1 Tại xứ Út-xơ có một người tên là Gióp. Ông là một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác.
2 Ông có bảy con trai và ba con gái.
3 Tài sản ông gồm có: Bảy nghìn chiên, ba nghìn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và rất nhiều đầy tớ. Ông là người giàu có nhất trong các dân tộc Đông phương.
4 Các con trai ông thường thay phiên nhau mở tiệc tùng, hết nhà nầy sang nhà khác và sai mời ba chị em gái đến ăn uống chung với mình.
5 Sau những ngày tiệc tùng, Gióp cho gọi các con về để làm lễ thanh tẩy chúng. Ông thức dậy sớm và dâng tế lễ thiêu cho mỗi người con, vì ông thầm nghĩ: “Biết đâu các con ta đã phạm tội và trong lòng phỉ báng Đức Chúa Trời.” Gióp thường xuyên làm như vậy.
6 Một ngày kia, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đến trình diện Đức Giê-hô-va. Sa-tan cũng đến với họ.
7 Đức Giê-hô-va hỏi Sa-tan: “Ngươi từ đâu đến?” Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Tôi đi nơi nầy nơi kia trên đất, dạo quanh khắp đó đây.”
8 Đức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, đầy tớ của Ta không? Trên thế gian nầy chẳng có ai được như Gióp; một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác.”
9 Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Lẽ nào Gióp kính sợ Đức Chúa Trời vô cớ sao?
10 Chẳng phải chính Ngài đã dựng hàng rào bảo vệ quanh ông ta và gia đình cùng mọi sản vật của ông ta đó sao? Ngài đã ban phước trên công việc của tay ông ta và làm cho của cải ông ta lan tràn khắp đất.
11 Nhưng bây giờ Chúa thử giơ tay đánh vào tất cả những gì thuộc về ông ta, xem ông ta có phỉ báng Chúa ra mặt không!”
12 Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan: “Nầy, Ta giao mọi vật thuộc về Gióp vào tay ngươi, nhưng không được tra tay vào người Gióp.” Sa-tan liền rút lui khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va.
13 Một hôm, khi các con trai và con gái của Gióp đang ăn tiệc và uống rượu trong nhà người anh cả,
14 một sứ giả đến báo tin cho Gióp: “Khi bò đang cày, lừa đang ăn cỏ bên cạnh
15 thì dân Sê-ba xông vào và cướp đi hết. Chúng còn dùng gươm giết sạch các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông.”
16 Người nầy còn đang nói thì một người khác đến báo: “Lửa của Đức Chúa Trời từ trên trời đã giáng xuống thiêu rụi cả bầy chiên và các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông.”
17 Người nầy còn đang nói thì một người khác chạy đến báo: “Dân Canh-đê chia làm ba toán xông vào lạc đà và cướp đi hết. Chúng còn dùng gươm giết sạch các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông.”
18 Người nầy còn đang nói thì một người khác lại chạy đến báo: “Các con trai con gái ông đang ăn uống tại nhà người anh cả,
19 thình lình có một ngọn gió lớn từ phía bên kia hoang mạc thổi đến làm bốn góc nhà rung rinh rồi sập xuống, đè chết các người trẻ tuổi, chỉ một mình tôi thoát chết về báo tin cho ông.”
20 Gióp liền trỗi dậy, xé áo mình và cạo đầu rồi sấp mình xuống đất mà thờ lạy
21 và nói: “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ Tôi cũng sẽ trần truồng trở về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; Đáng chúc tụng danh Đức Giê-hô-va!”
22 Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội và chẳng nói điều gì xúc phạm đến Đức Chúa Trời.
1 Một ngày kia, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đến trình diện Đức Giê-hô-va. Sa-tan cũng đến để trình diện Ngài.
2 Đức Giê-hô-va hỏi Sa-tan: “Ngươi từ đâu đến?” Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Tôi đi nơi nầy nơi kia trên đất, dạo quanh khắp đó đây.”
3 Đức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, đầy tớ của Ta không? Trên thế gian nầy chẳng có ai được như Gióp; một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác. Gióp vẫn giữ tấm lòng trọn lành mặc dù ngươi đã giục Ta vô cớ làm hại Gióp.”
4 Sa-tan lại nói với Đức Giê-hô-va: “‘Lấy da đền da!’ Người ta sẵn sàng cho đi tất cả những gì mình có để cứu mạng sống mình.
5 Nhưng bây giờ, xin Chúa thử giơ tay đánh vào xương thịt của Gióp xem ông ta có phỉ báng Chúa ra mặt không!”
6 Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan: “Kìa, Gióp ở trong tay ngươi, nhưng ngươi phải gìn giữ mạng sống người.”
7 Sa-tan liền rút lui khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va và hành hạ Gióp bằng một chứng ung nhọt nhức nhối từ bàn chân cho đến đỉnh đầu.
8 Gióp ngồi giữa đống tro, lấy mảnh sành mà gãi.
9 Bấy giờ, vợ Gióp nói: “Ủa? Ông vẫn giữ tấm lòng trọn lành được sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời và chết đi!”
10 Nhưng ông đáp: “Bà nói như một người đàn bà ngu muội. Tại sao phước hạnh từ tay Đức Chúa Trời ban cho thì chúng ta đón nhận, còn tai họa từ tay Ngài giáng xuống thì chúng ta lại không nhận?” Trong mọi việc đó, Gióp không hề phạm tội trong lời nói.
11 Khi ba người bạn của Gióp là Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a và Sô-pha người Na-a-ma được tin về các tai họa đã xảy đến cho ông, thì họ từ xứ mình hẹn nhau đến để chia buồn và an ủi ông.
12 Từ xa, họ ngước mắt nhìn nhưng không thể nhận ra Gióp. Đến gần, họ bật khóc lớn tiếng, mỗi người xé áo mình, hất bụi lên trời và lên đầu mình.
13 Ba người bạn ngồi xuống đất với Gióp suốt bảy ngày đêm, không ai nói với ông một lời, vì họ thấy nỗi đau của ông quá lớn.
1 Sau việc ấy, Gióp mở miệng nguyền rủa ngày sinh của mình.
2 Ông nói:
3 “Ước gì ngày tôi chào đời biến mất, Và đêm đã báo tin: ‘Một đứa con trai được thụ thai!’ không còn nữa!
4 Ước gì ngày ấy ra tối tăm, Đức Chúa Trời từ trên cao không để ý đến Và ánh sáng không soi trên nó!
5 Ước gì ngày ấy chìm trong tối tăm và bóng sự chết, Mây đen bao trùm nó Và nhật thực làm cho nó kinh hoàng!
6 Ước gì sự tối tăm mịt mùng hãm lấy đêm ấy, Không tính nó vào các ngày của năm, Không kể nó vào các tháng!
7 Vâng, đêm ấy phải là đêm không sinh sản, Không hề nghe tiếng reo vui!
8 Ước gì những kẻ đã nguyền rủa ngày Và có tài đánh thức Lê-vi-a-than Cũng nguyền rủa đêm ấy!
9 Nguyện các tinh tú ban mai trở nên tối tăm, Đêm chờ ánh sáng trong vô vọng Không thấy bình minh ló dạng!
10 Vì đêm ấy đã không đóng cửa dạ mẹ tôi Để giấu sự đau đớn khỏi mắt tôi.
11 Tại sao tôi không chết ngay lúc chào đời, Không tắt hơi vừa khi lọt lòng mẹ?
12 Tại sao có đầu gối đỡ lấy tôi Và vú cho tôi bú?
13 Nếu không thì bây giờ tôi đã nằm an tịnh, Được yên giấc nghỉ ngơi
14 Cùng các vua chúa và mưu sĩ của trần gian Đã xây cất lăng tẩm cho mình,
15 Hoặc cùng các nhà lãnh đạo Với vàng bạc chất đầy nhà.
16 Tại sao tôi không được chôn kín như một thai sảo, Như một trẻ sơ sinh chưa từng thấy ánh sáng?
17 Ở đó kẻ hung ác ngừng quấy phá. Người kiệt sức được nghỉ ngơi.
18 Những kẻ bị tù đày cùng nhau thư thái, Không còn nghe tiếng quát tháo của cai tù.
19 Người lớn kẻ nhỏ đều như nhau Và người nô lệ được tự do khỏi chủ mình.
20 Tại sao kẻ khốn cùng được ban ánh sáng, Và kẻ có lòng đắng cay được ban sự sống?
21 Họ mong chết mà không được chết, Tìm cái chết hơn là tìm châu báu,
22 Họ phấn khởi vui mừng Lòng hân hoan khi tìm được mộ phần.
23 Tại sao người bị che khuất lối đi, Bị Đức Chúa Trời vây bọc bốn bên, Mà còn được ban ánh sáng và sự sống?
24 Vì bánh tôi ăn chỉ là tiếng thở dài; Lời thở than tôi tuôn trào như nước.
25 Việc tôi hãi hùng đã xảy đến cho tôi, Điều tôi kinh khiếp đã đổ ập trên tôi!
26 Tôi không được an ổn, chẳng thấy bình tịnh, Không phút nghỉ ngơi, vì rối loạn bủa vây!”
1 Bấy giờ, Ê-li-pha người Thê-man lên tiếng:
2 “Nếu ai đó đánh bạo nói với anh đôi lời, liệu anh có phiền lòng không? Nhưng ai có thể nín lặng được chăng?
3 Kìa, anh đã dạy dỗ nhiều người Và làm cho bao đôi tay yếu đuối trở nên mạnh mẽ.
4 Lời của anh đã đỡ nâng người vấp ngã, Anh đã làm vững mạnh những đầu gối lung lay.
5 Nhưng bây giờ hoạn nạn đến với anh, anh lại nản lòng; Đụng đến anh, anh mất tinh thần.
6 Chẳng phải lòng kính sợ Chúa là chốn nương cậy của anh, Và đường lối liêm chính là niềm hi vọng của anh đó sao?
7 Anh hãy suy xét lại, có bao giờ người vô tội bị chết mất không? Ở nơi nào người ngay thẳng lại bị tiêu diệt?
8 Theo điều tôi thấy, những ai cày sự gian ác Và gieo điều bất an thì sẽ lại gặt lấy nó.
9 Bởi hơi thở của Đức Chúa Trời, chúng bị chết mất; Do cơn giận của Ngài, họ bị tiêu tan.
10 Tiếng gầm thét hung hăng của sư tử đã nín lặng Và nanh của các sư tử con bị bẻ gãy.
11 Sư tử mạnh chết vì thiếu mồi Và đàn sư tử con tan tác.
12 Có một lời lặng lẽ đến với tôi, Tai tôi nghe tiếng thì thầm ấy.
13 Ban đêm, khi loài người say ngủ Giữa lúc suy tư tôi thấy dị tượng.
14 Nỗi kinh hoàng xâm chiếm làm tôi rùng rợn; Xương cốt tôi run rẩy.
15 Một vị thần đi ngang mặt tôi Lông tóc trên da thịt tôi dựng lên.
16 Thần đứng yên Nhưng tôi nhận không ra; Một hình dạng ở trước mắt tôi, Một thoáng lặng thinh rồi tôi nghe tiếng nói:
17 ‘Loài người hư hoại lại công chính hơn Đức Chúa Trời ư? Loài người lại thanh sạch hơn Đấng Tạo Hóa mình sao?
18 Ngay cả đầy tớ Ngài, Ngài vẫn không tin tưởng, Thiên sứ Ngài, Ngài còn bắt lỗi;
19 Huống chi những kẻ ở trong chòi đất sét, Lập nền trên cát bụi, Bị chà đạp như loài sâu mọt!
20 Một sớm một chiều chúng bị nghiền nát; Chết mất đời đời mà chẳng ai biết đến.
21 Dây lều của chúng bị kéo phăng đi, Chúng chết mà chẳng được khôn ngoan gì.’”
1 “Anh cứ kêu xin đi! Liệu có ai đáp lời anh chăng? Anh sẽ kêu cứu với vị nào trong các thánh?
2 Vì nỗi sầu thảm giết người ngu muội, Còn lòng đố kỵ làm chết kẻ đơn sơ.
3 Tôi đã thấy kẻ ngu muội châm rễ, Nhưng tôi liền nguyền rủa nơi hắn ở.
4 Con cái hắn không được an toàn, Bị chèn ép nơi cổng thành Mà chẳng ai giải cứu.
5 Người đói ăn mùa màng của hắn, Đoạt cho được dù giữa gai gốc; Còn kẻ khát thì thèm thuồng tài sản hắn.
6 Vì hoạn nạn không ra từ cát bụi, Nỗi phiền ưu chẳng do đất mọc lên;
7 Nhưng loài người sinh ra để chịu khốn khó Hệt như tia lửa bay vút lên không trung.
8 Nhưng tôi, tôi sẽ tìm cầu Đức Chúa Trời, Trình lên Ngài trường hợp của tôi.
9 Ngài làm những việc lớn lao không sao dò xét được, Vô vàn điều diệu kỳ không thể đếm xong.
10 Ngài ban mưa trên đất, Cho nước tràn ruộng đồng;
11 Nhắc những người hèn hạ lên cao, Ban an vui cho kẻ đang tang chế.
12 Ngài phá vỡ âm mưu của kẻ xảo trá, Khiến tay chúng chẳng làm xong công việc.
13 Ngài bắt kẻ khôn ranh trong mưu chước nó, Và sớm chận đứng ý đồ của kẻ điêu ngoa.
14 Giữa ban ngày chúng gặp tối tăm, Đang lúc trưa chúng lần mò như trong đêm tối.
15 Đức Chúa Trời cứu người nghèo khó khỏi lưỡi gươm, Khỏi miệng và khỏi tay kẻ cường bạo.
16 Vậy người nghèo khó có niềm hi vọng, Còn kẻ gian ác phải ngậm miệng lại.
17 Phước cho người được Đức Chúa Trời khiển trách! Vậy anh chớ coi thường sự sửa phạt của Đấng Toàn Năng.
18 Vì Ngài làm cho bị thương, nhưng Ngài băng bó lại; Ngài đánh đau, nhưng tay Ngài lại chữa lành.
19 Ngài sẽ giải cứu anh khỏi sáu cơn hoạn nạn, Cả đến cơn thứ bảy, tai họa cũng không chạm đến anh.
20 Trong cơn đói kém, Ngài sẽ giải cứu anh khỏi chết, Và trong chiến tranh khỏi họa binh đao.
21 Anh sẽ được che chở khỏi hiểm nguy của lưỡi, Chẳng hãi hùng khi tai họa xảy ra.
22 Anh sẽ cười trước tai ương và đói kém, Trước thú rừng anh cũng chẳng sợ chi.
23 Vì anh lập giao ước với đá ngoài đồng ruộng, Và các thú hoang sẽ hòa thuận với anh.
24 Anh sẽ thấy trại mình được an ổn; Kiểm lại bầy anh chẳng thấy thiếu mất chi.
25 Anh cũng biết con cháu mình sẽ đông đúc, Và dòng dõi anh nhiều như cỏ ngoài đồng.
26 Anh sẽ được tuổi cao khi vào phần mộ Như bó lúa thu hoạch đúng kỳ.
27 Đó là điều chúng tôi đã tìm hiểu và là sự thật. Anh hãy nghe và nhận biết cho mình.”
1 Gióp đáp lại rằng:
2 “Ôi! Ước gì nỗi sầu não của tôi được đong đầy Và mọi tai ương tôi đều để trên cân!
3 Vì hiện giờ chúng nặng hơn cát biển Nên tôi đã vội thốt ra.
4 Vì các mũi tên của Đấng Toàn Năng trúng vào tôi, Tâm hồn tôi ngấm chất độc của chúng; Đức Chúa Trời dàn trận chống lại tôi khiến tôi kinh khiếp.
5 Có lừa rừng nào thét gào bên cỏ xanh? Có con bò nào rống lên bên đống cỏ khô?
6 Thức ăn lạt lẽo làm sao không thêm muối? Có hương vị nào trong lòng trắng trứng gà?
7 Thức ăn nào cũng trở thành vô vị Tôi chẳng màng động đến chúng.
8 Ôi! Ước gì lời thỉnh cầu tôi được thỏa nguyện, Đức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ước ao!
9 Ước gì Đức Chúa Trời nghiền tôi tan nát, Vung tay Ngài cắt đứt đời tôi!
10 Như vậy tôi sẽ còn được an ủi, Tìm niềm vui trong đau đớn không nguôi; Bởi vì lời Đấng Thánh tôi không hề quên lãng.
11 Làm sao tôi đủ sức đợi chờ, Cuối cùng tôi sẽ ra sao mà kéo dài cuộc sống?
12 Sức tôi đâu phải là sức đá? Thịt tôi nào phải là đồng?
13 Chẳng lẽ không còn ai tiếp cứu tôi, Sức lực trong tôi cũng biến mất rồi sao?
14 Kẻ thất vọng cần bạn bè thương xót, Dù có bỏ lòng kính sợ Đấng Toàn Năng.
15 Nhưng anh em tôi dối gạt tôi như lòng khe cạn nước, Như dòng suối bất chợt dâng cao.
16 Nước sẫm màu vì băng chảy, Đục ngầu vì tuyết tan.
17 Nhưng trong mùa nắng hạn chúng cạn khô, Lúc nắng lên chúng biến mất khỏi chỗ mình.
18 Đoàn lữ hành thay đổi hướng đi, Tiến vào hoang mạc rồi chết mất.
19 Đoàn lữ hành Thê-ma đi tìm nước, Lữ khách Sê-ba hi vọng dạt dào.
20 Nhưng họ xấu hổ vì đã quá tin tưởng, Lúc đến nơi họ phải thẹn thùng.
21 Đối với tôi lúc nầy các bạn chẳng là gì, Thấy nguy nan các bạn đều run sợ.
22 Tôi nào có xin ‘hãy cho tôi chút gì’, Cũng không nhờ ‘hối lộ giùm tôi,’
23 Hay năn nỉ ‘cứu tôi khỏi tay kẻ thù Và chuộc tôi khỏi tay kẻ cường bạo!’
24 Xin dạy dỗ tôi, tôi sẽ yên lặng, Xin chỉ cho tôi thấy chỗ mình sai trật.
25 Lời trung thực có sức thuyết phục, Nhưng lời khiển trách của các bạn có bắt bẻ được gì?
26 Các bạn muốn bắt bẻ lời nói sao? Nhưng lời của người tuyệt vọng chỉ như gió thoảng qua.
27 Các bạn bắt thăm chia chác kẻ mồ côi, Bán đứng cả bạn bè.
28 Vậy bây giờ các bạn hãy nhìn tôi, Vì tôi không nói dối trước mặt các bạn.
29 Xin các bạn hãy nghĩ lại, đừng bất công nữa. Hãy xét lại đi, vì tôi vẫn là người công chính.
30 Lưỡi tôi nói ra lời dối trá chăng? Miệng tôi không còn phân biệt đúng sai sao?”
1 “Đời người trên dương thế chẳng phải là nghĩa vụ lao dịch sao? Chuỗi ngày tháng của họ có khác gì ngày tháng của người làm thuê không?
2 Như người nô lệ ước ao bóng mát, Như người làm thuê trông đợi tiền lương,
3 Tôi phải nhận những tháng ngày vô vọng, Và những đêm lao khổ định cho mình.
4 Khi nằm xuống, tôi tự hỏi: ‘Bao giờ tôi thức dậy?’ Nhưng suốt đêm trường, Tôi trằn trọc cho đến rạng đông.
5 Thịt tôi bao bọc bởi dòi và bùn đất, Da tôi nứt nẻ, máu mủ chảy ra!
6 Các ngày tôi qua nhanh hơn thoi đưa, Và kết liễu trong vô vọng.
7 Chúa ơi, xin nhớ rằng đời con chỉ là hơi thở! Mắt con sẽ không còn nhìn thấy điều phước hạnh nữa.
8 Mắt đã thấy con nay không thấy con nữa, Mắt Chúa tìm kiếm con, con sẽ không còn.
9 Như mây tan và biến mất, Người xuống âm phủ không còn trở lên được nữa.
10 Họ không trở về nhà mình nữa, Nơi họ ở chẳng còn ai biết đến.
11 Bởi thế, con sẽ không ngậm miệng; Trong cơn sầu não của tâm linh, con sẽ nói ra; Trong nỗi cay đắng của linh hồn, con sẽ than trách.
12 Con đâu phải là biển cả hay quái vật trong biển, Mà Ngài phải đặt người canh gác?
13 Khi con nói: ‘Giường con sẽ an ủi con, Nơi con nằm sẽ làm vơi nỗi phiền ưu,’
14 Thì Chúa dùng chiêm bao làm con hoảng sợ, Lấy dị tượng khiến con khiếp kinh.
15 Đến nỗi con muốn thà bị nghẹt thở và chết, Còn hơn là sống trong xương cốt nầy.
16 Con chẳng còn muốn sống. Con đâu có sống hoài. Xin Chúa để mặc con, vì ngày tháng của con chỉ là hơi thở.
17 Loài người là gì mà Chúa kể là cao trọng? Có là gì đâu mà Chúa phải quan tâm,
18 Phải viếng thăm mỗi buổi sáng, Và thử thách mỗi lúc mỗi khi?
19 Bao giờ Ngài mới ngoảnh mặt đi, Để con đủ thì giờ nuốt trôi nước miếng?
20 Lạy Đấng gìn giữ loài người! Nếu con phạm tội thì con đã làm gì chống Chúa, Mà Chúa để con làm bia đỡ đạn, Và trở thành gánh nặng cho Ngài?
21 Tại sao Chúa không tha tội cho con, Bỏ qua mọi gian ác của con? Vì chẳng bao lâu nữa con sẽ nằm trong cát bụi; Chúa sẽ tìm kiếm con nhưng con không còn nữa.”
1 Binh-đát người Su-a đáp lời:
2 “Anh nói mãi các điều ấy đến bao giờ, Khi nào mới ngưng những lời như giông bão ấy?
3 Làm sao Đức Chúa Trời lại bẻ cong công lý? Hay Đấng Toàn Năng xuyên tạc lẽ công bằng?
4 Nếu con cái anh phạm tội với Ngài Thì Ngài phó chúng vào án phạt tội lỗi.
5 Nếu anh tìm kiếm Đức Chúa Trời, Khẩn cầu với Đấng Toàn Năng,
6 Nếu anh trong sạch và ngay thẳng Thì ngay bây giờ Ngài sẽ che chở anh Và khôi phục địa vị công chính cho anh.
7 Dù ban đầu anh nhỏ mọn tầm thường Nhưng tương lai anh sẽ vô cùng rạng rỡ.
8 Xin anh học hỏi các thế hệ đã qua, Và nghiền ngẫm kinh nghiệm mà tổ tiên để lại.
9 Vì chúng ta mới ra đời hôm qua nên chẳng biết gì, Các ngày chúng ta trên đất khác nào một cái bóng.
10 Họ không dạy anh, không nói chuyện với anh, Không dùng lời lẽ nói ra những hiểu biết của họ sao?
11 Không đầm lầy, cây cói giấy mọc được sao? Chỗ không nước, sậy làm sao phát triển?
12 Khi còn non chưa cắt được, Chúng đã héo khô trước mọi loài cỏ khác.
13 Đường lối của kẻ quên Đức Chúa Trời là như vậy; Niềm hi vọng của kẻ vô đạo sẽ tiêu tan.
14 Chỗ người ấy dựa nương mong manh như tơ, Điều nó tin cậy giống như màng nhện.
15 Người ấy dựa vào nhà mình, nhưng nhà không đứng nổi; Bám chặt nhà, nhưng nhà lại lung lay.
16 Dưới ánh mặt trời, kẻ ác như cây xanh tươi, Cành lá phủ che khắp cả khu vườn.
17 Rễ nó quấn quanh đống đá Ăn sâu vào khe đá.
18 Nếu bị nhổ khỏi chỗ nó, Chỗ ấy sẽ từ chối nó: ‘Ta chưa hề thấy ngươi!’
19 Kìa, ấy là niềm vui của đường lối kẻ ác, Từ đất ấy còn mọc lên nhiều cây khác.
20 Kìa, Đức Chúa Trời không bỏ người trọn vẹn, Cũng không tiếp tay cho kẻ gian ác.
21 Chúa sẽ làm cho miệng anh đầy tiếng cười Và môi anh tràn ngập tiếng reo mừng.
22 Những kẻ ghét anh bị hổ thẹn bao trùm Và lều trại kẻ ác sẽ tiêu tan.”
1 Bấy giờ Gióp trả lời:
2 “Vâng, tôi biết như vậy. Nhưng làm thế nào loài người được Đức Chúa Trời xem là công chính?
3 Nếu muốn tranh luận với Ngài, Ngài hỏi một nghìn câu, chẳng ai đáp được một lời.
4 Đức Chúa Trời khôn ngoan và quyền năng vô hạn: Ai kháng cự Ngài mà vẫn được bình an?
5 Ngài dời núi, núi không hay biết; Trong cơn thịnh nộ, Ngài lật đổ núi non.
6 Ngài làm nền đất rung chuyển, Và các trụ nó lung lay;
7 Ngài truyền lệnh cho mặt trời đừng mọc, Và niêm phong ánh sáng các vì sao.
8 Một mình Ngài trải rộng các tầng trời, Đạp trên sóng biển.
9 Ngài dựng nên sao Bắc Đẩu, Thiên Lang, Chòm sao Thất Tinh và chòm sao Phương Nam.
10 Ngài làm những việc vĩ đại không sao hiểu thấu, Và vô số việc diệu kỳ.
11 Kìa, Ngài đến gần tôi, tôi cũng không thấy, Ngài lướt qua, tôi cũng chẳng nhận ra Ngài.
12 Kìa, Ngài tước đi rồi, ai giành lại được? Ai dám hỏi Ngài: ‘Chúa làm gì thế?’
13 Đức Chúa Trời không rút lại cơn giận của Ngài. Những kẻ giúp đỡ Ra-háp đều cúi rạp dưới chân Ngài.
14 Thế thì, tôi là ai mà dám đối đáp với Ngài, Tìm lý lẽ để tranh luận cùng Ngài?
15 Dù có vô tội, tôi cũng không dám đối đáp với Ngài; Nhưng tôi van xin lòng thương xót của Đấng Phán Xét tôi.
16 Nếu tôi kêu cầu Ngài và Ngài đáp lời tôi, Tôi cũng không tin rằng Ngài lắng tai nghe tiếng tôi.
17 Vì Ngài chà nát tôi trong cơn giông bão, Vô cớ gia tăng thương tích cho tôi.
18 Ngài không để cho tôi kịp thở, Nhưng dìm tôi trong nỗi đắng cay.
19 Nếu nói về sức mạnh, Ngài là Đấng quyền năng! Nếu nói về công lý, ai dám kiện cáo Ngài?
20 Dù tôi có vô tội, miệng tôi cũng kết án tôi; Dù tôi có trọn vẹn, Ngài cũng cho tôi thấy mình gian tà.
21 Dù tôi có trọn vẹn, tôi cũng chẳng bận tâm; Tôi chẳng còn muốn sống.
22 Tất cả đều như nhau, vì thế tôi nói: ‘Ngài tiêu diệt cả người trọn vẹn lẫn kẻ gian ác.’
23 Nếu tai ương thình lình gây chết chóc, Ngài nhạo cười nỗi thất vọng của người vô tội.
24 Đất nước rơi vào tay kẻ ác Ngài che mắt các quan tòa; Nếu không phải là Ngài, thì còn ai nữa?
25 Các ngày của con qua mau hơn người đưa tin khẩn; Chúng trôi đi không thấy được phước lành.
26 Chúng lướt nhanh như thuyền nan, Như đại bàng lao xuống con mồi.
27 Nếu con nói: ‘Con sẽ quên mọi nỗi phiền hà, Lột bỏ nét ưu sầu, rồi hớn hở tươi vui.’
28 Thì con lại sợ mọi nỗi đớn đau, Vì con biết Ngài không kể con là vô tội.
29 Con phải bị định tội, Thì con còn lao nhọc bào chữa làm gì?
30 Nếu con tắm trong tuyết Rửa tay bằng thuốc tẩy,
31 Mà Ngài lại dìm con xuống hố bùn Đến nỗi quần áo con còn ghê tởm con.
32 Vì Ngài không phải là loài người như con mà con dám đối đáp với Ngài, Để cùng ra tòa xét xử.
33 Chẳng có ai làm người phân xử giữa chúng tôi, Để đặt tay trên cả hai chúng tôi.
34 Ước gì Đấng ấy khiến Chúa rút ngọn roi Ngài khỏi con, Để con không còn kinh khiếp Ngài nữa.
35 Bấy giờ con sẽ nói mà không sợ Ngài nữa, Nhưng hiện giờ con chẳng được vậy đâu.”
1 “Tôi chẳng còn muốn sống, Nên tha hồ buông lời than thở, Tôi sẽ nói ra trong cay đắng của lòng tôi.
2 Tôi sẽ thưa với Đức Chúa Trời: ‘Xin đừng kết án con, Xin cho con biết vì sao Ngài buộc tội con.
3 Phải chăng Chúa hài lòng khi áp bức con, Khinh thường công trình tay Ngài tạo dựng, Nhưng lại mỉm cười với mưu chước của kẻ ác sao?
4 Lẽ nào Chúa có mắt xác thịt. Và cũng thấy như người phàm thấy sao?
5 Có phải các ngày của Chúa cũng giống các ngày loài người, Và các năm của Chúa cũng như năm con người sao?
6 Mà Chúa lại tra hỏi gian ác con, Và tìm kiếm tội lỗi con.
7 Dù Chúa biết con không phạm tội, Và không ai thoát khỏi tay Ngài?
8 Tay Chúa đã nắn nên con và tạo dựng con, Nhưng nay Ngài lại đổi ý và tiêu diệt con!
9 Xin Chúa nhớ rằng Ngài đã nhồi nắn con từ đất sét; Sao bây giờ Chúa lại muốn trả con trở về cát bụi?
10 Chẳng phải Chúa đã đổ con ra như sữa, Rồi làm con đặc lại như phó-mát?
11 Chúa đã mặc cho con da và thịt, Đan dệt con với xương và gân.
12 Chúa ban cho con sự sống và tình thương; Sự chăm sóc của Ngài gìn giữ tâm linh con.
13 Nhưng Ngài giấu các điều ấy trong lòng; Con biết đó là ý định của Ngài.
14 Nếu con phạm tội, Chúa sẽ ghi nhận, Không dung tha gian ác của con.
15 Nếu con phạm tội, thật khốn cho con! Mà nếu có công chính, con cũng chẳng dám ngẩng đầu, Vì con đầy sỉ nhục, Và trĩu nặng ưu phiền.
16 Nếu con ngẩng đầu lên, Ngài sẽ săn con như sư tử, Và làm điều lạ lùng để hại đến con.
17 Chúa đưa bằng chứng mới chống lại con, Và gia tăng cơn giận trên con, Đem viện quân liên tục tấn công con.
18 Sao Chúa đem con ra khỏi lòng mẹ? Ước gì lúc ấy con tắt hơi để không mắt nào thấy con!
19 Được vậy, con như chưa hề có, Từ lòng mẹ đi thẳng đến mộ phần.
20 Các ngày ngắn ngủi của con không sớm dừng lại sao? Xin cho con yên để mong tìm chút thanh thản cho mình;
21 Trước khi con ra đi mà không bao giờ trở lại, Đến xứ tối tăm và dưới bóng tử thần.
22 Tức là xứ của đêm đen, dưới bóng tử thần hỗn độn, Nơi ánh sáng không khác gì bóng tối.’”
1 Sô-pha người Na-a-ma lên tiếng:
2 “Phải chăng không ai đối đáp nổi kẻ nói nhiều, Và người khéo nói phải được coi là chính trực?
3 Có phải lúc anh khoe khoang người ta đều nín lặng, Và khi anh chế nhạo chẳng ai quở trách anh?
4 Vì anh thưa với Chúa: ‘Đạo lý con thuần khiết; Con trong sạch dưới mắt Chúa.’
5 Ôi, ước gì Đức Chúa Trời phán dạy, Và hé môi lên tiếng với anh.
6 Ước gì Ngài tỏ cho anh biết bí mật của sự khôn ngoan! Vì sự khôn ngoan Ngài rất sâu sắc. Vậy hãy biết rằng Đức Chúa Trời xử nhẹ cho anh hơn tội anh đã phạm.
7 Liệu anh có thể hiểu thấu sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời Và khám phá giới hạn của Đấng Toàn Năng không?
8 Điều ấy cao hơn các tầng trời, anh làm gì được? Sâu hơn âm phủ, làm sao anh hiểu thấu?
9 Dài hơn quả đất, Rộng hơn đại dương.
10 Nếu Đức Chúa Trời đến, bỏ tù anh Và lập tòa xét xử, thì ai ngăn cản được Ngài?
11 Vì Ngài biết ai là kẻ giả dối, Nên khi thấy tội ác, liệu Ngài không xem xét đến sao?
12 Khi nào lừa hoang sinh ra làm người Thì lúc ấy kẻ ngu đần mới trở nên thông sáng!
13 Vậy nếu anh dọn lòng mình trung thực Và đưa tay hướng về Chúa,
14 Ném xa tội ác khỏi tay mình, Không chứa chấp gian ác trong trại mình;
15 Thì anh sẽ ngẩng mặt lên không hổ thẹn; Thật vững vàng và không chút âu lo.
16 Anh sẽ quên đi bao điều khổ nạn, Chỉ nhớ lại như dòng nước chảy qua.
17 Đời anh sẽ rực sáng hơn ban trưa; Bóng tối trở thành ánh bình minh.
18 Anh sẽ vững tin vì có niềm hi vọng; Được chở che và ngơi nghỉ an lành.
19 Anh sẽ nằm nghỉ, không ai làm anh sợ Và lắm người xin ân huệ từ anh.
20 Nhưng mắt kẻ ác bị mỏi mòn; Không tìm ra lối thoát, Chỉ mong mau trút hơi thở cuối cùng.”
1 Gióp đáp lại rằng:
2 “Phải rồi, các anh là tiếng nói của dân chúng, Khi các anh qua đời, sự khôn ngoan chắc sẽ ra đi theo các anh.
3 Nhưng tôi cũng hiểu biết như các anh; Chẳng thua kém các anh đâu. Ai lại chẳng biết những việc như thế?
4 Tôi đang là trò cười cho bè bạn, Dù tôi đã cầu khẩn Đức Chúa Trời và Ngài đáp lời tôi; Người trung thực trọn vẹn lại thành trò cười cho thiên hạ!
5 Người may mắn khinh thường người bất hạnh. Kẻ trượt chân còn bị đẩy cho nhào.
6 Trại của kẻ cướp được bình an, Những kẻ chọc giận Đức Chúa Trời, Và kẻ tự cao tự đại được sống yên ổn.
7 Nhưng hãy hỏi loài thú, chúng sẽ dạy cho anh; Hỏi chim trời, chúng sẽ cho anh biết.
8 Hoặc hãy nói với đất, đất sẽ chỉ dạy anh; Nói với cá biển, chúng sẽ giải thích cho anh hiểu.
9 Trong các loài nầy, loài nào lại chẳng biết Rằng tay Đức Giê-hô-va đã làm nên những điều ấy?
10 Ngài nắm trong tay sự sống của mọi sinh vật Và hơi thở của cả loài người.
11 Chẳng phải tai biết phân biệt lời nói, Như miệng thưởng thức món ăn sao?
12 Người già cả có sự khôn ngoan, Người sống lâu thêm hiểu biết.
13 Nhưng khôn ngoan và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời; Ngài đầy mưu lược và hiểu biết.
14 Ngài phá hủy, không ai cất lại được; Ngài giam cầm, không ai giải thoát nổi.
15 Ngài giữ nước lại, sông liền khô cạn; Ngài cho mưa xuống, đất ruộng ngập tràn.
16 Sức mạnh và mưu trí thuộc về Ngài; Kẻ lừa gạt lẫn người bị lừa đều ở trong tay Ngài.
17 Ngài khiến kẻ mưu sĩ đi chân đất, Các thẩm phán ra điên dại,
18 Ngài tháo cân đai của các vua, Và quấn khố quanh lưng họ;
19 Ngài khiến thầy tế lễ đi chân đất, Và lật đổ kẻ cường quyền.
20 Ngài khiến những người đáng tin cậy phải câm lặng, Các trưởng lão mất trí phán đoán.
21 Ngài giáng sỉ nhục trên người sang trọng, Tháo cân đai của kẻ cường quyền.
22 Ngài đưa những điều mầu nhiệm ra khỏi bóng tối, Phơi bày bóng sự chết ra ánh sáng.
23 Ngài khiến các dân hưng thịnh rồi tiêu diệt đi; Mở rộng bờ cõi cho các nước rồi khiến chúng diệt vong.
24 Ngài khiến thủ lĩnh các dân trên đất ra ngu muội, Đi lang thang trong hoang mạc không đường ra.
25 Chúng mò mẫm trong bóng đêm mù mịt; Ngài để chúng đi nghiêng ngả tựa người say.”
1 “Chính mắt tôi đã thấy mọi điều đó, Chính tai tôi đã nghe và hiểu.
2 Điều gì các anh biết, tôi cũng biết; Tôi chẳng kém gì các anh đâu.
3 Nhưng tôi muốn thưa với Đấng Toàn Năng, Và ước ao được biện luận với Đức Chúa Trời.
4 Còn các anh chỉ khéo giả nhân giả nghĩa, Tất cả các anh đều là thứ lang băm vô dụng.
5 Phải chi các anh nín lặng Thì các anh mới thật sự khôn ngoan!
6 Xin hãy nghe lời biện luận của tôi, Và lắng nghe lời bào chữa từ miệng tôi.
7 Có phải vì Đức Chúa Trời mà các anh nói lời độc ác? Hay vì Ngài mà các anh bày chuyện điêu ngoa?
8 Các anh muốn thiên vị Đức Chúa Trời Và biện bạch cho Ngài sao?
9 Các anh có vui lòng để Ngài dò xét các anh không? Hay các anh tưởng có thể lừa gạt Ngài như lừa gạt loài người?
10 Chắc chắn Ngài sẽ quở trách các anh Nếu các anh âm thầm thiên vị Ngài.
11 Phải chăng sự uy nghi Ngài không làm các anh khiếp sợ? Sự kinh hãi Ngài không giáng trên các anh sao?
12 Châm ngôn của các anh vô dụng như tro; Lập luận của các anh yếu như đất bùn.
13 Hãy để yên cho tôi nói, Để mặc tôi, dù xảy đến điều gì.
14 Tại sao tôi lấy răng cắn thịt mình Và sẵn sàng liều mạng sống?
15 Dù Chúa giết tôi, tôi vẫn tin cậy Ngài; Và tôi sẽ bênh vực lối sống tôi trước mặt Ngài.
16 Đây chính là sự cứu rỗi cho tôi, Vì kẻ vô đạo không dám đến trước mặt Chúa.
17 Hãy chú tâm nghe lời tôi nói, Và để lời giãi bày của tôi lọt vào tai các anh!
18 Nầy, tôi đã sẵn sàng giải trình trường hợp mình, Tôi biết tôi sẽ được xưng công chính.
19 Có ai sẽ tranh luận và thắng tôi không? Nếu thế thì tôi sẽ cam lòng chịu chết.
20 Có hai điều xin Chúa miễn trừ cho con, Thì con sẽ không tránh mặt Ngài:
21 Xin Chúa rút tay khỏi con Và đừng để nỗi kinh hoàng làm con khiếp đảm.
22 Bấy giờ Ngài gọi, con sẽ thưa, Hoặc con lên tiếng thì Chúa trả lời.
23 Con đã phạm bao nhiêu gian ác lỗi lầm? Xin Chúa cho con biết sự vi phạm và tội lỗi con.
24 Tại sao Chúa giấu mặt, Và xem con như kẻ thù của Ngài?
25 Chúa muốn dày vò chiếc lá bay trong gió, Và đuổi theo một cọng rơm khô sao?
26 Vì Chúa ghi lại bao điều cay đắng để kết tội con Và bắt con gánh chịu tội ác thuở thanh xuân,
27 Tra chân con vào cùm, Theo dõi mọi đường lối của con Và định giới hạn cho mỗi dấu chân con?
28 Sự sống con tan tành như gỗ mục, Như chiếc áo đã bị mối ăn.”
1 “Loài người bởi người nữ sinh ra Sống tạm ít ngày nhưng dẫy đầy phiền muộn.
2 Như đóa hoa sớm nở chiều tàn, Con người thoáng qua như chiếc bóng, không ở lâu dài.
3 Thế sao Chúa còn để mắt đến, Mà đem con ra xét xử?
4 Ai có thể lấy điều thanh sạch ra từ điều ô uế? Chẳng một ai!
5 Số ngày của đời người do Chúa ấn định, Số tháng năm tùy thuộc nơi Ngài, Và giới hạn Chúa cũng định rồi, làm sao vượt qua được.
6 Xin Chúa ngoảnh mặt để họ yên thân, Được thảnh thơi, như người làm thuê sau ngày làm việc.
7 Vì cây cối vẫn còn hi vọng, Bị đốn rồi vẫn cứ mọc lên, Không ngừng đâm chồi nẩy lộc.
8 Dù rễ nó đã già cỗi dưới đất, Gốc chết dần trong cát bụi;
9 Vừa có hơi nước, nó liền mọc chồi, Vươn cành ra như một cây non.
10 Nhưng loài người chết thì nằm bất động, Khi tắt hơi họ đến nơi nào?
11 Như nước rút khỏi hồ, Như lòng sông cạn khô nứt nẻ;
12 Loài người đã nằm xuống thì không trỗi dậy nữa, Khi bầu trời còn đó, họ vẫn không thức giấc, Và chẳng ai đánh thức họ khỏi giấc ngủ say.
13 Ôi! Ước gì Chúa giấu con trong âm phủ, Che khuất con cho đến khi Ngài nguôi cơn giận Và định một kỳ hạn để nhớ đến con!
14 Nếu loài người chết, họ có sống lại được không? Trọn những ngày lao khổ nhọc nhằn, Con vẫn đợi cho đến chừng đau khổ qua đi.
15 Chúa gọi con, con xin thưa lại; Chúa đoái đến công việc của tay Ngài.
16 Bây giờ Ngài đếm bước chân con, Nhưng không còn xem xét các tội lỗi con;
17 Các vi phạm con được niêm phong trong túi, Gian ác con được Chúa phủ che.
18 Nhưng, như núi non sụp đổ tan tành, Đá tảng bị dời đi nơi khác;
19 Như nước chảy đá mòn, Như lụt cuốn trôi bụi đất; Chúa phá tan hi vọng của con người.
20 Chúa đánh bại con người và họ phải qua đi; Ngài thay đổi diện mạo và đuổi họ đi.
21 Con cái họ được tôn trọng, họ cũng chẳng biết; Hoặc chúng có bị xem thường, họ cũng chẳng hay.
22 Thân xác đớn đau một mình họ chịu, Linh hồn sầu khổ chỉ một mình họ hay.”
1 Ê-li-pha người Thê-man nói:
2 “Chẳng lẽ người khôn ngoan lại đối đáp bằng tri thức vu vơ, Và chứa gió đông đầy bụng?
3 Hoặc dùng lập luận vô bổ, Lời nói nhảm nhí mà biện hộ cho mình sao?
4 Anh gạt bỏ lòng kính sợ Đức Chúa Trời, Ngăn cản việc suy ngẫm trước mặt Ngài.
5 Vì tội ác anh dạy cho miệng anh nói, Và anh chọn lời lẽ của kẻ xảo quyệt.
6 Miệng anh kết án anh chứ chẳng phải tôi; Và chính môi anh làm chứng chống lại anh.
7 Có phải anh là người ra đời đầu tiên, Hay được dựng nên trước cả núi non không?
8 Chẳng lẽ anh đã nghe được cuộc luận bàn của Đức Chúa Trời, Và thâu tóm hết khôn ngoan về cho mình sao?
9 Có điều gì anh biết mà chúng tôi không biết? Có điều gì anh hiểu mà chúng tôi không hiểu chăng?
10 Giữa chúng tôi cũng có người tóc bạc, kẻ cao niên, Lớn tuổi hơn cả thân sinh anh.
11 Lời an ủi của Đức Chúa Trời Và tiếng êm dịu đã dành cho anh, còn quá ít với anh sao?
12 Tại sao lòng anh bối rối, Và mắt anh quắc lên?
13 Đến nỗi tâm linh anh chống lại Đức Chúa Trời, Và miệng anh tuôn ra những lời như thế?
14 Loài người là gì mà cho là thanh sạch? Kẻ do người nữ sinh ra là ai mà tự nhận là công chính?
15 Kìa, Đức Chúa Trời không tín nhiệm các thiên sứ Ngài, Dưới mắt Ngài, các tầng trời cũng chẳng trong sạch,
16 Huống chi một kẻ xấu xa, đồi bại, Phạm tội ác như uống nước lã!
17 Hãy lắng nghe, tôi sẽ chỉ cho anh; Tôi sẽ kể cho anh điều tôi đã thấy,
18 (Là điều các nhà hiền triết đã nói, Và không giấu điều gì tổ phụ họ truyền lại,
19 Chỉ có họ mới được ban đất đai, Không một dân ngoại nào được sống giữa họ).
20 Kẻ gian ác trọn đời đau quằn quại, Suốt tháng năm phải chịu cảnh bạo tàn.
21 Tiếng kinh hoàng luôn gào thét bên tai; Đang yên ổn thì quân cướp tràn đến.
22 Không tin rằng mình thoát khỏi tối tăm, Mà số phận đã dành cho gươm giáo.
23 Khi bị ném ra ngoài làm mồi cho kên kên, Nó biết rằng ngày tăm tối đã gần.
24 Khốn khó sầu não làm cho nó khiếp kinh, Dồn ép nó như một vua sẵn sàng chinh chiến.
25 Vì nó đưa tay lên chống cự Đức Chúa Trời, Và kiêu căng thách thức Đấng Toàn Năng.
26 Núp dưới chiếc khiên dày cộm, Nó bướng bỉnh tấn công Chúa,
27 Vì nó làm cho mặt mình phì nộn Hai hông căng phình mỡ.
28 Nó ở trong các thành bị tàn phá, Trong các nhà bỏ hoang, Những ngôi nhà đợi ngày sụp đổ.
29 Nó không giàu có nổi, của cải chẳng bền lâu, Sản nghiệp nó không lan ra trên đất.
30 Nó sẽ chẳng thoát được tối tăm, Lửa làm khô héo chồi của nó Hơi thở từ miệng Đức Chúa Trời sẽ cuốn nó đi.
31 Nó tin cậy vào sự hư không mà tự lừa dối mình; Vì sự hư không sẽ là phần thưởng của nó.
32 Nó sẽ được báo ứng đầy đủ trước kỳ hạn, Còn các cành nó sẽ chẳng xanh tươi.
33 Nó như cây nho rụng trái non; Như cây ô-liu không đậu hoa.
34 Vì dòng dõi kẻ vô đạo không sinh sản, Lửa sẽ thiêu trại của kẻ ăn hối lộ.
35 Chúng mang thai điều ác sẽ sinh ra điều hung dữ, Lòng của chúng chuẩn bị kế gian tà.”
1 Gióp đáp rằng:
2 “Những điều như thế tôi đã nghe nhiều rồi; Tất cả các anh đều là những kẻ an ủi gây bực bội.
3 Các lời viển vông nầy không bao giờ dứt sao? Điều gì thúc giục anh nói mãi không ngưng?
4 Nếu các anh ở vào hoàn cảnh của tôi, Tôi cũng có thể nói như các anh; Tôi cũng sửa soạn lời lẽ chống lại các anh, Và lắc đầu nhìn các anh.
5 Nhưng miệng tôi sẽ khích lệ các anh, Lời an ủi từ môi tôi sẽ xoa dịu nỗi đau của các anh.
6 Nếu tôi nói, nỗi đau của tôi không thuyên giảm, Còn tôi nín lặng, liệu nó có lìa xa?
7 Nhưng bây giờ Chúa khiến tôi mòn mỏi, Làm cho cả nhà tôi kinh hoàng.
8 Ngài khiến da tôi nhăn nheo Là bằng cớ chống lại tôi; Thân tôi còm cõi Là bằng cớ nữa tố cáo thẳng vào mặt tôi.
9 Trong cơn thịnh nộ, Ngài xé tôi và ghét bỏ tôi; Ngài nghiến răng với tôi Kẻ thù tôi trừng mắt nhìn tôi.
10 Chúng hả miệng chế nhạo tôi, Thô bạo tát vào má tôi; Kết bè kết đảng chống lại tôi.
11 Đức Chúa Trời phó tôi cho phường bất chính, Ném tôi vào tay bọn gian tà.
12 Tôi đang an ổn thì Ngài bẻ tôi ra; Nắm cổ tôi và đập tôi tan tành; Ngài đặt tôi làm bia để bắn.
13 Các mũi tên Ngài bao vây tôi, Ngài bắn thủng lưng tôi không thương xót, Khiến mật tôi đổ ra trên đất.
14 Ngài gây cho tôi hết thương tích nầy đến thương tích khác, Xông vào tôi như một dũng sĩ.
15 Tôi may áo tang phủ lên da thịt, Chôn vùi sức lực tôi vào bụi đất.
16 Mặt tôi sưng đỏ lên vì khóc, Bóng sự chết hiện trên mí mắt tôi.
17 Dù trong đôi tay tôi không có bạo lực, Và lời cầu nguyện tôi trong sạch.
18 Hỡi đất, đừng vùi lấp máu ta! Hãy để tiếng kêu than của ta cứ mãi vang xa!
19 Ngay giờ nầy Đấng làm chứng cho tôi ở trên trời, Đấng bảo lãnh tôi ở nơi cao.
20 Các bạn tôi chế nhạo tôi, Nhưng tôi đổ nước mắt mà khóc với Đức Chúa Trời,
21 Như một người biện hộ cho con người với Đức Chúa Trời, Như con cái loài người biện hộ cho bạn hữu mình!
22 Vì tháng năm ít ỏi sắp trôi qua, Tôi sẽ đi con đường mà tôi không trở lại.”
1 “Hơi thở con đã tắt, các ngày con đã tàn, Mồ mả chờ đợi con!
2 Bọn nhạo báng vây quanh con, Mắt con luôn thấy sự khiêu khích của chúng.
3 Xin Chúa bảo lãnh con bên Chúa, Vì ngoài Ngài ai sẽ bảo lãnh con?
4 Vì Chúa khiến tâm trí chúng mù tối, Nên Ngài không cho chúng chiến thắng.
5 Kẻ nào tố cáo bạn bè để kiếm thưởng, Mắt của con cái chúng sẽ bị hao mòn.”
6 “Ngài khiến tôi thành trò cười cho thiên hạ, Để mọi người khạc nhổ vào mặt tôi.
7 Mắt tôi mờ đi vì sầu khổ, Toàn thân tôi chỉ còn là chiếc bóng.
8 Thấy tôi, người ngay thẳng phải bàng hoàng, Người vô tội sẽ nổi giận với bọn vô đạo.
9 Nhưng người công chính giữ vững đường lối mình, Người có đôi tay trong sạch sẽ ngày càng mạnh mẽ.
10 Các anh ơi, hãy biện luận nữa đi! Nhưng trong các anh, tôi chẳng thấy ai khôn ngoan.
11 Các ngày tôi qua đi, kế hoạch tôi gãy đổ Cùng với những khát vọng của lòng tôi.
12 Họ lấy đêm làm ngày; Trong bóng tối họ nói rằng ánh sáng gần kề.
13 Nếu tôi hi vọng âm phủ là nhà mình, Và trải giường ra trong bóng tối;
14 Nếu tôi gọi huyệt mộ: ‘Đây là cha tôi’, Và gọi sâu bọ rằng: ‘Đây là mẹ, là chị tôi’;
15 Thì hi vọng tôi ở đâu? Ai sẽ thấy được niềm hi vọng của tôi?
16 Có phải hi vọng đó cũng xuống cửa âm phủ với tôi, Khi chúng ta cùng đi vào bụi đất?”
1 Binh-đát người Su-a đáp rằng:
2 “Các anh gài bẫy trong lời nói cho đến bao giờ? Hãy suy xét đi, rồi chúng tôi sẽ nói.
3 Tại sao các anh xem chúng tôi như thú vật? Và nhìn chúng tôi như kẻ dại khờ?
4 Anh tự dày vò mình trong cơn nóng giận; Chẳng lẽ vì anh mà trái đất bị bỏ hoang, Và tảng đá phải dời đi nơi khác?
5 Thật ánh sáng của kẻ ác rồi sẽ tắt, Ngọn lửa của nó không còn chiếu sáng.
6 Ánh sáng trong trại nó sẽ tối om, Ngọn đèn trên đầu nó vụt tắt.
7 Các bước đi mạnh dạn của nó trở nên yếu ớt, Các mưu chước nó làm cho nó ngả nghiêng.
8 Vì chân nó mắc vào bẫy lưới, Và bước đi trên cạm bẫy.
9 Một cái bẫy tóm lấy nó ngay gót chân, Và lưới bủa sẽ bắt giữ nó.
10 Dây giăng bẫy nó ngầm trong đất, Bẫy gài bắt nó trên đường đi.
11 Nỗi kinh hoàng bốn bề gây khiếp đảm, Và bám đuổi gót chân nó.
12 Sức lực nó suy kiệt vì đói khát, Và tai ương chờ chực sát bên mình.
13 Bệnh tật làm da thịt nó hao mòn, Con đầu lòng của tử thần tiêu nuốt toàn thân nó.
14 Nó sẽ bị kéo ra khỏi trại là nơi nó nương dựa, Và bị giải đến với vua kinh hoàng.
15 Kẻ không thuộc về nó sẽ ở trong trại nó; Còn diêm sinh rải khắp nơi nó ở.
16 Bên dưới rễ nó khô lại, Bên trên cành nó héo đi.
17 Trong xứ kỷ niệm nó sẽ không còn, Ngoài xứ tên tuổi nó chẳng được ai nhắc đến.
18 Nó bị đuổi khỏi vùng ánh sáng để vào cõi tối tăm, Và bị trục xuất khỏi thế gian.
19 Giữa dân tộc mình, nó không còn con cháu, Nơi nó ở chẳng một ai sống sót.
20 Trước số phận của nó, người phương tây sững sờ, Người phương đông kinh hoàng.
21 Thật, đó là nơi ở của kẻ gian ác, Số phận của kẻ không nhận biết Đức Chúa Trời.”
1 Gióp đáp lời rằng:
2 “Các anh còn muốn dùng lời lẽ dày vò tôi, Đay nghiến tôi cho đến bao giờ?
3 Hàng chục lần rồi các anh quở trách tôi, Ngược đãi tôi mà không hổ thẹn sao?
4 Dù tôi có thật sự lầm lỗi, Thì lỗi lầm đó cũng chỉ liên lụy một mình tôi.
5 Nếu thật các anh muốn lên mặt với tôi, Đem nỗi sỉ nhục của tôi ra chỉ trích;
6 Thì hãy biết rằng chính Đức Chúa Trời đã bạc đãi tôi, Bủa lưới Ngài quanh tôi.
7 Nầy, tôi có kêu lên: ‘Con bị ngược đãi!’ cũng chẳng được đáp lời; Tôi có gọi thật to, cũng không thấy công lý.
8 Chúa đã chận đường tôi, tôi không sao qua được. Ngài phủ bóng tối trên mọi nẻo tôi đi.
9 Ngài đã tước bỏ vinh quang của tôi, Cất mão triều khỏi đầu tôi.
10 Chúa đánh đổ tôi tứ phía, và tôi tiêu tán; Ngài nhổ niềm hi vọng tôi như người ta nhổ cây.
11 Cơn phẫn nộ Ngài phừng lên với tôi, Ngài xem tôi là kẻ thù của Ngài.
12 Các đạo quân Ngài ùn ùn kéo đến, Đắp lũy tấn công tôi, Và đóng trại chung quanh trại tôi.
13 Ngài khiến anh em tôi lìa xa tôi, Những người quen biết tôi trở nên kẻ xa lạ.
14 Họ hàng lìa bỏ tôi, Bạn bè thân thiết bỏ rơi tôi.
15 Những người khách trọ trong nhà đã quên tôi, Các tớ gái tôi xem tôi như khách lạ, Trong mắt họ tôi là người ngoài cuộc.
16 Tôi gọi đầy tớ, nó không thèm đáp lại; Ngay cả khi tôi mở miệng khẩn nài.
17 Hơi thở tôi khiến vợ tôi ghê tởm; Anh em tôi cũng gớm ghê tôi.
18 Thậm chí trẻ con cũng khinh khi tôi, Tôi vừa đứng dậy, chúng đã nhạo báng tôi.
19 Tất cả bạn thân đều ghét bỏ tôi, Những người tôi thương mến đã trở mặt với tôi.
20 Tôi chỉ còn da bọc lấy xương, Và thoát chết với hai bàn tay trắng.
21 Các bạn ơi, hãy thương xót tôi, hãy thương xót tôi! Vì tay Đức Chúa Trời đã đánh tôi.
22 Sao các anh truy đuổi tôi như Đức Chúa Trời? Chưa chán thịt tôi sao?
23 Ôi! Ước gì những lời tôi được ghi lại, Được chép vào một quyển sách!
24 Dùng bút sắt và chì, Khắc vào bia đá lưu lại đến muôn đời!
25 Còn tôi, tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống, Đến cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất.
26 Dù khi da thịt tôi tan nát, Với xác thân nầy tôi vẫn thấy Đức Chúa Trời;
27 Chính tôi sẽ thấy Ngài, Mắt tôi sẽ nhìn ngắm Ngài, chứ không phải người khác; Lòng tôi mong chờ đến héo hon!
28 Nếu các anh nói: ‘Làm sao chúng ta đuổi theo nó đây?’ Và: ‘Nguyên nhân tai họa đều do nó cả’;
29 Thì hãy sợ lưỡi gươm, Vì cơn giận các anh đáng bị gươm trừng phạt, Để các anh biết rằng sẽ có ngày phán xét.”
1 Xô-pha người Na-a-ma đáp rằng:
2 “Tư tưởng tôi thúc giục tôi phải nói, Vì vậy tâm hồn tôi bối rối bất an.
3 Tôi đã nghe lời khiển trách xúc phạm đến tôi; Trí khôn tôi thúc giục tôi đáp lời.
4 Anh có biết rằng từ thuở xa xưa, Từ khi loài người có mặt trên thế gian;
5 Sự đắc chí của kẻ ác luôn ngắn ngủi, Và niềm vui của kẻ vô đạo chỉ trong khoảnh khắc?
6 Dù sự kiêu căng nó cao tận trời, Đầu nó đụng đến các tầng mây,
7 Thì nó cũng bị tiêu diệt đời đời như chính phân nó; Những ai đã thấy nó đều hỏi: ‘Nó đâu rồi?’
8 Nó bay đi như một giấc mơ, không ai tìm lại được; Bị xua đi như dị tượng ban đêm.
9 Con mắt từng thấy nó sẽ không còn thấy nó nữa, Chỗ nó cũng sẽ chẳng nhìn đến nó.
10 Con cái nó sẽ cầu cạnh người nghèo, Tự tay nó phải trả lại tài sản.
11 Xương cốt nó tràn đầy sức trẻ, Nhưng phải nằm chung với nó trong bụi đất.
12 Dù gian ác trở nên ngọt trong miệng nó, Được nó giấu dưới lưỡi,
13 Khi phải miễn cưỡng từ bỏ gian ác, Nó vẫn cố giữ gian ác trong miệng mình.
14 Như thức ăn biến chất khi vào nội tạng, Gian ác trở thành mật rắn hổ trong bụng nó.
15 Nó nuốt của cải vào rồi phải mửa ra, Đức Chúa Trời sẽ tống của cải ấy ra khỏi bụng nó.
16 Nó sẽ bú nọc rắn hổ; Lưỡi rắn lục sẽ giết chết nó.
17 Nó sẽ không thấy các dòng sông, Hay dòng suối tuôn chảy mật và sữa.
18 Kết quả từ công việc nó, nó phải trả lại, Không thể nuốt trôi; Lợi nhuận từ buôn bán, Nó cũng không được hưởng.
19 Vì nó đã ức hiếp và bỏ bê kẻ nghèo, Chiếm nhà cửa mà nó không xây cất.
20 Vì nó không biết sự an tịnh trong lòng, Chẳng thứ gì nó thích mà thoát khỏi tay nó.
21 Khi nó đã ăn thì chẳng sót lại thứ gì; Cho nên sự thịnh vượng nó không bền.
22 Đang lúc dư dật nó bị cùng túng; Mọi nỗi khốn cùng ập xuống trên nó.
23 Đức Chúa Trời giáng thịnh nộ trên nó, Làm cho đầy lòng tham nó, Tuôn mưa thịnh nộ làm thức ăn cho nó.
24 Nó tránh khỏi khí giới bằng sắt Thì cây cung đồng sẽ xuyên thủng nó.
25 Khi rút mũi tên ra khỏi thân nó, Và mũi gươm sáng ngời ra khỏi gan nó, Thì nỗi kinh hoàng bao trùm nó.
26 Bóng tối mịt mùng dành cho kho tàng nó; Lửa không do con người sẽ thiêu nuốt nó, Những gì còn sót lại trong trại nó cũng sẽ bị thiêu rụi.
27 Các tầng trời sẽ phô bày gian ác nó, Và đất sẽ nổi lên chống lại nó.
28 Tài sản gia đình nó sẽ bị đem đi mất, Bị cuốn trôi trong ngày Chúa nổi giận.
29 Đó là phần Đức Chúa Trời dành cho kẻ ác, Là cơ nghiệp Chúa định cho nó.”
1 Gióp đáp rằng:
2 “Hãy chú tâm nghe lời tôi nói, Đó là niềm an ủi các anh dành cho tôi.
3 Hãy chịu khó nghe tôi thổ lộ, Tôi nói xong, các anh cứ nhạo cười.
4 Còn tôi, tôi đã than thở với loài người sao? Làm sao tâm trí tôi không mất kiên nhẫn được?
5 Hãy nhìn tôi và cảm thấy sững sờ, Mau lấy tay che miệng lại.
6 Mỗi khi nghĩ đến, tôi thấy bàng hoàng, Rùng mình rởn ốc.
7 Tại sao kẻ gian ác vẫn sống nhởn nhơ, Càng về già càng trở nên cường thịnh?
8 Chúng nhìn thấy dòng dõi mình đứng vững, Tận mắt xem con cháu trước mặt mình.
9 Nhà cửa chúng an toàn không sợ hãi, Ngọn roi của Đức Chúa Trời chẳng đụng đến chúng.
10 Bò đực chúng truyền giống không hư, Bò cái chúng sinh con không sẩy.
11 Chúng cho đám trẻ nô đùa như bầy chiên, Con cái tung tăng nhảy múa.
12 Ca hát theo tiếng đàn tiếng trống, Reo hò trong tiếng sáo tiếng kèn.
13 Chúng hưởng những ngày tháng phồn vinh, Rồi bình an đi xuống âm phủ.
14 Chúng nói với Đức Chúa Trời: ‘Xin lìa xa chúng tôi! Chúng tôi không muốn biết đường lối Ngài.
15 Đấng Toàn Năng là ai mà chúng tôi phải phục vụ? Cầu khẩn Ngài chúng tôi được ích chi?’
16 Nhưng sự phồn vinh đâu có nằm trong tay chúng? Mưu chước kẻ gian tà tôi sẽ lánh xa đi!
17 Có bao giờ đèn kẻ ác vụt tắt, Và tai ương lại giáng trên chúng? Có bao giờ Đức Chúa Trời nổi giận Mà phân phát đớn đau cho chúng?
18 Có bao giờ chúng phải như rơm trước gió, Như trấu cho bão cuốn đi chưa?
19 Các anh nói: ‘Đức Chúa Trời dành tội ác chúng cho con cái chúng gánh chịu.’ Xin Ngài cứ báo đáp cho chính chúng, để chúng biết.
20 Xin cho chính mắt chúng thấy rõ cảnh diệt vong, Và uống chén thịnh nộ của Đấng Toàn Năng.
21 Vì khi số ngày định cho chúng đã hết, Chúng còn quan tâm đến gia quyến làm gì nữa?
22 Ai dám dạy tri thức cho Đức Chúa Trời, Vì chính Ngài phán xét những người ở nơi cao?
23 Có người chết khi còn mạnh khỏe, Đang sống trong thư thái an nhàn;
24 Thân thể còn tráng kiện, Tủy trong xương đang lúc tràn đầy.
25 Có người chết với tâm hồn đắng cay, Chưa bao giờ nếm mùi phước hạnh.
26 Cả hai đều nằm trong cát bụi, Mặc cho dòi bọ phủ che.
27 Nầy, tôi biết tư tưởng các anh, Các âm mưu toan tính hại đời tôi.
28 Vì các anh hỏi: ‘Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Lều kẻ gian ác đóng tại nơi nào?’
29 Chẳng lẽ các anh không hỏi khách qua đường, Cũng không nghe lời họ làm chứng:
30 ‘Trong ngày hoạn nạn kẻ ác được tai qua nạn khỏi, Và trong ngày thịnh nộ nó được thoát thân’ sao?
31 Trước mặt nó, ai lên tiếng về lối sống nó, Và báo trả điều nó đã làm?
32 Khi nó được đưa đến huyệt mả, Phần mộ nó có người canh giữ.
33 Đất trong thung lũng thật êm dịu cho nó; Mọi người đưa đám nó, Kẻ trước người sau nhiều vô kể.
34 Vậy, các anh an ủi tôi những điều vô bổ ấy làm gì? Những câu đáp của các anh chẳng qua là dối trá.”
1 Ê-li-pha người Thê-man đáp lời:
2 “Loài người có ích gì cho Đức Chúa Trời không? Ngay người khôn ngoan cũng chỉ có ích cho chính mình.
3 Đấng Toàn Năng có vui không khi anh sống công chính? Ngài được lợi gì nếu anh sống trọn lành?
4 Có phải vì anh kính sợ Ngài mà Ngài quở trách, Và phán xét anh không?
5 Chẳng phải sự gian ác anh rất lớn? Tội lỗi anh vô cùng vô tận đó sao?
6 Vì anh vô cớ buộc anh em mình phải nộp của cầm, Lột trần họ không còn mảnh áo che thân.
7 Người kiệt sức anh không cho nước uống, Kẻ đói lả anh chẳng ban bánh ăn.
8 Còn kẻ quyền thế được sở hữu đất đai; Người ưu đãi được sống trên đất đó.
9 Người góa bụa anh đuổi về tay trắng, Kẻ mồ côi anh dứt bỏ chốn nương nhờ.
10 Vì vậy, cạm bẫy gài quanh anh, Nỗi kinh hoàng bất chợt tấn công anh.
11 Bóng tối bao trùm làm anh không nhìn thấy; Nước lụt nhận chìm anh.
12 Chẳng phải Đức Chúa Trời ngự trên cao, tận trên các tầng trời sao? Hãy xem các vì sao cao nhất, vời vợi biết bao!
13 Vì vậy anh nói: ‘Đức Chúa Trời biết điều gì? Ngài có thể phán xét qua bóng tối mịt mùng được sao?
14 Đám mây dày đặc che phủ Ngài nên Ngài chẳng thấy; Ngài bước đi trên các tầng trời.’
15 Anh vẫn tiếp tục giữ con đường xưa, Con đường mà kẻ gian ác đã đi sao?
16 Chúng sẽ bị quét sạch trước kỳ định, Nền móng chúng bị cuốn trôi theo dòng nước;
17 Chúng nói với Đức Chúa Trời: ‘Xin lìa xa chúng con! Đấng Toàn Năng có thể làm gì cho chúng con chứ?’
18 Dù vậy Ngài ban cho nhà chúng đầy vật tốt: Ước gì tôi xa lánh được mưu kế của kẻ ác!
19 Người công chính vui mừng khi thấy kẻ ác bị phạt; Còn người vô tội sẽ nhạo cười chúng rằng:
20 ‘Kẻ thù chúng ta chắc chắn bị diệt vong, Những gì sót lại của chúng sẽ bị lửa thiêu đốt.’
21 Vậy, hãy quy phục Đức Chúa Trời và hòa thuận với Ngài, Thì phước hạnh sẽ giáng trên anh.
22 Hãy tiếp nhận luật pháp từ miệng Ngài, Ghi tạc lời Ngài vào lòng anh.
23 Nếu quay về với Đấng Toàn Năng, anh sẽ được phục hồi. Nếu anh loại bỏ gian ác khỏi trại mình,
24 Ném vàng vào bụi đất, Và quăng vàng Ô-phia xuống đá cuội trong lòng khe,
25 Thì Đấng Toàn Năng sẽ là vàng, Là bạc quý cho anh.
26 Bấy giờ anh sẽ hân hoan trong Đấng Toàn Năng, Và ngẩng mặt lên chiêm ngưỡng Đức Chúa Trời.
27 Anh sẽ cầu khẩn Ngài, Ngài sẽ lắng nghe anh; Và anh sẽ làm trọn lời nguyện ước của mình.
28 Anh quyết định việc gì, việc ấy sẽ thành tựu; Ánh sáng soi chiếu đường lối anh.
29 Khi chúng bị sỉ nhục, anh sẽ nói: ‘Tại chúng kiêu ngạo!’ Vì Đức Chúa Trời cứu vớt người khiêm nhường.
30 Ngài sẽ giải cứu cả những người có tội; Cho nên anh sẽ được giải cứu nhờ đôi tay thanh sạch của mình.”
1 Gióp đáp rằng:
2 “Đến hôm nay, tiếng than của tôi vẫn còn cay đắng, Tay tôi muốn ngăn chận tiếng rên xiết của mình.
3 Ước gì tôi biết nơi nào tìm được Chúa, Tôi sẽ đến chầu trước ngai Ngài!
4 Tôi sẽ trình bày trường hợp tôi trước Ngài, Miệng tôi đưa ra đầy đủ lý lẽ.
5 Tôi sẽ biết những lời Ngài đáp lại, Và hiểu điều Ngài muốn phán dạy tôi.
6 Chẳng lẽ Chúa đem quyền năng lớn lao của Ngài ra tranh luận với tôi sao? Không, Ngài sẽ lắng nghe tôi.
7 Tại đó người ngay thẳng sẽ biện luận với Ngài, Và tôi sẽ mãi mãi thoát khỏi Đấng phán xét tôi.
8 Nầy, nếu tôi sang hướng đông, Ngài không có đó; Tôi quay về hướng tây, cũng chẳng nhìn thấy Ngài;
9 Khi Ngài làm việc ở phía bắc, tôi không gặp được Ngài; Khi Ngài quay xuống phía nam, tôi cũng chẳng thấy Ngài.
10 Nhưng Chúa biết con đường tôi đi, Khi Ngài đã rèn luyện tôi, tôi sẽ ra như vàng.
11 Chân tôi bám theo bước Chúa; Tôi giữ đúng đường Ngài, không sai lệch.
12 Tôi chẳng xa lìa các điều răn của môi Ngài, Luôn giữ kín trong lòng mình lời từ miệng Ngài.
13 Chính Ngài đã quyết định thì ai làm Ngài đổi ý? Ngài đã muốn điều gì, Ngài nhất định thi hành;
14 Ngài sẽ làm xong điều Ngài định cho tôi: Và nhiều điều tương tự Ngài đã định trong lòng.
15 Vì thế, tôi kinh hãi trước mặt Ngài; Mỗi khi nghĩ đến, tôi đều thấy run sợ Ngài.
16 Đức Chúa Trời khiến lòng tôi bủn rủn, Đấng Toàn Năng làm tôi phải kinh hoàng.
17 Dầu vậy tôi sẽ không nín lặng trong bóng tối, Lúc bóng đêm mịt mùng che kín mặt tôi.”
1 “Tại sao Đấng Toàn Năng không định kỳ phán xét? Tại sao những người nhận biết Ngài không được thấy ngày ấy?
2 Những kẻ gian ác dời đường ranh giới, Cướp bầy chiên rồi dẫn chúng đi ăn.
3 Chúng bắt lừa của kẻ mồ côi, Lùa bò của người góa bụa làm của cầm.
4 Chúng đẩy người nghèo ra khỏi đường đi, Khiến kẻ khốn cùng trong xứ phải rủ nhau lẩn tránh.
5 Họ như lừa hoang trong sa mạc, Phải lao khổ nhọc nhằn, Bới moi trong đồng hoang Tìm thức ăn cho lũ con thơ.
6 Họ gom góp cỏ khô trong đồng ruộng, Lượm mót nho trong vườn kẻ ác.
7 Suốt đêm họ ngủ trần, không quần áo, Trời giá lạnh mà chẳng có chăn mền.
8 Họ ướt sũng vì mưa trên miền núi Nép mình vào đá vì không chỗ trú thân.
9 Kẻ ác giật trẻ mồ côi cha từ vú mẹ; Bắt con thơ của người nghèo làm của cầm.
10 Người nghèo bước đi mình trần không áo mặc, Vác lúa trên vai mà bụng đói như cào.
11 Họ ép dầu giữa hai thớt đá, Đạp nho trong bồn mà cổ khát khô.
12 Từ trong thành người hấp hối kêu van, Người bị thương kêu cứu; Nhưng Đức Chúa Trời không xem đó là tội của kẻ ác.
13 Cũng có kẻ chống lại với ánh sáng, Không nhận ra con đường sáng, Và chẳng đi trong nẻo quang minh.
14 Trời chưa sáng, kẻ sát nhân đã dậy Giết người nghèo khó và kẻ khốn cùng. Còn đêm đến nó như kẻ trộm.
15 Mắt kẻ ngoại tình trông giờ chạng vạng, Nó tự nhủ: ‘Chẳng một ai thấy ta’; Và che kín mặt mình.
16 Trong bóng đêm chúng khoét vách, Còn ban ngày chúng lẩn tránh; Chúng chẳng biết ánh sáng là gì.
17 Với bọn chúng, buổi sáng là bóng sự chết, Vì chúng quen với nỗi hãi hùng của bóng tử thần.
18 Nhưng chúng chỉ như bọt bèo trên mặt nước; Phần cơ nghiệp chúng trong xứ bị nguyền rủa; Không còn ai rẽ vào vườn nho của chúng nữa.
19 Hạn hán và nóng bức hút hết nước của tuyết tan thế nào, Thì âm phủ cũng hút những kẻ có tội như vậy.
20 Lòng mẹ quên mất chúng; Dòi bọ ăn chúng ngon lành; Chẳng còn ai nhớ đến chúng; Sự gian ác bị bẻ gẫy như cây khô.
21 Chúng bạc đãi người hiếm muộn, không sinh con; Cư xử tệ với người góa bụa.
22 Nhưng Đức Chúa Trời dùng quyền năng Ngài tiêu diệt kẻ bạo tàn; Khi Ngài ra tay, chúng không còn hi vọng sống.
23 Chúa cho chúng yên ổn và thấy vững vàng, Nhưng mắt Ngài theo dõi mọi nẻo đường của chúng.
24 Chúng được đề cao trong chốc lát rồi biến mất; Chúng sẽ héo úa rồi tàn tạ như cỏ dại, Và bị cắt như gié lúa.
25 Nếu điều tôi nói không đúng, thì ai có thể chứng minh được tôi là người nói dối? Và cho thấy lời tôi nói là vô giá trị?”
1 Binh-đát người Su-a đáp lại:
2 “Quyền tể trị thuộc về Đức Chúa Trời, Ngài đáng kính sợ; Ngài thiết lập hòa bình trên cõi trời cao.
3 Ai đếm được số đạo binh của Chúa? Ai tránh được ánh sáng Ngài soi chiếu?
4 Làm sao Đức Chúa Trời có thể xem loài người là công chính được? Có ai bởi người nữ sinh ra mà được kể là thanh sạch?
5 Kìa, mặt trăng không đủ sáng, Các ngôi sao cũng không tinh sạch dưới mắt Ngài;
6 Huống chi loài người chỉ như sâu bọ, Con cái loài người khác nào một loại côn trùng!”
1 Gióp lên tiếng đáp lại:
2 “Anh thật khéo giúp đỡ người cô thế! Tiếp cứu người yếu đuối!
3 Khuyên giải người kém khôn ngoan, Và đưa ra bao lời khuyên sáng suốt!
4 Anh giảng giải những điều đó cho ai? Linh nào đã nói qua miệng anh?
5 Vong linh người chết quằn quại dưới kia, Nước và mọi vật sống trong nước cũng vậy.
6 Âm phủ lộ ra trước mặt Đức Chúa Trời, Địa ngục không có màn che.
7 Chúa trải phương bắc ra trên vùng trống, Treo trái đất lơ lửng trong không gian.
8 Ngài gói nước trong các đám mây Ngài, Nhưng mây không vỡ ra vì nước ấy.
9 Ngài bao phủ ngai Ngài, Và giăng trải mây Ngài trên đó.
10 Ngài đã vẽ một vòng tròn trên mặt nước, Tại ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối.
11 Những trụ cột của các tầng trời rúng động, Và sững sờ khi Ngài quở trách.
12 Ngài dùng quyền năng làm sóng yên biển lặng; Lấy tri thức mà đánh gục Ra-háp.
13 Hơi thở Chúa làm bầu trời trong sáng; Tay Ngài xuyên thủng rắn yêu tinh.
14 Đây chỉ là những phác họa về công việc Ngài, Là những tiếng thầm thì mà chúng ta nghe được về Ngài; Còn tiếng sấm rền vang về quyền năng Ngài, mấy ai hiểu hết?”
1 Gióp tiếp tục trình bày lập luận của mình:
2 “Nhân danh Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng đã tước mất công lý của tôi, Và Đấng Toàn Năng, Đấng làm cho linh hồn tôi cay đắng, Tôi thề rằng:
3 Ngày nào hơi thở còn trong tôi Và sinh khí của Đức Chúa Trời còn trong mũi tôi,
4 Môi tôi sẽ không nói điều gian ác, Lưỡi tôi cũng không thốt ra lời giả dối.
5 Chẳng bao giờ tôi công nhận các anh là đúng! Cho đến chết tôi cũng không từ bỏ lòng trung thực của mình.
6 Tôi giữ vững sự công chính, không rời bỏ; Trọn đời tôi, lương tâm không cáo trách tôi.
7 Ước gì kẻ thù tôi bị xử như kẻ ác, Kẻ chống lại tôi bị xem như bọn gian tà.
8 Niềm hi vọng của kẻ vô tín là gì khi nó bị tiêu diệt? Khi Đức Chúa Trời đòi linh hồn nó lại?
9 Đức Chúa Trời có nghe tiếng kêu than của nó, Khi hoạn nạn giáng xuống trên nó không?
10 Nó có hân hoan trong Đấng Toàn Năng, Và thường xuyên cầu khẩn Đức Chúa Trời không?
11 Tôi sẽ dạy các anh về quyền năng của Đức Chúa Trời; Không giấu các anh ý định của Đấng Toàn Năng.
12 Tất cả các anh đều nhận ra điều đó, Vậy sao các anh còn nói những lời vô nghĩa như thế?
13 Đây là phần Đức Chúa Trời định cho kẻ ác, Và cơ nghiệp Đấng Toàn Năng dành cho lũ bạo tàn:
14 Nếu con cái nó có đông thêm cũng chỉ để dành cho gươm giáo; Dòng dõi nó sẽ ăn không đủ no.
15 Những đứa sống sót sẽ bị dịch bệnh chôn vùi, Vợ góa của chúng không còn than khóc nổi.
16 Dù nó có gom góp bạc tiền như cát bụi, Áo quần chồng chất như đất sét;
17 Nó sắm sẵn nhưng người công chính sẽ mặc, Còn tiền bạc nó, người vô tội sẽ chia nhau.
18 Nó cất nhà như mạng nhện, Như cái chòi cất cho người giữ vườn nho.
19 Khi đi ngủ nó còn giàu có, chưa mất mát thứ gì; Lúc mở mắt ra sự nghiệp đã tan tành.
20 Kinh hoàng bất ngờ ập đến như nước lụt; Ban đêm cơn lốc cuốn nó đi.
21 Ngọn gió đông bốc nó lên và đùa đi mất; Gió quét nó đi khỏi chỗ của nó.
22 Ngọn gió giáng tai ương trên nó không chút xót thương; Nó liều lĩnh chạy trốn trận cuồng phong.
23 Gió vỗ tay nhạo cười nó, Gào thét đuổi nó ra khỏi chỗ ở của mình.”
1 “Hẳn nhiên phải có mỏ để lấy bạc, Có nơi để luyện vàng.
2 Sắt lấy ra từ đất, Đồng chảy ra từ quặng nung.
3 Người ta phải soi vào trong hầm tối, Dò tìm cho đến cùng, Để lấy đá từ nơi tối tăm mù mịt.
4 Họ đào những đường hầm cách xa khu dân cư; Trong nơi vắng vẻ không có người qua lại. Họ dòng dây đong đưa, cách ly với mọi người.
5 Đất sinh ra lương thực, Nhưng trong lòng đất như bị lửa xáo trộn.
6 Lẫn trong đá có ngọc bích, Trong bụi cát có quặng vàng.
7 Con đường nầy, chim săn mồi không biết được; Mắt chim ưng cũng chưa từng thấy;
8 Các loài mãnh thú chưa từng đặt chân đến, Sư tử cũng chẳng đi qua đó bao giờ.
9 Tay loài người đập trên hòn đá lửa, Triệt hạ các núi tận nền móng.
10 Người ta đục đường hầm xuyên đá, Mắt tìm kiếm mọi bửu vật bên trong.
11 Họ đắp đập ngăn dòng; Đem ra ánh sáng những điều bí ẩn.
12 Nhưng tìm sự khôn ngoan ở đâu? Sự hiểu biết nằm ở nơi nào?
13 Không ai biết hết giá trị của khôn ngoan; Nó không có trên đất kẻ sống.
14 Vực sâu nói: ‘Nó không ở trong tôi’, Biển cả cũng nói: ‘Nó không ở với tôi.’
15 Vàng ròng không đổi được nó, Cũng không cân bạc mà mua nó được.
16 Không thể định giá nó bằng vàng Ô-phia, Bằng ngọc hồng mã não hay ngọc bích.
17 Vàng và pha lê làm sao sánh được với nó, Đồ dùng bằng vàng ròng cũng không đổi được nó.
18 Còn san hô và thủy tinh thì chẳng cần nói đến; Giá trị của khôn ngoan cao hơn cả ngọc trai.
19 Ngọc sắc vàng Ê-thi-ô-pi không thể so với nó, Cũng không sao định giá nó bằng vàng ròng.
20 Vậy thì khôn ngoan từ đâu đến? Hiểu biết xuất phát từ nơi nào?
21 Nó vẫn giấu kín khỏi mắt mọi loài sống. Và ẩn mặt các loài chim trời.
22 Địa ngục và sự chết nói rằng: ‘Tai chúng tôi có nghe đồn về nó.’
23 Đức Chúa Trời thấu hiểu con đường đi đến nó, Và biết rõ chỗ ở của nó.
24 Vì Ngài nhìn thấy đến tận cùng trái đất, Và quan sát mọi vật dưới bầu trời.
25 Khi Ngài ban sức mạnh cho gió, Và xác định mực thủy triều,
26 Lập quy luật cho mưa, Vẽ đường đi cho sấm chớp;
27 Bấy giờ Ngài thấy sự khôn ngoan và công bố nó ra, Ngài thiết lập nó và kiểm nghiệm kỹ càng.
28 Rồi Ngài phán với loài người: ‘Kính sợ Chúa, đó là sự khôn ngoan; Tránh điều ác, đó là sự hiểu biết.’”
1 Gióp tiếp tục biện luận:
2 “Ôi! Ước gì tôi được sống như thuở trước, Như những ngày Đức Chúa Trời gìn giữ tôi;
3 Khi ngọn đèn Chúa soi trên đầu tôi, Và nhờ ánh sáng Chúa tôi đi qua cõi tăm tối.
4 Khi tôi còn tráng kiện, Và tình bạn của Đức Chúa Trời bao phủ trại tôi;
5 Khi Đấng Toàn Năng ở với tôi, Và con cái quây quần bên tôi;
6 Khi chân tôi rửa trong sữa, Và cối đá phun dầu ra cho tôi như suối!
7 Khi tôi đi ra đến cổng thành, Và sửa soạn chỗ ngồi giữa quảng trường,
8 Giới trẻ thấy tôi đều rút lui, Người lớn tuổi đứng dậy chào đón;
9 Các quan chức nói năng dè dặt, Và lấy tay che miệng lại;
10 Giới quý tộc im tiếng, Lưỡi họ như dính vào vòm họng.
11 Tai nào nghe đến tôi đều khen tôi có phước, Mắt nào nhìn thấy tôi đều làm chứng cho tôi.
12 Vì tôi giải cứu người nghèo khó đang kêu van, Và trẻ mồ côi không ai giúp đỡ.
13 Người cùng khổ sắp chết còn chúc phước cho tôi, Tôi làm cho khúc hoan ca trỗi lên trong lòng người góa bụa.
14 Tôi mặc sự công chính như chiếc áo, Lấy sự ngay thẳng làm áo choàng và mũ.
15 Tôi làm đôi mắt cho người mù, Và đôi chân cho kẻ què.
16 Tôi làm cha của người nghèo khó, Xét xử công minh cho kẻ xa lạ.
17 Tôi bẻ gẫy xương hàm của kẻ bất chính, Và rứt mồi khỏi nanh vuốt nó.
18 Bấy giờ, tôi tự nhủ: ‘Ta sẽ chết trong tổ ấm, Ngày tháng ta sẽ nhiều như cát;
19 Rễ ta bò đến các nguồn nước, Và suốt đêm sương đọng trên cành ta;
20 Vinh quang ta luôn tươi mới, Sức mạnh ta lại được phục hồi.’
21 Người ta lắng tai nghe tôi nói và chờ đợi, Yên lặng nghe lời tôi khuyên nhủ.
22 Tôi nói xong, không còn ai nói nữa, Lời tôi nói như giọt sương rơi trên họ.
23 Họ trông đợi tôi như trông đợi mưa, Há miệng chờ như trông ngóng mưa xuân.
24 Tôi mỉm cười với họ khi họ mất niềm tin, Gương mặt rạng rỡ của tôi khích lệ họ.
25 Tôi chọn đường đi cho họ và lãnh đạo họ, Sống như vua giữa quân đội mình, Như người an ủi những kẻ ưu sầu.”
1 “Nhưng bây giờ những người trẻ tuổi hơn tôi chế nhạo tôi, Cha ông chúng là những người mà tôi đã coi thường, Không xếp chung với đám chó chăn bầy của tôi.
2 Sức mạnh của chúng có ích gì cho tôi, Khi sinh lực chúng không còn nữa?
3 Phờ phạc vì đói khát và thiếu thốn, Chúng gặm đất khô trong hoang mạc tăm tối tiêu điều.
4 Chúng hái rau sam biển bên các lùm cây dại, Và đào rễ cây giếng giêng làm thức ăn.
5 Chúng bị đuổi khỏi đồng bào mình; Bị la mắng như một tên trộm cắp.
6 Chúng phải sống trong các khe suối, Trong các hang sâu và giữa các hốc đá.
7 Chúng tru tréo giữa các lùm cây, Chen chúc nhau dưới các bụi gai còi cọc.
8 Là con của người ngu dại, cháu của kẻ vô danh, Chúng bị tống ra khỏi xứ.
9 Thế mà bây giờ, con cái chúng đặt vè chế giễu, Đem tôi ra làm cớ để chê cười.
10 Chúng ghê tởm tôi, xa lánh tôi, Nhổ vào mặt tôi không chút ngại ngần.
11 Vì Đức Chúa Trời đã tháo dây cung tôi và sỉ nhục tôi, Nên chúng chẳng còn coi tôi ra gì nữa.
12 Bên phải tôi, bọn tạp dân nổi loạn; Chúng gài bẫy chân tôi, Dọn đường cho tôi lâm vào hoạn nạn.
13 Chúng phá hủy đường thoát của tôi, Cố gắng tiêu diệt tôi; Mà chẳng cần ai giúp chúng.
14 Chúng kéo đến từ một lỗ hổng lớn, Tràn qua đống đổ nát hoang tàn.
15 Nỗi kinh hoàng lại ập xuống trên tôi; Danh dự tôi bị gió cuốn đi, Hi vọng của tôi tan theo mây khói.
16 Bây giờ linh hồn tôi tan vỡ trong tôi, Những ngày gian nan vây hãm tôi.
17 Đêm đến xương cốt tôi bị hành hạ, Cơn đau giày vò tôi không ngưng nghỉ.
18 Với năng lực lớn, Ngài nắm áo tôi; Túm lấy tôi như túm cổ áo.
19 Đức Chúa Trời quăng tôi xuống bùn, Tôi trở thành tro bụi.
20 Con kêu xin Chúa, nhưng Ngài không đáp lời; Con cầu khẩn mà Ngài chỉ nhìn con.
21 Chúa trở thành tàn nhẫn đối với con, Dùng năng lực tay Ngài mà ngược đãi con.
22 Chúa nâng con lên cho con cưỡi gió, Ném con vào cơn bão tố thét gào.
23 Con biết Chúa sẽ dẫn con vào cõi chết, Là nơi hò hẹn của mọi người sống.
24 Chưa bao giờ tôi ra tay hại người khốn khổ, Hoặc làm ngơ khi họ kêu cứu lúc lâm nguy.
25 Tôi đã chẳng từng khóc với người gặp khó khăn, Và động lòng thương cảm người nghèo khổ đó sao?
26 Nhưng khi tôi chờ phước hạnh thì tai họa xảy ra; Tôi trông mong ánh sáng thì tối tăm lại đến.
27 Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan dồn dập sấn vào tôi.
28 Tôi bước đi trong tăm tối, không ánh mặt trời; Giữa hội chúng, tôi đứng lên kêu cứu.
29 Tôi trở thành anh em của chó rừng, Bạn bè với đà điểu.
30 Da tôi đen và tróc ra, Xương cốt tôi bị thiêu trong cơn sốt.
31 Vì thế, đàn hạc tôi ngân tiếng bi ai, Tiếng sáo tôi trỗi khúc thảm sầu.”
1 “Tôi đã lập giao ước với mắt tôi; Làm sao tôi còn dám nhìn một trinh nữ?
2 Đức Chúa Trời trên cao ban phần gì cho tôi? Tôi được cơ nghiệp nào từ Đấng Toàn Năng cao cả?
3 Có phải là tai họa chỉ dành cho kẻ gian ác, Và nỗi bất hạnh dành cho người hung dữ không?
4 Chẳng phải Ngài luôn thấy con đường tôi đi, Và đếm từng bước chân tôi đó sao?
5 Nếu tôi có đi con đường dối trá, Và chân tôi vội bước đến chỗ lừa gạt;
6 Xin Đức Chúa Trời cứ cân tôi trên một cái cân chính xác, Thì Ngài sẽ thấy sự thanh liêm của tôi.
7 Nếu chân tôi bước lệch khỏi đường ngay, Lòng tôi chiều theo điều mắt mình thích, Và để tay mình dính vào điều ô uế,
8 Thì người khác sẽ hưởng hoa lợi tôi gieo, Và những gì tôi trồng sẽ bị nhổ đi!
9 Nếu lòng tôi bị phụ nữ quyến dụ, Hay rình rập nơi cửa nhà người lân cận,
10 Thì vợ tôi phải đi xay cối cho người khác, Và người khác sẽ chiếm đoạt vợ tôi.
11 Đó là một tội ác rất gớm ghiếc, Đáng bị quan tòa xử phạt:
12 Tội ngoại tình đốt cháy như lửa địa ngục, Thiêu rụi tận gốc tất cả hoa lợi tôi có.
13 Nếu tôi chà đạp quyền lợi của tôi trai tớ gái tôi, Khi họ khiếu nại với tôi điều gì,
14 Thì tôi sẽ làm gì khi Đức Chúa Trời trỗi dậy? Lúc Ngài chất vấn tôi, tôi sẽ đáp thế nào?
15 Đấng tạo dựng tôi trong dạ mẹ tôi không dựng nên họ sao? Chẳng phải chỉ có một Đấng dựng nên chúng ta trong lòng mẹ đó sao?
16 Nếu tôi từ chối điều người nghèo khó ước ao, Làm cho mắt người góa bụa bị hao mòn,
17 Nếu tôi ăn bánh một mình, Và trẻ mồ côi không được chia sẻ;
18 Từ thuở thanh xuân, tôi đã nuôi dưỡng cô nhi như một người cha; Từ khi lọt lòng mẹ, tôi nâng đỡ người góa bụa.
19 Nếu tôi thấy ai đó sắp chết vì thiếu quần áo, Hay người nghèo không có chăn mền,
20 Thì lòng họ sẽ chúc phước cho tôi, Vì nhờ bộ lông chiên của tôi mà họ được ấm áp.
21 Nếu tôi giơ tay hăm dọa trẻ mồ côi, Vì tôi thấy mình được ủng hộ nơi cổng thành,
22 Thì xin cho tôi đầu lìa khỏi cổ, Và cánh tay tôi gãy rời khỏi khuỷu tay.
23 Vì tai họa từ Đức Chúa Trời làm tôi kinh khiếp, Trước uy nghiêm Ngài, tôi không thể làm gì được.
24 Nếu tôi tin cậy nơi vàng, Hay gọi vàng ròng là nơi nương nhờ của tôi;
25 Nếu tôi vui mừng vì có nhiều của cải, Và trong tay sở hữu được thật nhiều;
26 Nếu tôi ngắm mặt trời chiếu sáng, Nhìn vầng trăng lộng lẫy nhô lên.
27 Nếu lòng tôi âm thầm bị chúng mê hoặc, Và hôn tay tỏ lòng tôn kính chúng,
28 Thì điều đó đã là tội ác đáng bị tòa xử phạt, Vì tôi đã chối bỏ Đức Chúa Trời trên cao.
29 Tôi nào có vui khi kẻ ghét tôi bị lâm nạn, Và đắc chí khi tai họa giáng trên nó;
30 Trái lại, tôi không cho phép miệng tôi phạm tội, Mà dùng lời nguyền rủa để hại mạng sống nó;
31 Nếu người nhà của tôi chẳng từng nói: ‘Ai ở đây mà không được ăn thịt no nê?’
32 Khách lạ không phải ngủ đêm ngoài đường; Tôi đã mở cửa đón khách đường xa.
33 Nếu tôi che giấu tội mình như A-đam, Ấp ủ gian ác mình trong lòng,
34 Chỉ vì sợ hãi đám đông, Lo sợ họ hàng khinh bỉ, Mà phải nín lặng không dám ra khỏi cửa.
35 Ôi! Ước gì có người lắng nghe tôi! Đây là lời cuối cùng của tôi! Xin Đấng Toàn Năng đáp lời tôi! Xin kẻ thù tôi viết cáo trạng buộc tội tôi!
36 Chắc hẳn tôi sẽ mang cáo trạng ấy trên vai mình, Đội lên đầu tôi như một mão miện.
37 Tôi sẽ báo với Chúa các bước đi của tôi; Như một ông hoàng, tôi sẽ đến chầu Ngài.
38 Nếu đất tôi lên tiếng tố cáo tôi, Các luống cày cùng nhau than khóc;
39 Nếu tôi ăn sản vật nó mà không trả tiền, Gây ra cái chết cho nguyên chủ nó,
40 Thì xin cho gai gốc mọc thay lúa mì, Và cỏ lùng thế cho lúa mạch!” Đến đây hết lời của Gióp.
1 Bấy giờ, ba người bạn kia ngưng đối đáp với Gióp vì Gióp tự thấy mình là người công chính.
2 Ê-li-hu, con trai của Ba-ra-kê-ên người Bu-xi, thuộc gia tộc Ram, nổi giận. Ông nổi giận với Gióp vì Gióp tự xưng mình là công chính hơn Đức Chúa Trời.
3 Ê-li-hu cũng nổi giận với ba bạn của Gióp vì họ không tìm được lời giải đáp cho Gióp mà chỉ biết buộc tội Gióp.
4 Ê-li-hu phải đợi để đối đáp với Gióp, vì những người kia đều lớn tuổi hơn ông.
5 Nhưng khi thấy ba người kia chẳng nói thêm được lời nào nữa thì Ê-li-hu nổi giận.
6 Ê-li-hu, con trai Ba-ra-kê-ên người Bu-xi, lên tiếng: “Tôi còn trẻ Các anh đã có tuổi; Vì vậy tôi e dè, sợ sệt Khi đưa ra ý kiến của mình.
7 Tôi thầm nghĩ: ‘Người lớn tuổi cần phải nói, Bậc cao niên phải dạy điều khôn ngoan.’
8 Nhưng chính thần linh ở trong loài người, Là hơi thở của Đấng Toàn Năng, mới ban cho họ sự hiểu biết.
9 Không phải người có tuổi nào cũng khôn ngoan, Bậc cao niên nào cũng hiểu điều ngay lẽ phải.
10 Vì vậy tôi xin thưa: ‘Hãy nghe tôi; Cho tôi được trình bày ý kiến.’
11 Nầy, tôi đã chờ đợi ý kiến của các anh, Lắng nghe những lời biện luận của các anh, Trong lúc các anh cân nhắc từng lời.
12 Tôi đã chăm chú nghe các anh, Nhưng chẳng một ai trong các anh bắt bẻ, Hoặc đối đáp nổi lý lẽ của Gióp.
13 Xin đừng vội nói: ‘Chúng ta đã tìm được khôn ngoan.’ Đức Chúa Trời sẽ bác bỏ Gióp chứ không phải con người.
14 Gióp không tranh luận với tôi, Nên tôi sẽ không dùng lý lẽ các anh mà đáp lại.
15 Họ sững sờ, không nói gì được nữa; Họ đã cạn lời.
16 Không lẽ tôi cứ phải chờ đợi khi họ không nói, Cứ đứng sững đó và chẳng đối đáp gì cả sao?
17 Đến lượt tôi, tôi cũng phải trả lời; Tôi cũng sẽ trình bày ý kiến của mình.
18 Vì tôi đã đầy ắp lời nói, Thần linh trong tôi thúc giục tôi.
19 Nầy, lòng tôi như rượu chưa khui, Sẵn sàng vỡ tung như bầu rượu mới.
20 Tôi phải nói để được nhẹ nhàng; Nên tôi sẽ lên tiếng đáp lời.
21 Tôi sẽ chẳng thiên vị ai, Cũng không tâng bốc người nào.
22 Vì tôi chẳng biết nịnh bợ; Nếu làm vậy, Đấng Tạo Hóa tôi sẽ lập tức tiêu diệt tôi.”
1 Nhưng bây giờ, xin anh Gióp lắng nghe lập luận của tôi. Hãy chú ý những gì tôi nói.
2 Kìa, tôi đã lên tiếng, Lưỡi trong miệng tôi đã nói.
3 Lời tôi nói lên sự liêm chính của lòng mình; Môi tôi thốt lên sự hiểu biết một cách trung thực.
4 Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống.
5 Nếu có thể, xin anh trả lời tôi; Hãy chuẩn bị lý lẽ, giữ vững lập trường để đối đáp với tôi!
6 Trước mặt Đức Chúa Trời tôi với anh có khác gì nhau; Tôi cũng được nắn nên từ đất sét.
7 Tôi không có gì đáng sợ khiến anh phải kinh khiếp, Cũng chẳng có áp lực nào đè nặng lên anh.
8 “Thật anh đã nói vào tai tôi, Tôi đã nghe chính lời anh nói rằng:
9 ‘Tôi trong sạch, không làm gì sai phạm; Tôi vô tội, không chất chứa gian ác trong lòng.
10 Nhưng Đức Chúa Trời tìm dịp hại tôi, Xem tôi như kẻ thù của Ngài;
11 Ngài cùm chân tôi lại, Và canh chừng đường lối tôi.’
12 Tôi xin thưa rằng, trong vấn đề nầy anh đã sai rồi, Vì Đức Chúa Trời vĩ đại hơn loài người.
13 Tại sao anh tranh luận với Ngài? Ngài đâu có cần giải thích mọi việc Ngài làm.
14 Vì Đức Chúa Trời phán dạy cách nầy hay cách khác, Nhưng con người không để ý đến.
15 Có thể trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Khi đang say giấc trên giường mình;
16 Bấy giờ, Ngài mở tai cho loài người, Niêm phong những lời giáo huấn,
17 Để kéo loài người khỏi điều họ toan làm, Và giữ họ khỏi thói kiêu căng;
18 Để cứu linh hồn họ khỏi vực thẳm, Và mạng sống họ khỏi gươm đao.
19 Loài người bị sửa phạt, đau đớn trên giường mình, Xương cốt run rẩy triền miên.
20 Họ ghê tởm thức ăn, Ngao ngán cả cao lương mỹ vị.
21 Thân thể tiều tụy nhìn chẳng ra người, Ốm o gầy mòn chỉ còn da bọc lấy xương.
22 Linh hồn bị kéo đến bên vực thẳm, Mạng sống bị đẩy đến bên tử thần.
23 Nếu bên họ có một thiên sứ, Chỉ cần một trong hàng nghìn thiên sứ, Làm trung gian để dạy bảo con người biết điều ngay thẳng,
24 Thương xót người ấy và cầu khẩn: ‘Xin gìn giữ người khỏi sa xuống vực thẳm; Tôi đã tìm ra giá chuộc rồi;
25 Da thịt người ấy sẽ mịn màng như thời niên thiếu; Sức mạnh phục hồi như thuở thanh xuân.’
26 Người cầu nguyện với Đức Chúa Trời và được Ngài đoái thương, Khiến người mừng vui khi trông thấy mặt Ngài, Và Ngài phục hồi người vì sự công chính của người.
27 Người đó sẽ hát trước mặt loài người rằng: ‘Tôi đã phạm tội và bẻ cong điều chính trực, Nhưng tôi không bị xử như tôi đáng phải chịu.
28 Đức Chúa Trời đã giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống vực thẳm, Và đời sống tôi sẽ thấy ánh sáng.’
29 Thật Đức Chúa Trời đã làm mọi việc ấy Cho loài người đến hai ba lần,
30 Đem linh hồn họ ra khỏi vực thẳm, Để họ thấy ánh sáng của sự sống.
31 Xin anh Gióp chú ý nghe tôi; Hãy yên lặng thì tôi sẽ nói.
32 Nếu anh có điều gì muốn đối đáp với tôi; Cứ nói đi, vì tôi muốn minh chứng anh là công chính.
33 Nếu không, xin lắng nghe tôi; Hãy yên lặng thì tôi sẽ dạy cho anh điều khôn ngoan.”
1 Ê-li-hu tiếp tục nói:
2 “Hỡi những người khôn ngoan, xin nghe tôi nói! Hỡi các bậc thông thái, xin lắng tai nghe tôi!
3 Vì tai phân định lời nói, Như miệng nếm thức ăn.
4 Chúng ta hãy chọn điều gì phải, Cùng nhận thức việc gì tốt lành.
5 Vì Gióp đã khẳng định: ‘Tôi là người công chính, Nhưng Đức Chúa Trời đã tước mất công lý của tôi.
6 Tôi bị xem là kẻ nói dối dù tôi sống ngay thẳng; Thương tích tôi không thể lành dù tôi không phạm tội.’
7 Có ai giống như Gióp không? Uống lời nhạo báng như nước lã,
8 Nhập bọn với kẻ bất lương, Đồng hành với phường gian ác?
9 Vì Gióp từng nói: ‘Loài người chẳng được ích lợi gì, Khi vui thỏa trong Đức Chúa Trời.’
10 Vì vậy, hỡi những người hiểu biết, hãy nghe tôi, Đức Chúa Trời không bao giờ làm điều ác, Đấng Toàn Năng chẳng khi nào làm chuyện bất lương.
11 Ngài báo trả cho con người tùy công việc họ làm, Đối xử với mỗi người tùy theo cách họ sống.
12 Thật Đức Chúa Trời không cư xử gian ác, Đấng Toàn Năng chẳng bẻ cong công lý.
13 Ai giao trái đất cho Ngài coi sóc? Ai lập Ngài cai quản toàn thế gian?
14 Nếu Ngài chỉ lo nghĩ đến chính mình, Thu lại thần linh và hơi thở của Ngài,
15 Thì mọi loài xác thịt sẽ cùng chết với nhau, Và loài người trở về cát bụi.
16 Nếu anh hiểu biết, xin nghe điều nầy; Hãy lắng nghe điều tôi nói.
17 Người ghét bỏ công lý làm sao cai trị được? Anh dám lên án Đấng công chính và quyền năng sao?
18 Có ai dám gọi vua là: ‘Đồ vô dụng’ Hay gọi bậc vương hầu là: ‘Phường gian ác’ không?
19 Huống chi Đấng chẳng thiên vị bậc quan quyền, Không coi trọng người giàu hơn kẻ nghèo, Vì tất cả đều do tay Ngài tạo dựng.
20 Trong phút chốc, giữa đêm khuya chúng đều chết; Dân chúng rúng động và chết mất, Bọn cường hào cũng bị tiêu vong mà không bởi tay loài người.
21 Vì mắt Ngài xem xét đường lối loài người, Ngài nhìn thấy từng bước đi của họ.
22 Chẳng có chỗ tối tăm hay bóng đêm mù mịt nào Mà kẻ bất lương có thể ẩn núp được.
23 Đức Chúa Trời không cần tra xét loài người thêm nữa, Họ phải đến trước mặt Ngài để chịu phán xét.
24 Không cần tra xét, Ngài đập tan bọn cường hào, Rồi lập người khác lên thay.
25 Vì Chúa biết công việc họ làm, Ban đêm, Ngài đánh đổ chúng và chúng bị tiêu diệt.
26 Chúa trừng trị chúng như bọn gian ác, Công khai trước mặt mọi người,
27 Chỉ vì chúng từ chối theo Chúa, Không quan tâm đến các đường lối Ngài.
28 Chúng làm cho tiếng than của người nghèo thấu đến Chúa, Và Ngài phải nghe tiếng khóc của kẻ khốn cùng.
29 Khi Ngài yên lặng, ai dám lên án Ngài? Khi Ngài ẩn mặt, ai có thể thấy Ngài? Dù Ngài vẫn quan phòng từng dân tộc cũng như mỗi cuộc đời,
30 Không để cho kẻ vô đạo cầm quyền, Hoặc những kẻ muốn gài bẫy dân chúng.
31 Vì có ai từng thưa với Đức Chúa Trời rằng: ‘Con đã chịu sửa phạt; con sẽ không làm điều gian ác nữa.
32 Xin Chúa chỉ dạy con những gì con không thấy; Nếu con đã phạm tội, con sẽ không tái phạm’?
33 Được vậy thì theo anh Đức Chúa Trời có báo trả không? Nhưng anh đã không chịu ăn năn, Nên chính anh phải chọn chứ không phải tôi; Vậy anh hãy nói ra điều mình biết.
34 Những người hiểu biết sẽ nói với tôi, Người khôn ngoan đang nghe tôi sẽ nói rằng:
35 ‘Gióp nói cách thiếu hiểu biết, Lời lẽ của anh ta thiếu sáng suốt.’
36 Cầu cho Gióp bị thử thách đến cùng, Vì anh ta đối đáp như phường gian ác;
37 Anh ta đã thêm tội phản loạn vào tội lỗi mình, Vỗ tay ngạo đời giữa chúng ta, Và gia tăng lời phạm thượng với Đức Chúa Trời.”
1 Ê-li-hu lại nói tiếp:
2 “Anh tưởng mình đúng khi nói rằng: ‘Tôi công chính trước mặt Đức Chúa Trời’ sao?
3 Anh thắc mắc: ‘Nếu tôi không phạm tội, Tôi sẽ được lợi gì? Điều ấy có tốt hơn cho tôi chăng?’
4 Chính tôi sẽ trả lời cho anh, Và các bạn của anh nữa.
5 Hãy ngước mắt lên và xem các tầng trời; Hãy quan sát các đám mây cao hơn anh vời vợi.
6 Nếu anh phạm tội thì anh làm hại gì được Ngài? Nếu tội lỗi anh gia tăng thì ảnh hưởng gì đến Ngài?
7 Nếu anh công chính, anh đem lại gì cho Ngài? Ngài sẽ nhận được gì từ tay anh?
8 Gian ác anh có thể hại đến đồng loại, Công chính anh có thể giúp ích cho con cái loài người.
9 Quá nhiều ức hiếp khiến người ta kêu oan, Vì cường hào áp chế mà người ta kêu cứu.
10 Nhưng chẳng ai hỏi: ‘Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của tôi ở đâu? Chính Ngài khiến người ta hát mừng trong ban đêm,
11 Dạy chúng ta hiểu biết hơn muôn thú trên đất, Và cho chúng ta khôn ngoan hơn các loài chim trời.’
12 Họ kêu la nhưng Ngài không đáp lại, Vì lòng kiêu căng của kẻ gian ác.
13 Thật, lời cầu nguyện trống rỗng Đức Chúa Trời không nghe, Đấng Toàn Năng chẳng bao giờ đoái đến.
14 Huống chi khi anh nói rằng anh không thấy Ngài, Anh trình lý lẽ cho Ngài và phải chờ đợi Ngài phán xét!
15 Bây giờ, vì cơn giận của Ngài chưa giáng phạt, Và vì Ngài chưa lưu ý nhiều đến sự vi phạm,
16 Nên Gióp mới mở miệng nói những lời trống rỗng, Và thêm nhiều lời thiếu hiểu biết.”
1 Ê-li-hu tiếp tục nói:
2 “Xin kiên nhẫn thêm chút nữa, tôi sẽ chỉ cho anh, Vì tôi còn lời bênh vực Đức Chúa Trời.
3 Tôi sẽ mang kiến thức từ khắp nơi Để minh chứng sự công chính của Đấng Tạo Hóa tôi.
4 Chắc hẳn lời biện luận tôi không hề giả dối; Một người có tri thức toàn diện đang ở với anh.
5 Kìa, Đức Chúa Trời đầy quyền năng không khinh bỉ ai; Ngài thấu hiểu vô cùng.
6 Ngài không gìn giữ mạng sống của kẻ ác, Nhưng xử đoán công minh cho kẻ khốn cùng.
7 Ngài luôn để mắt đến người công chính, Cho họ cùng ngồi trên ngai với các vua, Ngài lập họ vững bền, và họ được tôn cao.
8 Nhưng nếu họ phải mang xiềng xích Và bị dây gian truân trói buộc,
9 Thì Ngài tỏ cho họ biết việc họ làm, Và tội lỗi do tính kiêu căng của họ.
10 Ngài mở tai để nghe lời sửa dạy, Truyền họ từ bỏ điều gian ác.
11 Nếu họ lắng nghe và phụng sự Ngài, Họ sẽ hưởng những ngày sung túc, Và những tháng năm chan chứa niềm vui.
12 Nhưng nếu không vâng theo, họ sẽ bị tiêu diệt bởi gươm đao, Và chết đi vì thiếu hiểu biết.
13 Lòng kẻ vô tín ấp ủ cơn giận dữ; Có bị Ngài xiềng xích cũng không kêu cứu.
14 Chúng chết đang tuổi thanh xuân; Cuộc đời kết liễu giữa bọn trai mại dâm của đền miếu.
15 Nhưng Đức Chúa Trời dùng hoạn nạn để cứu người gặp nạn, Dùng nghịch cảnh để mở tai họ ra.
16 Ngài khuyến dụ anh ra khỏi miệng gian nan, Đặt anh chỗ thảnh thơi không còn tù túng; Cao lương mỹ vị được dọn đầy bàn.
17 Nhưng lòng anh đầy dẫy luận điệu của kẻ ác; Nên sự phán xét và hình phạt đã nắm lấy anh.
18 Hãy cẩn thận, đừng để giàu sang mê hoặc, Hay của hối lộ quá lớn làm anh lạc lối.
19 Liệu sự giàu có và thế lực của anh Có thể cứu anh khỏi hoạn nạn chăng?
20 Đừng mong chờ đêm tối Là lúc các dân tộc thình lình biến mất.
21 Hãy cẩn thận đừng quay về tội ác, Vì hoạn nạn đã tôi luyện anh khỏi phạm tội.
22 Kìa, quyền năng của Đức Chúa Trời cao cả biết bao; Có giáo sư nào giống như Ngài chăng?
23 Có ai dám vạch đường chỉ lối cho Ngài, Hoặc nói rằng: ‘Chúa đã làm sai’ không?
24 Hãy nhớ tôn cao công việc Chúa Mà loài người luôn cất tiếng tán dương.
25 Mọi người đều chiêm ngưỡng công việc ấy; Ai ai cũng nhìn nó từ xa.
26 Phải, Đức Chúa Trời vĩ đại, làm sao chúng ta hiểu thấu; Số năm của Ngài ai có thể dò.
27 Vì Ngài gom các giọt nước lại, Rồi lọc những giọt sương mù thành mưa;
28 Các tầng mây tuôn mưa xuống, Tưới tràn trề trên loài người.
29 Có ai hiểu được cách mây bủa giăng, Hay tiếng sấm vang rền của trại Ngài?
30 Kìa Chúa tỏa ánh sáng chung quanh Ngài Và phủ kín đáy biển sâu.
31 Ngài dùng các điều ấy nuôi dưỡng các dân tộc; Ban lương thực dồi dào.
32 Ngài giấu sấm chớp trong tay, Truyền cho nó mục tiêu phải đánh.
33 Tiếng sấm vang báo có cơn giông, Ngay súc vật cũng báo điềm bão tố.”
1 “Giông tố đó làm tim tôi run sợ, Như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
2 Hãy nghe, hãy lắng nghe tiếng Ngài như tiếng sấm, Tiếng rền vang ra từ miệng Ngài!
3 Ngài khiến nó vang dội khắp bầu trời, Chiếu sấm chớp đến tận cùng trái đất.
4 Rồi đến tiếng ầm vang. Với giọng uy nghiêm, Ngài cất tiếng sấm rền, Khi tiếng Ngài trỗi lên thì sấm chớp tung hoành.
5 Đức Chúa Trời phát tiếng sấm rền kỳ diệu; Ngài làm những việc lớn lao mà chúng ta không sao hiểu nổi.
6 Vì Ngài phán với tuyết: ‘Hãy rơi xuống đất’; Và với mưa rào: ‘Hãy tuôn như thác đổ’.
7 Ngài niêm phong bàn tay của mọi người, Để con người mà Ngài dựng nên biết công việc Ngài.
8 Khi ấy thú rừng rút vô hang, Nằm yên trong hầm của chúng.
9 Gió lốc từ phương nam kéo tới, Gió lạnh từ phương bắc tràn về.
10 Hơi thở Đức Chúa Trời tạo nên nước đá; Nước mênh mông đông cứng thành băng.
11 Ngài chứa hơi nước trong mây đen, Dùng mây gieo sấm chớp của Ngài.
12 Mây trôi mọi hướng theo sự dẫn dắt của Ngài, Để hoàn tất mọi việc Ngài truyền bảo Khắp mọi nơi trên đất.
13 Ngài sai mây đi, có khi để sửa phạt, Có lúc để tưới đất đai, Hoặc ban phước trên loài người.
14 Xin anh Gióp hãy nghe lời nầy, Xin đứng yên và chiêm ngưỡng các việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời.
15 Anh có biết bằng cách nào Đức Chúa Trời ban lệnh cho chúng, Và khiến sấm chớp rực sáng trong mây không?
16 Anh có biết làm sao mây giữ thăng bằng khi trôi giạt, Một kỳ công của Đấng Toàn Tri không?
17 Anh có biết vì sao quần áo mình nóng lên, Khi mặt đất im lìm vì gió nam thổi đến không?
18 Anh có thể cùng Ngài trải bầu trời ra, Làm cho nó cứng như một tấm kính đúc không?
19 Xin dạy chúng tôi biết phải thưa gì với Chúa; Vì dốt nát, chúng tôi không biết trình bày sự việc.
20 Tôi nào có muốn thưa với Ngài; Tại sao tôi lại muốn Ngài tiêu diệt mình chứ?
21 Bây giờ, không ai có thể nhìn vào ánh sáng, Khi nó chói lòa trên bầu trời, Lúc gió đã thổi qua và bầu trời quang đãng.
22 Từ phương bắc đem ánh vàng rực rỡ; Đức Chúa Trời ngự đến với uy nghiêm đáng sợ vô cùng!
23 Đấng Toàn Năng, chúng ta không tìm đến Ngài được; Ngài quyền năng và chính trực tuyệt đối, Ngài công chính vô cùng, không ức hiếp ai.
24 Chính vì thế mà loài người tôn kính Chúa, Ngài không đoái đến kẻ tưởng mình khôn ngoan.”
1 Bấy giờ, từ giữa cơn lốc Đức Chúa Trời đáp lời Gióp:
2 “Kẻ nầy là ai mà dám dùng lời lẽ thiếu hiểu biết Làm mờ ám kế hoạch Ta?
3 Hãy thắt lưng như một dũng sĩ, Ta sẽ hỏi con và con sẽ trả lời Ta.
4 Khi Ta đặt nền trái đất thì con ở đâu? Nếu con thông sáng, hãy cho Ta biết.
5 Chắc con biết ai ấn định kích thước địa cầu Và ai giăng dây đo trái đất?
6 Nền nó tựa trên cái gì, Ai đã đặt hòn đá góc cho nó?
7 Trong khi các sao mai cùng cất tiếng hát, Các con trai Đức Chúa Trời trỗi khúc hoan ca?
8 Ai đã dùng các cửa mà ngăn biển lại Khi nước tuôn trào từ đáy vực sâu?
9 Khi Ta giăng mây làm áo xống cho biển, Lấy bóng tối mịt mùng làm khăn quấn cho nó.
10 Ta ấn định ranh giới cho biển Đóng cửa cài then,
11 Và phán: ‘Ngươi chỉ đến đây thôi, không đi xa hơn nữa, Các đợt sóng ngạo nghễ của ngươi phải dừng tại nơi nầy!’
12 Từ khi được sinh ra, có bao giờ con ra lệnh cho buổi sáng, Hay chỉ định vị trí cho hừng đông
13 Phủ khắp bốn bề trái đất, Khiến kẻ ác phải trốn khỏi chỗ nó chưa?
14 Trái đất biến dạng như đất sét dưới dấu ấn Và vạn vật hiện ra như lằn xếp trên áo.
15 Ánh sáng đã biến mất khỏi kẻ ác, Cánh tay bạo ngược của chúng đã bị bẻ gãy.
16 Có bao giờ con tìm đến tận nguồn của biển cả, Hay xuống dưới đáy của vực sâu chưa?
17 Có ai chỉ cho con thấy cổng sự chết, Hoặc thấy cổng âm ti chưa?
18 Con có hiểu thấu cái mênh mông của địa cầu không? Nếu biết hết các điều đó, hãy nói đi.
19 Con đường nào dẫn đến nơi ánh sáng cư trú? Còn chốn tối tăm ở nơi nào?
20 Con có thể dẫn nó về lãnh địa nó không? Hoặc biết được con đường về nhà nó chăng?
21 Chắc hẳn con biết, vì lúc ấy con đã sinh ra, Số ngày của đời con thật là nhiều!
22 Con đã vào xem các kho chứa tuyết, Có thấy kho chứa mưa đá
23 Mà ta đã để dành cho thời hoạn nạn, Cho ngày chiến tranh và giặc giã không?
24 Đường nào dẫn đến nơi ánh sáng phân tán, Hay gió đông thổi theo lối nào trên đất?
25 Ai đào kênh cho nước lũ, Vạch đường cho sấm chớp,
26 Đem mưa đến đất không người ở, Trên hoang mạc vắng bóng người,
27 Để tưới nhuần vùng đồng khô cỏ cháy, Khiến cỏ cây mọc lên xanh tốt?
28 Mưa có cha không? Những giọt sương mai, ai sinh ra chúng?
29 Lòng dạ nào sinh ra băng đá? Ai đẻ ra sương muối từ trời?
30 Nước đông cứng như đá, Mặt vực sâu đóng thành băng.
31 Con có thể buộc chòm sao Thất tinh lại, Hay mở xiềng cho sao Thiên lang không?
32 Con có thể khiến các chòm sao Hoàng Đạo mọc theo thì, Và dẫn đường sao Bắc Đẩu với chòm sao theo nó không?
33 Con có biết quy định của các tầng trời? Con có thể lập quy luật như thế dưới đất không?
34 Con có thể lớn tiếng gọi mây, Khiến cho mưa lũ trút xuống trên con được không?
35 Con có thể truyền lệnh cho sấm chớp, bảo chúng đi Và chúng nói với con: ‘Chúng tôi đã sẵn sàng’ không?
36 Ai đặt sự khôn ngoan trong lòng? Ai ban sự hiểu biết cho tâm trí?
37 Ai đủ khôn ngoan để đếm các tầng mây, Hay nghiêng các vò trên trời cho nước tuôn xuống?
38 Để bụi đất quyện lại thành khối, Đất cục kết dính với nhau?
1 Con có thể săn mồi cho sư tử, Hay làm cho sư tử con thỏa cơn đói, Khi chúng thu mình trong hang, Hay rình rập trong bụi rậm?
2
3 Ai cung cấp thức ăn cho quạ, Khi đám quạ con kêu cầu Đức Chúa Trời, Và bay đó đây kiếm chẳng ra mồi?”
4 “Con có biết khi nào dê rừng sinh nở, Và theo dõi lúc nào nai cái đẻ con không?
5 Con có thể tính số tháng chúng mang thai, Và biết kỳ chúng sinh nở không?
6 Chúng ngồi xổm sinh đàn nai con, Trút bỏ cơn đau đớn.
7 Đàn con nhỏ khỏe mạnh, lớn lên trong đồng nội; Chúng lìa mẹ ra đi và không trở lại nữa.
8 Ai để cho lừa rừng tự do chạy nhảy? Ai cởi trói cho chú lừa kia tung tăng?
9 Ta ban thảo nguyên cho nó làm nhà, Đất mặn làm chỗ ở.
10 Nó tránh xa tiếng huyên náo của thị thành, Không nghe tiếng la hét của người điều khiển.
11 Nó đi khắp núi đồi như đồng cỏ của nó, Để tìm kiếm cây lá xanh tươi.
12 Bò rừng có chịu làm việc cho con, Hay chịu ngủ suốt đêm bên máng cỏ của con không?
13 Con có thể lấy dây buộc nó vào luống cày, Nó có chịu kéo bừa cho con trong thung lũng không?
14 Con có thể dựa vào sức vóc mạnh mẽ của nó, Mà giao việc lao nhọc cho nó không?
15 Con có tin rằng nó sẽ trở lại, Và đem ngũ cốc về sân đập lúa của con không?
16 Đà điểu vỗ cánh oai hùng, Nhưng không có tình thương như chim hạc.
17 Vì nó bỏ trứng lại trên đất, Mặc cho cát nóng ấp trứng,
18 Quên rằng chân người có thể giẫm lên, Thú rừng có thể đạp nát.
19 Đà điểu tàn nhẫn với đàn con, như không phải con mình, Không lo rằng công đẻ trứng của mình ra vô ích;
20 Vì Đức Chúa Trời khiến nó mất khôn ngoan, Không chia phần hiểu biết cho nó.
21 Nhưng khi phóng chạy như bay, Nó cười nhạo cả ngựa lẫn người cưỡi ngựa.
22 Có phải con ban sức mạnh cho ngựa, Và khoác bờm lên cổ nó không?
23 Con có khiến nó nhảy như châu chấu, Cất tiếng hí oai phong đáng sợ không?
24 Nó đào đất sâu trong thung lũng, tự hào về sức lực mình; Xông pha trước binh đao.
25 Coi thường đe dọa, bất chấp hiểm nguy; Không quay đầu lui gót trước mũi gươm.
26 Bên hông nó, bao đựng tên khua lách cách, Giáo và lao sáng quắc.
27 Điên tiết lên, nó phóng nhanh như chớp, Nghe tiếng kèn, nó không thể đứng yên.
28 Kèn vừa trỗi, nó liền hí lên inh ỏi, Từ xa, nó đánh hơi mùi chinh chiến, Nghe lệnh chỉ huy và tiếng hò xung trận.
29 Có phải nhờ sự khôn ngoan của con mà diều hâu bay vút lên, Sải cánh hướng về phương nam?
30 Có phải con ra lệnh cho đại bàng Bay vút lên tìm nơi cao làm tổ?
31 Lấy hốc đá làm nơi ở, Vách núi cheo leo làm phòng tuyến an toàn.
32 Từ nơi cao đó, nó rình mồi, Đôi mắt nhìn bao quát thật xa.
33 Đàn con nó quen hút máu, Vì nơi nào có xác chết thì nó đến ngay.”
34 Đức Giê-hô-va tiếp tục phán với Gióp:
35 “Kẻ hay bắt bẻ dám tranh luận với Đấng Toàn Năng sao? Người nào kiện cáo Đức Chúa Trời, hãy trả lời đi!”
36 Gióp thưa lại với Đức Giê-hô-va:
37 “Con vốn chẳng ra gì; con biết lấy lời nào để thưa với Chúa? Con chỉ biết đưa tay che miệng.
38 Con đã nói một lần, con không thể lặp lại; Lỡ nói đôi lần rồi, con nào dám nói gì hơn.”
1 Từ giữa cơn lốc Đức Giê-hô-va phán với Gióp:
2 “Hãy thắt lưng như một dũng sĩ, Ta sẽ hỏi con và con sẽ trả lời Ta.
3 Con thật sự muốn phủ nhận công lý của Ta, Lên án Ta để biện minh cho chính mình sao?
4 Con có cánh tay mạnh như tay Đức Chúa Trời chăng? Có thể cất tiếng vang rền như giọng Ngài sao?
5 Hãy trang sức bằng uy nghi và danh giá; Mặc trên mình sự lộng lẫy và vinh quang.
6 Hãy trút đổ cơn giận của con ra, Nhìn thẳng vào mọi kẻ kiêu ngạo và hạ nhục chúng.
7 Hãy nhìn thẳng vào mọi kẻ kiêu ngạo và hạ chúng xuống; Giày đạp tại chỗ bọn gian ác.
8 Chôn vùi cả bọn chúng trong cát bụi Che khuất mặt chúng trong nơi kín đáo.
9 Bấy giờ, Ta sẽ khen ngợi con Rằng chính tay phải con mang chiến thắng về cho con!”
10 “Hãy nhìn con Bê-hê-mốt Mà Ta đã dựng nên như dựng nên con; Nó ăn cỏ như bò.
11 Hãy xem, đôi hông nó đầy sức mạnh, Cơ bụng nó thật rắn chắc.
12 Đuôi nó giống như cây bá hương; Gân đùi đan với nhau chằng chịt.
13 Các xương nó như ống đồng, Tứ chi nó như những thanh sắt.
14 Nó là tạo vật hàng đầu của Đức Chúa Trời; Chỉ có Đấng dựng nên nó mới giết được nó.
15 Núi đồi sinh cỏ cho nó ăn, Các thú hoang chơi đùa nơi đó.
16 Nó nằm dưới đám sen, Trong các bụi lau sậy và chỗ đầm lầy.
17 Vì bông sen lấy bóng che nó, Cây liễu bên bờ khe vây bọc nó.
18 Kìa, dù sông có hung hãn tràn bờ, nó vẫn không sợ hãi; Dù sông Giô-đanh có ngập tới miệng, nó vẫn thản nhiên.
19 Có ai bắt được nó bằng móc không? Hay gài bẫy để đâm vào mũi nó?”
20 “Con có thể bắt Lê-vi-a-than với lưỡi câu. Hay dùng dây buộc lưỡi nó được không?
21 Có thể xỏ một sợi dây qua mũi nó, Và xâu hàm nó bằng một cái móc ư?
22 Liệu nó có tha thiết van nài con, Dùng lời ngọt dịu mà năn nỉ con không?
23 Nó sẽ lập giao ước với con, Để con nhận nó làm nô lệ suốt đời không?
24 Con có dám chơi với nó như với một con chim, Hay cột nó lại cho các cô gái đùa giỡn?
25 Những người đánh cá có ra giá không? Hay các con buôn xẻ thịt nó để bán?
26 Con có thể lấy cái lao móc đâm vào da nó, Dùng lao phóng mà cắm vào đầu nó không?
27 Hãy thử ra tay với nó đi, Để rồi chỉ cần nghĩ đến trận đó, Con sẽ không bao giờ muốn lặp lại!
28 Ước muốn bắt nó sẽ tiêu tan, Chỉ cần thấy nó, tay chân con đã rụng rời.
1 Chẳng ai dám cả gan trêu chọc nó; Vậy thì ai sẽ đứng nổi trước mặt Ta?
2 Ai đã cho Ta mà Ta phải trả lại? Mọi vật ở dưới trời đều thuộc về Ta.
3 Ta phải nói về các chi thể nó, Về sức lực và hình dạng tốt đẹp của nó.
4 Có ai lột được lớp da ngoài của nó không? Có ai đâm thủng lớp da đôi của nó không?
5 Ai dám cạy cửa họng nó ra? Sự kinh khủng vây quanh răng nó.
6 Lưng nó như có một hàng khiên, Kết dính với nhau thật khít khao,
7 Cái nầy sát với cái kia, Đến nỗi không khí cũng chẳng lọt qua được.
8 Cái nầy nối với cái kia, Cài chặt với nhau không tách ra được.
9 Nó hắt hơi lóe ra tia sáng, Mắt nó tựa như ánh bình minh.
10 Miệng nó phun ra những ngọn đuốc, Phóng ra các tia lửa.
11 Từ mũi nó khói bay ra ngùn ngụt, Như từ nồi nước sôi đang chụm bằng lau sậy.
12 Hơi thở nó làm than hực đỏ, Một ngọn lửa ra từ miệng nó.
13 Cổ nó chứa sức mạnh, Sự kinh khiếp nhảy múa trước mặt nó.
14 Các yếm thịt nó dính chặt nhau, Vững như đúc, không thể nào lay chuyển.
15 Trái tim nó rắn như đá, Cứng như thớt dưới của cối xay.
16 Khi nó vùng dậy, các dũng sĩ cũng run sợ, Bủn rủn tìm đường chạy trốn.
17 Dù gươm có chém trúng cũng chẳng nhằm gì, Giáo đâm, tên bắn hay lao phóng cũng vậy thôi.
18 Với nó, sắt như rơm rạ, Đồng như gỗ mục.
19 Mũi tên không làm cho nó chạy trốn; Nỏ đá bắn vào nó chỉ như trấu bay.
20 Gậy gộc, nó coi như rơm rạ, Tiếng lao phóng thật nực cười với nó.
21 Dưới bụng nó lởm chởm mảnh sành, Để lại trên đất sình lầy dấu vết một đường cày.
22 Nó khuấy vực sâu sôi sục như nồi nước; Làm cho biển cả trở thành lọ dầu xức
23 Nó bỏ lại phía sau luồng bọt lấp lánh; Khiến vực sâu trông như tóc bạc.
24 Trên đất nầy không loài vật nào giống nó; Một tạo vật không biết sợ là gì.
25 Nó nhìn xuống các con vật cao lớn, Làm vua các loài thú kiêu căng.”
1 Gióp thưa với Đức Chúa Trời:
2 “Con biết rằng Chúa có thể làm được mọi việc, Không ai ngăn cản được ý định của Ngài.
3 Chúa hỏi: ‘Kẻ nầy là ai mà dám dùng lời lẽ thiếu hiểu biết che giấu kế hoạch của Ta?’ Thật, con đã nói những điều con không hiểu, Những việc quá diệu kỳ mà con không hề biết.
4 Lạy Chúa, xin lắng nghe thì con sẽ nói, Sẽ hỏi Chúa, và Chúa sẽ phán dạy con.
5 Trước đây tai con có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ mắt con đã thấy Ngài;
6 Vì vậy, con ghê tởm chính mình, Và ăn năn trong tro bụi.”
7 Sau khi Đức Giê-hô-va phán các lời ấy với Gióp, Ngài cũng phán với Ê-li-pha, người Thê-man, rằng: “Ta nổi giận với con và hai bạn con vì các con không nói đúng đắn về Ta như Gióp, đầy tớ Ta, đã nói.
8 Vậy bây giờ, các con hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực rồi đến gặp Gióp, đầy tớ Ta. Các con hãy vì chính mình mà dâng tế lễ thiêu, sau đó Gióp, đầy tớ Ta, sẽ cầu nguyện cho các con. Ta sẽ nhậm lời Gióp và không phạt các con theo sự dại dột của các con; vì các con không nói đúng đắn về Ta như Gióp, đầy tớ Ta, đã nói.”
9 Vậy, Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a, Sô-pha người Na-a-ma liền đi và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn họ. Đức Giê-hô-va nhậm lời cầu nguyện của Gióp.
10 Khi Gióp đã cầu thay cho các bạn, Đức Giê-hô-va phục hồi tài sản cho Gióp. Ngài ban cho ông gấp đôi số tài sản mà ông đã có trước kia.
11 Tất cả anh em, chị em và những người quen biết Gióp từ trước đều đến thăm và dùng bữa với ông tại nhà. Họ chia buồn và an ủi ông về các tai họa mà Đức Giê-hô-va đã giáng trên ông. Mỗi người đều tặng ông một nén bạc và một chiếc nhẫn vàng.
12 Như vậy, Đức Giê-hô-va ban phước cho những năm cuối đời của Gióp nhiều hơn lúc ban đầu. Ông có mười bốn nghìn chiên, sáu nghìn lạc đà, một nghìn đôi bò và một nghìn lừa cái.
13 Ông cũng có bảy con trai và ba con gái.
14 Ông đặt tên cho cô con gái lớn là Giê-mi-ma, cô thứ nhì là Kê-xia và cô thứ ba là Kê-ren Ha-búc.
15 Trong khắp xứ không có phụ nữ nào xinh đẹp như ba con gái của Gióp. Cha của các cô chia gia tài cho các cô cùng với các anh em trai.
16 Sau đó, Gióp còn sống một trăm bốn mươi năm; ông được thấy con, cháu, chắt đến đời thứ tư.
17 Rồi Gióp qua đời, tuổi thọ cao và thỏa lòng.