theo luật ấy nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Đức Chúa Trời.”
8 Khi nghe lời nầy, Phi-lát càng sợ hãi.
9 Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Chúa Jêsus rằng: “Ngươi từ đâu đến?” Nhưng Đức Chúa Jêsus không trả lời.
10 Vì vậy, Phi-lát nói với Ngài: “Ngươi không nói gì với ta sao? Ngươi không biết rằng ta có quyền tha, cũng có quyền đóng đinh ngươi sao?”
11 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu không do trên ban cho thì ngươi chẳng có quyền gì trên Ta; vì thế, kẻ nộp Ta cho ngươi còn nặng tội hơn.”
12 Từ đó, Phi-lát tìm cách tha Ngài, nhưng các người Do Thái la lên: “Nếu quan tha người nầy thì quan không phải là trung thần của Sê-sa, vì bất cứ ai tự xưng là vua đều là kẻ chống lại Sê-sa.”
13 Khi Phi-lát nghe những lời nầy thì đem Đức Chúa Jêsus ra, rồi ngồi vào chỗ xử án, tại nơi gọi là Chỗ Lát Đá, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ga-ba-tha.
14 Bấy giờ là ngày Chuẩn Bị cho lễ Vượt Qua, vào khoảng giữa trưa. Phi-lát nói với những người Do Thái rằng: “Đây là vua của các ngươi!”
15 Họ gào lên: “Hãy trừ nó đi, trừ nó đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự!” Phi-lát nói: “Ta sẽ đóng đinh vua các ngươi trên cây thập tự sao?” Các thầy tế lễ cả đáp: “Chúng tôi không có vua nào khác, ngoài Sê-sa.”
16 Phi-lát giao Đức Chúa Jêsus cho họ để đem đi đóng đinh trên thập tự giá. Vậy họ giải Đức Chúa Jêsus đi.
17 Đức Chúa Jêsus vác thập tự giá đi đến một nơi gọi là Đồi Sọ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Gô-gô-tha.
18 Tại đó, họ đóng đinh Ngài. Có hai người khác cũng bị đóng đinh với Ngài, mỗi bên một người, còn Đức Chúa Jêsus ở giữa.
19 Phi-lát cũng sai viết một tấm bảng và treo trên thập tự giá. Trên tấm bảng có ghi rằng: “JÊSUS NGƯỜI NA-XA-RÉT, VUA DÂN DO THÁI.”
20 Vì nơi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh ở gần thành, và tấm bảng được ghi bằng tiếng Hê-bơ-rơ, La-tinh và Hi Lạp, nên có nhiều người Do Thái đọc.
21 Các thầy tế lễ cả của người Do Thái nói với Phi-lát: “Xin đừng viết: ‘Vua dân Do Thái,’ nhưng hãy viết: ‘Người nầy nói: Ta là vua dân Do Thái.’ ”
22 Phi-lát đáp: “Điều ta đã viết thì ta đã viết rồi.”
23 Khi đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào thập tự giá rồi, những người lính lấy y phục của Ngài chia làm bốn phần, mỗi người một phần. Họ cũng lấy áo dài của Ngài, nhưng áo dài nầy là một tấm vải dệt từ trên xuống dưới, không có đường may.
24 Vậy, họ bảo nhau: “Đừng xé nó ra, nhưng hãy bắt thăm xem ai được.” Như vậy, điều nầy làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Họ chia nhau y phục của Ta, Bắt thăm lấy áo dài Ta.” Đó là việc bọn lính đã làm.
25 Đứng gần thập tự giá của Đức Chúa Jêsus có mẹ Ngài, chị của mẹ Ngài, với Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-pa và Ma-ri Ma-đơ-len.
26 Đức Chúa Jêsus thấy mẹ Ngài và môn đồ Ngài yêu thương đang đứng gần thì nói với mẹ rằng: “Thưa bà, đó là con của bà!”
27 Rồi Ngài nói với môn đồ ấy: “Nầy là mẹ của con!” Từ giờ đó, môn đồ nầy đem bà về nhà mình.
28 Sau đó, Đức Chúa Jêsus biết mọi việc đã hoàn tất, và để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm thì nói: “Ta khát.”
29 Tại đó, có một cái bình đựng đầy giấm nên họ lấy một miếng bọt biển nhúng đầy giấm, buộc vào cành bài hương, rồi đưa đến miệng Đức Chúa Jêsus.
30 Khi đã nhận lấy giấm, Đức Chúa Jêsus nói: “Mọi việc đã hoàn tất!” Rồi Ngài gục đầu xuống, trút linh hồn.
31 Hôm ấy là ngày Chuẩn Bị, nên những người Do Thái e ngại những xác chết vẫn còn bị treo trên thập tự giá trong ngày sa-bát, vì ngày sa-bát nầy rất trọng đại. Do đó, họ yêu cầu Phi-lát cho đánh gãy ống chân những người ấy, và hạ xuống.
32 Vậy, những người lính đến đánh gãy ống chân của người thứ nhất, rồi đến người kia, là người cùng bị đóng đinh với Ngài.
33 Nhưng khi đến chỗ Đức Chúa Jêsus, họ thấy Ngài đã chết rồi, nên không đánh gãy ống chân Ngài.
34 Nhưng có một tên lính lấy giáo đâm vào sườn Ngài, lập tức máu và nước chảy ra.
35 Người đã chứng kiến làm chứng về việc nầy — lời chứng của người là xác thực, và người ấy biết mình vẫn nói sự thật — để anh em cũng tin.
36 Những điều nầy xảy ra để được ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chẳng một xương nào của Ngài sẽ bị gãy.”
37 Và thêm một lời Kinh Thánh khác: “Họ sẽ nhìn thấy người mình đã đâm.”
38 Sau đó, Giô-sép người A-ri-ma-thê, một môn đồ âm thầm theo Đức Chúa Jêsus vì sợ người Do Thái, xin Phi-lát cho nhận thi hài của Đức Chúa Jêsus. Phi-lát cho phép. Vậy, ông đến và nhận thi hài của Ngài.
39 Ni-cô-đem, người trước đây đã đến với Đức Chúa Jêsus trong ban đêm, cũng đến, đem theo một trăm cân mộc dược trộn với lô hội.
40 Họ lấy thi hài của Đức Chúa Jêsus và dùng vải gai với thuốc thơm quấn lại theo tục lệ khâm liệm của người Do Thái.
41 Tại nơi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh có một khu vườn, và trong khu vườn đó có một ngôi mộ mới, chưa chôn ai.
42 Vì hôm ấy là ngày Chuẩn Bị của người Do Thái, và ngôi mộ ấy ở gần, nên họ an táng Đức Chúa Jêsus tại đó.
1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, Ma-ri Ma-đơ-len đến mộ, thấy tảng đá đã được dời khỏi mộ.
2 Vậy, bà chạy đến với Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ kia, là người Đức Chúa Jêsus yêu thương, và nói: “Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chúng tôi không biết họ để Ngài ở đâu?”
3 Phi-e-rơ với môn đồ kia bước ra, đi đến mộ.
4 Cả hai cùng chạy, nhưng môn đồ kia chạy nhanh hơn Phi-e-rơ và đến mộ trước.
5 Ông cúi xuống nhìn vào, thấy vải liệm nằm ở đó, nhưng không vào.
6 Si-môn Phi-e-rơ theo đến, bước vào trong mộ, thấy vải liệm nằm ở đó,
7 còn khăn che đầu Đức Chúa Jêsus thì không nằm chung với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một chỗ.
8 Lúc ấy, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thấy và tin.
9 Nhưng họ vẫn chưa hiểu lời Kinh Thánh chép rằng Ngài phải từ cõi chết sống lại.
10 Rồi các môn đồ trở về nhà.
11 Ma-ri đứng bên ngoài mộ mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ,
12 thấy hai thiên sứ mặc áo trắng ngồi tại chỗ đã đặt xác của Đức Chúa Jêsus, một vị ngồi đàng đầu, một vị đàng chân.
13 Hai thiên sứ hỏi: “Nầy bà, sao bà khóc?” Ma-ri trả lời: “Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, tôi không biết họ để Ngài ở đâu!”
14 Vừa nói xong, bà quay lại, thấy Đức Chúa Jêsus đang đứng, nhưng bà không biết đó là Đức Chúa Jêsus.
15 Đức Chúa Jêsus hỏi bà: “Nầy bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Ngỡ rằng đó là người làm vườn, nên bà nói: “Thưa ông, nếu ông đã dời Ngài đi, xin nói cho tôi biết ông đã đặt Ngài ở đâu để tôi sẽ đến đem về.”
16 Đức Chúa Jêsus gọi: “Ma-ri!” Bà quay lại dùng tiếng Hê-bơ-rơ thưa rằng: “Ra-bu-ni” (nghĩa là Thầy)!
17 Đức Chúa Jêsus bảo: “Đừng chạm đến Ta, vì Ta chưa lên với Cha! Nhưng hãy đi đến với anh em Ta, bảo họ rằng: Ta đang lên với Cha Ta và Cha các con, với Đức Chúa Trời Ta và Đức Chúa Trời các con.”
18 Ma-ri Ma-đơ-len đi báo cho các môn đồ rằng bà đã thấy Chúa, và Ngài đã nói cho bà những điều nầy.
19 Chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, cửa nơi các môn đồ ở đều đóng vì sợ người Do Thái. Đức Chúa Jêsus đến đứng giữa họ và nói: “Bình an cho các con!”
20 Nói xong, Ngài cho họ xem tay và sườn mình. Khi thấy Chúa, các môn đồ thật vui mừng.
21 Ngài lại nói với họ: “Bình an cho các con! Như Cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các con thể ấy.”
22 Nói xong, Ngài hà hơi trên họ và nói: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.
23 Nếu các con tha tội cho ai thì tội của người ấy sẽ được tha; nếu các con cầm tội ai lại thì tội của người ấy sẽ bị cầm lại.”
24 Lúc Đức Chúa Jêsus đến thì Thô-ma gọi là Đi-đim, một trong mười hai sứ đồ, không có ở đó với họ.
25 Các môn đồ khác nói với ông: “Chúng tôi đã thấy Chúa.” Nhưng Thô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào chỗ dấu đinh, và không đặt bàn tay tôi vào sườn Ngài thì tôi sẽ không tin.”
26 Tám ngày sau, các môn đồ lại họp trong nhà, Thô-ma cũng có ở đó với họ. Dù các cửa đều đóng, Đức Chúa Jêsus đến đứng giữa họ và nói: “Bình an cho các con!”
27 Rồi Ngài bảo Thô-ma: “Hãy đặt ngón tay con vào đây và xem bàn tay Ta. Hãy đưa bàn tay con ra và đặt vào sườn Ta. Đừng vô tín, nhưng hãy tin!”
28 Thô-ma thưa rằng: “Lạy Chúa của con và Đức Chúa Trời con!”
29 Đức Chúa Jêsus nói: “Có phải vì thấy Ta nên con tin chăng? Phước cho những người không thấy mà tin!”
30 Đức Chúa Jêsus còn làm nhiều dấu lạ khác trước mặt các môn đồ mà không ghi chép trong sách nầy.
31 Nhưng các việc nầy được ghi chép để anh em tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, và để khi anh em tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.
1 Sau đó, Đức Chúa Jêsus lại hiện ra với các môn đồ Ngài bên bờ biển Ti-bê-ri-át. Việc Ngài hiện ra như sau:
2 Si-môn Phi-e-rơ, Thô-ma gọi là Đi-đim, Na-tha-na-ên, người thành Ca-na trong miền Ga-li-lê, các con trai của Xê-bê-đê, và hai môn đồ khác đang họp lại với nhau.
3 Si-môn Phi-e-rơ nói với họ: “Tôi đi đánh cá.” Những người kia đáp: “Chúng tôi đi với anh!” Họ đi ra, xuống thuyền, nhưng trong đêm ấy không bắt được gì cả.
4 Trời vừa sáng, Đức Chúa Jêsus đứng trên bờ, nhưng các môn đồ không biết đó là Đức Chúa Jêsus.
5 Đức Chúa Jêsus hỏi: “Các con ơi, không có con cá nào sao?” Họ đáp: “Thưa không.”
6 Ngài bảo: “Hãy thả lưới bên phải thuyền thì các con sẽ được.” Vậy, họ thả lưới xuống, được nhiều cá đến nỗi kéo lên không xuể.
7 Môn đồ được Đức Chúa Jêsus yêu thương nói với Phi-e-rơ: “Ấy là Chúa!” Khi Si-môn Phi-e-rơ nghe rằng ấy là Chúa thì mặc áo vào (vì đang ở trần), rồi nhảy xuống biển.
8 Các môn đồ khác đi vào bằng thuyền, kéo theo một tay lưới đầy cá, vì chỉ cách bờ khoảng chín chục mét.
9 Vừa bước lên bờ, họ thấy tại đó có lửa than với cá đang nướng ở trên, và có bánh nữa.
10 Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy đem một ít cá mà các con vừa đánh được lại đây.”
11 Si-môn Phi-e-rơ xuống thuyền, kéo tay lưới đầy một trăm năm mươi ba con cá lớn vào bờ. Dù nhiều cá như vậy, lưới vẫn không rách.
12 Đức Chúa Jêsus bảo: “Các con hãy lại dùng điểm tâm.” Không một ai trong các môn đồ dám hỏi Ngài: “Ông là ai?” Vì họ biết ấy là Chúa.
13 Đức Chúa Jêsus đến, lấy bánh trao cho họ, và cũng trao cá nữa.
14 Đây là lần thứ ba Đức Chúa Jêsus hiện ra với các môn đồ Ngài sau khi Ngài từ cõi chết sống lại.
15 Khi ăn xong, Đức Chúa Jêsus nói với Si-môn Phi-e-rơ rằng: “Si-môn, con của Giăng, con yêu Ta hơn những người nầy chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Vâng, thưa Chúa, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăm sóc những chiên con của Ta.”
16 Ngài lại hỏi ông lần thứ hai: “Si-môn, con của Giăng ơi, con yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Vâng, thưa Chúa, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăn chiên Ta.”
17 Ngài lại hỏi ông lần thứ ba: “Si-môn, con của Giăng ơi, con yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ buồn vì Ngài hỏi mình đến ba lần: “Con yêu Ta chăng?” Ông thưa rằng: “Thưa Chúa, Chúa biết tất cả mọi sự; Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăm sóc chiên Ta.
18 Thật, Ta bảo thật con, khi còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy, muốn đi đâu thì đi; nhưng lúc già, con sẽ đưa tay ra, để người khác thắt lưng cho và dẫn con đi đến nơi mình không muốn.”
19 Ngài nói điều nầy để chỉ về Phi-e-rơ sẽ chết cách nào để tôn vinh Đức Chúa Trời. Sau đó, Ngài bảo ông rằng: “Hãy theo Ta.”
20 Phi-e-rơ quay lại, thấy môn đồ Đức Chúa Jêsus yêu thương đang theo sau, là người trong bữa ăn tối đã nghiêng mình trên ngực Đức Chúa Jêsus mà hỏi: “Thưa Chúa, ai là kẻ phản Ngài?”
21 Khi thấy người ấy, Phi-e-rơ hỏi Đức Chúa Jêsus: “Thưa Chúa, còn người nầy thì sao?”
22 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta muốn người ấy cứ ở lại cho tới lúc Ta đến thì can hệ gì đến con? Phần con, hãy theo Ta.”
23 Vì vậy, có tiếng đồn ra trong các anh em rằng môn đồ nầy sẽ không chết. Nhưng Đức Chúa Jêsus không nói với Phi-e-rơ rằng: “Người nầy sẽ không chết,” mà chỉ nói: “Nếu Ta muốn người nầy cứ ở lại cho tới lúc Ta đến thì có can hệ gì đến con?”
24 Chính môn đồ ấy làm chứng về những việc nầy, và đã ghi chép lại. Chúng ta biết lời chứng của người ấy là xác thực.
25 Đức Chúa Jêsus còn làm nhiều việc khác nữa. Nếu cứ ghi chép hết từng việc, thì thiết nghĩ rằng cả thế gian cũng không thể chứa hết những sách được viết ra.