1 Đây là lời của Nê-hê-mi, con trai Ha-ca-lia. Vào tháng Kít-lêu, năm thứ hai mươi, khi tôi đang ở tại kinh thành Su-sơ,
2 có một người trong anh em tôi tên là Ha-na-ni với vài người từ Giu-đa đến. Tôi hỏi thăm họ về những người Do Thái còn sót lại, tức là những người trở về từ lưu đày, và về thành Giê-ru-sa-lem.
3 Họ nói với tôi rằng: “Những người còn sống sót sau lưu đày ở lại trong tỉnh bị hoạn nạn và tủi nhục lắm, còn tường thành Giê-ru-sa-lem thì đổ nát và các cửa thành đã bị lửa đốt cháy.”
4 Khi nghe những lời ấy, tôi ngồi than khóc, đau buồn mấy ngày; tôi kiêng ăn và cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời rằng:
5 “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các tầng trời, tức Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng kính sợ, là Đấng giữ lời giao ước và lòng nhân từ với người nào kính mến và vâng giữ các điều răn của Ngài!
6 Xin mắt Chúa đoái thương và tai Chúa lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ Chúa, đang ngày đêm cầu nguyện vì dân Y-sơ-ra-ên, là các đầy tớ Chúa ở trước mặt Chúa và xưng các tội của chúng con là dân Y-sơ-ra-ên đã phạm với Ngài. Thật, con và tổ phụ đã phạm tội.
7 Chúng con có làm những việc đồi bại chống lại Chúa, không vâng giữ điều răn, các quy định và luật lệ của Chúa đã phán dạy Môi-se là đầy tớ Chúa.
8 Xin Chúa nhớ lại lời Chúa đã phán dạy Môi-se là đầy tớ Chúa rằng: ‘Nếu các con phạm tội, Ta sẽ làm các con tan lạc giữa các dân tộc;
9 còn nếu các con trở lại với Ta và vâng giữ các điều răn của Ta thì dù những kẻ bị tan lạc của các con ở tận cuối trời, Ta cũng sẽ chiêu tập họ về và đem họ đến nơi Ta đã chọn để danh Ta ngự tại đó.’
10 Họ là các đầy tớ và con dân của Chúa mà Chúa đã cứu chuộc bằng cánh tay mạnh mẽ, đầy quyền năng của Ngài.
11 Lạy Chúa, cầu xin Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ Ngài và của các đầy tớ khác, là những người vui lòng kính sợ danh Ngài. Xin Chúa làm cho con là đầy tớ Chúa hôm nay được may mắn và được ơn thương xót trước mặt người nầy.” Lúc bấy giờ tôi làm chức dâng rượu cho vua.
1 Vào tháng Ni-san, năm thứ hai mươi đời vua Ạt-ta-xét-xe, khi rượu được dọn sẵn trước mặt vua, tôi lấy rượu dâng cho vua. Chưa bao giờ tôi tỏ vẻ buồn rầu trước mặt vua.
2 Vì vậy, vua hỏi tôi: “Sao vẻ mặt ngươi buồn rầu mặc dù ngươi không bị bệnh? Hẳn ngươi có điều buồn bã trong lòng.” Lúc ấy tôi rất sợ hãi.
3 Tôi tâu với vua: “Nguyện vua vạn tuế! Làm sao mặt tôi không buồn khi thành trì là nơi mồ mả của tổ phụ tôi bị tàn phá và các cổng thành đều bị lửa đốt cháy?”
4 Vua hỏi tôi: “Ngươi cầu xin điều gì?” Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời
5 rồi tâu với vua: “Nếu vua hài lòng và nếu đầy tớ vua được ơn trước mặt vua, xin sai phái tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi để xây cất nó lại.”
6 Khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua. Vua hỏi tôi: “Ngươi sẽ đi bao lâu và khi nào ngươi trở về?” Vậy vua bằng lòng sai tôi đi và tôi trình với vua thời gian đi và về.
7 Tôi cũng tâu với vua: “Nếu vua hài lòng, xin vua trao cho tôi các văn thư gửi các quan tổng đốc tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi đến Giu-đa.
8 Xin cũng ban chiếu chỉ cho A-sáp, người giữ rừng cho vua, bảo ông ấy cấp cho tôi gỗ làm khung cổng thành cạnh đền thờ và làm tường thành cùng nhà mà tôi sẽ ở đó.” Nhờ bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ, vua liền ban cho tôi các điều đó.
9 Vậy tôi đến với các quan tổng đốc bên kia sông và trao cho họ những văn thư của vua. Vua cũng sai những quan chức và kỵ binh đi với tôi.
10 Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn, hay điều đó thì lấy làm bất bình vì có người đến để tìm cách giúp dân Y-sơ-ra-ên được hưng thịnh.
11 Vậy tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày.
12 Tôi và mấy người cùng theo tôi trỗi dậy lúc ban đêm, không cho ai hay biết điều gì Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng tôi để thực hiện cho Giê-ru-sa-lem. Ngoài con lừa tôi cưỡi thì chẳng có con vật nào khác ở với tôi.
13 Ban đêm tôi rời thành qua cổng Thung Lũng hướng về phía Suối Rồng và đến cổng Phân để xem xét các tường thành của Giê-ru-sa-lem bị đổ nát và các cổng thành bị lửa đốt cháy.
14 Rồi tôi đi qua cổng Suối và đến Ao Vua nhưng không có nơi nào để con lừa tôi cưỡi đi ngang qua được.
15 Do đó, tôi đi dọc theo thung lũng trong ban đêm để xem xét tường thành rồi tôi quay lại, bước vào cổng Thung Lũng mà trở về.
16 Các quan chức không biết tôi đi đâu hoặc làm gì, vì tôi chưa nói cho người Do Thái hoặc các thầy tế lễ hoặc các người quyền quý hoặc quan chức hay là những người sẽ làm công việc, biết điều gì.
17 Tôi nói với họ: “Anh em thấy chúng ta đang lâm vào cảnh khốn khổ, Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và các cổng thành bị lửa thiêu đốt. Hãy đến, chúng ta hãy xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem để chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa.”
18 Tôi cũng thuật cho họ thế nào bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời đã giúp đỡ tôi và các lời vua đã nói với tôi. Họ nói: “Nào, chúng ta hãy khởi công xây dựng lại ngay đi!” Vậy họ mạnh dạn bắt tay vào công việc tốt đẹp nầy.
19 San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn và Ghê-sem người Ả-rập nghe việc đó thì chế giễu và cười nhạo chúng tôi. Chúng nói rằng: “Các ngươi làm gì đấy? Các ngươi muốn phản nghịch vua sao?”
20 Tôi trả lời với chúng rằng: “Đức Chúa Trời của các tầng trời sẽ giúp chúng tôi thành công. Chúng tôi là đầy tớ Ngài sẽ khởi công xây dựng lại, nhưng các ông thì không có phần hoặc có quyền lưu dấu gì ở Giê-ru-sa-lem cả.”
1 Thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp cùng với các anh em mình là những thầy tế lễ khởi công xây cất cổng Chiên và biệt ra thánh rồi tra hai cánh cửa. Họ tiếp tục xây đến tháp Mê-a và biệt ra thánh rồi xây tiếp đến tháp Ha-na-nê-ên.
2 Người thành Giê-ri-cô xây dựng phần kế tiếp. Xa-cu, con trai của Im-ri, xây dựng phần tiếp theo.
3 Con cháu của Hát-sê-na xây dựng cổng Cá. Họ đặt khung rồi tra cửa với chốt và then cài.
4 Mê-rê-mốt, con trai của U-ri, cháu của Ha-cốt, xây sửa phần kế tiếp. Mê-su-lam, con trai Bê-rê-kia, cháu Mê-sê-xa-lê-ên, lo việc xây sửa. Kế bên họ, có Xa-đốc, con trai Ba-a-na, lo việc xây sửa.
5 Bên cạnh họ là người Tê-cô-a lo việc xây sửa, nhưng các người quyền quý thì không chịu ghé vai vào công việc của chủ mình.
6 Giô-gia-đa, con trai của Pha-sê-a và Mê-su-lam, con trai của Bê-sô-đia, xây sửa lại cổng Cũ; họ đặt khung, tra cửa, chốt và then.
7 Bên cạnh họ là Mê-la-tia, người Ga-ba-ôn và Gia-đôn, người Mê-rô-nốt, cùng với người Ga-ba-ôn và người Mích-pa thuộc về địa hạt của tổng đốc bên kia sông đều làm công tác xây sửa tường thành.
8 Bên cạnh họ là U-xi-ên, con trai Hạt-ha-gia, làm thợ kim hoàn, sửa chữa tường thành. Tiếp theo, Ha-na-nia là một trong những người thợ làm nước hoa, xây sửa phần kế tiếp. Họ sửa chữa, củng cố Giê-ru-sa-lem cho đến vách Rộng.
9 Kế họ là Rê-pha-gia, con trai của Hu-rơ, viên quản lý phân nửa quận Giê-ru-sa-lem, sửa chữa tường thành.
10 Kế đến, Giê-đa-gia, con trai Ha-ru-máp, sửa chữa phần đối diện nhà ông. Kế ông, Hát-túc, con trai của Ha-sáp-nia sửa chữa tường thành.
11 Manh-ki-gia, con trai của Ha-rim và Ha-súp, con trai của Pha-hát Mô-áp, sửa chữa một phần khác và cái tháp Lò.
12 Kế cận ông là Sa-lum, con trai của Ha-lô-he, viên quản lý phân nửa kia của quận Giê-ru-sa-lem và các con gái của ông đều sửa chữa tường thành.
13 Ha-nun và dân cư ở Xa-nô-a sửa chữa cổng Thung Lũng; họ xây dựng lại, rồi tra cửa, chốt và then. Họ cũng xây bốn trăm năm mươi mét tường ngăn cho đến cổng Phân.
14 Manh-ki-gia, con trai Rê-cáp, viên quản lý quận Bết Hát-kê-rem, sửa chữa cổng Phân. Ông xây dựng lại cổng, tra cửa, chốt và then.
15 Sa-lun, con trai của Côn Hô-xê, viên quản lý quận Mích-pa, sửa chữa cổng Suối. Ông xây lại, lợp mái, tra cửa, chốt và then. Ông cũng xây vách ngăn quanh ao Si-lô-ê, gần vườn thượng uyển, cho đến các bậc thang từ thành Đa-vít đi xuống.
16 Kế ông là Nê-hê-mi, con trai của A-búc, viên quản lý phân nửa quận Bết-xu-rơ, sửa chữa tường thành cho đến chỗ đối diện các lăng tẩm Đa-vít, hồ chứa nước và cho đến nhà của các dũng sĩ.
17 Tiếp đến là Rê-hum, con trai Ba-ni, người Lê-vi sửa chữa tường thành. Kế ông là Ha-sa-bia, viên quản lý phân nửa quận Kê-i-la, sửa chữa về phần quận mình.
18 Kế ông, có anh em của Ba-va-i, con trai của Hê-na-đát, viên quản lý phân nửa kia của quận Kê-i-la, sửa chữa tường thành.
19 Tiếp theo là Ê-xe, con trai của Giô-suê, viên quản lý vùng Mích-pa, sửa chữa một phần khác đối diện dốc đi lên kho vũ khí ở góc thành.
20 Sau ông có Ba-rúc, con trai của Xáp-bai, hăng hái sửa chữa một phần khác từ góc thành cho đến cửa vào nhà Ê-li-a-síp, thầy tế lễ thượng phẩm.
21 Tiếp theo, có Mê-rê-mốt, con trai U-ri, cháu Ha-cốt, sửa chữa một phần khác từ cửa vào nhà Ê-li-a-síp cho đến cuối nhà ông ấy.
22 Sau ông, có những thầy tế lễ ở vùng chung quanh Giê-ru-sa-lem sửa chữa tường thành.
23 Tiếp theo, Bên-gia-min và Ha-súp sửa chữa phần đối diện nhà mình. Kế đến, A-xa-ria, con trai của Ma-a-xê-gia, cháu A-na-nia, sửa chữa phía bên cạnh nhà mình.
24 Kế đến, Bin-nui, con trai của Hê-na-đát, sửa chữa một phần khác từ nhà A-xa-ria cho đến chỗ cong và góc thành.
25 Pha-lanh, con trai của U-xai, sửa chữa chỗ đối diện góc thành và tháp cao nhô ra từ cung điện gần hành lang vệ binh. Kế ông là Phê-đa-gia, con trai của Pha-rốt, sửa chữa tường thành.
26 Những người phục vụ đền thờ sống ở Ô-phên sửa chữa tường thành cho đến chỗ đối diện cổng Nước về phía đông và tháp nhô ra.
27 Kế tiếp, người Thê-cô-a sửa chữa một phần khác đối diện tháp lớn nhô ra cho đến tường Ô-phên.
28 Những thầy tế lễ thì sửa chữa phần phía trên cổng Ngựa, mỗi người sửa phần đối diện nhà của mình.
29 Tiếp theo, Xa-đốc, con trai Y-mê, sửa chữa phần đối diện nhà mình. Kế đến, Sê-ma-gia, con trai Sê-ca-nia, người giữ cổng Đông, sửa chữa tường thành.
30 Tiếp theo, Ha-na-nia, con trai của Sê-lê-mia, và Ha-nun, con thứ sáu của Xa-láp, sửa chữa một phần khác. Kế đến, Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia, sửa chữa nơi đối diện nhà mình.
31 Kế đó, Manh-ki-gia, một trong những thợ kim hoàn, sửa chữa cho đến nhà của những người phục vụ đền thờ và các thương gia, đối diện cổng Mi-phơ-cát và cho đến phòng cao trên góc thành.
32 Còn những thợ kim hoàn và các thương gia đều sửa chữa giữa góc thành và cổng Chiên.
1 Khi San-ba-lát nghe tin chúng tôi xây sửa tường thành thì giận dữ và chế nhạo người Do Thái.
2 Hắn nói trước mặt anh em hắn và quân đội Sa-ma-ri rằng: “Bọn Do Thái yếu đuối ấy làm được gì? Chúng sẽ xây lại tường thành ư? Chúng sẽ dâng tế lễ sao? Liệu chúng sẽ làm xong trong một ngày chăng? Đá đã cháy thiêu thành đống bụi đất rồi có thể phục hồi thành đá xây được sao?”
3 Tô-bi-gia, người Am-môn, đứng bên cạnh hắn nói rằng: “Cái tường bằng đá mà chúng đang xây kia nếu có một con chồn leo lên đó cũng đủ sập xuống rồi!”
4 “Lạy Đức Chúa Trời của chúng con! Xin lắng nghe vì chúng con bị khinh dể. Xin đổ lời sỉ nhục của chúng trên đầu chúng và phó chúng làm của cướp trong xứ mà chúng bị bắt làm tù binh.
5 Đừng khỏa lấp gian ác của chúng hay bôi xóa tội lỗi chúng khỏi trước mặt Chúa, vì chúng đã chọc giận Chúa trước mặt các thợ xây cất.”
6 Vậy chúng tôi xây cất tường thành cho đến khi cả bức tường đều nối liền với nhau và lên được phân nửa bề cao, vì dân chúng đều hết lòng làm việc.
7 Nhưng khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, những người Ả-rập, dân Am-môn và dân Ách-đốt nghe tin việc sửa chữa tường thành Giê-ru-sa-lem đang tiến triển và các lỗ hổng được lấp kín thì chúng rất giận dữ.
8 Chúng họp nhau, âm mưu tiến đánh Giê-ru-sa-lem và làm cho thành bị rối loạn.
9 Còn chúng tôi thì cầu nguyện với Đức Chúa Trời của chúng tôi và lập người canh gác ngày và đêm để chống lại chúng.
10 Nhưng người Giu-đa nói: “Còn nhiều đống đổ nát mà sức lực của những người khuân vác đã kiệt quệ, chúng ta không thể xây cất tường thành được.”
11 Các kẻ thù của chúng tôi nói rằng: “Chúng sẽ không hay không thấy gì cho đến chừng chúng ta đến giữa chúng, giết chúng và làm cho chúng phải ngưng công việc.”
12 Khi những người Do Thái sống ở gần những kẻ thù báo cho chúng tôi đến mười lần rằng: “Kẻ thù sẽ tấn công chúng ta từ bốn hướng,”
13 thì tôi lập những đồn trong các nơi thấp phía sau vách thành và ở những nơi trống trải, rồi đặt dân chúng theo từng gia tộc cầm gươm, giáo và cung.
14 Sau khi xem xét, tôi trỗi dậy và nói với các người quý tộc, viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Đừng sợ chúng. Hãy nhớ rằng Chúa là Đấng vĩ đại và đáng kính sợ sẽ chiến đấu cho anh em, con trai, con gái, vợ và cả nhà của anh em.”
15 Khi các kẻ thù của chúng tôi hay rằng âm mưu của chúng đã bị bại lộ, và Đức Chúa Trời đã phá hỏng âm mưu của chúng thì tất cả chúng tôi đều trở lại nơi tường thành, mỗi người làm công việc mình.
16 Từ ngày đó, phân nửa số người dưới quyền tôi làm công việc, còn phân nửa kia thì cầm giáo, khiên, cung và mặc áo giáp. Các người lãnh đạo đều đứng phía sau cả nhà Giu-đa,
17 là những người đang xây sửa tường thành. Những người khuân vác vật liệu thì một tay làm công việc còn tay kia thì cầm vũ khí.
18 Mỗi người xây dựng đều đeo gươm mình nơi hông khi làm việc. Còn người thổi kèn thì ở bên cạnh tôi.
19 Tôi nói với các người quý tộc, các viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Công việc thì lớn và kéo dài, còn chúng ta làm rải rác quanh tường thành, người này cách xa người kia.
20 Vậy mỗi khi anh em nghe tiếng kèn nơi nào thì hãy tập hợp lại với chúng tôi nơi đó. Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.”
21 Vậy chúng tôi làm việc, phân nửa số người thì cầm giáo từ lúc rạng đông cho đến khi sao mọc.
22 Trong lúc ấy, tôi cũng nói với dân chúng rằng: “Mỗi người hãy cùng với đầy tớ mình ngủ đêm ở Giê-ru-sa-lem để canh gác ban đêm và làm việc ban ngày.”
23 Kể cả tôi, anh em tôi, các đầy tớ tôi, và các lính canh theo hộ vệ tôi, không một ai được cởi áo mình ra; mỗi người đều cầm vũ khí trong tay phải mình.
1 Lúc bấy giờ có một số người cùng vợ con của họ kêu la phản đối người Do Thái là anh em mình.
2 Có người nói rằng: “Chúng tôi có nhiều con trai, con gái; chúng tôi cần có lúa mì để ăn mà sống chứ!”
3 Người khác thì nói: “Trong cơn đói kém, chúng tôi cầm ruộng, vườn nho và nhà của chúng tôi để có lúa mì ăn.”
4 Người khác nữa nói: “Chúng tôi đã vay tiền để đóng thuế ruộng đất và vườn nho của chúng tôi cho vua.
5 Chúng tôi cũng có thân thể giống như anh em; chúng tôi và con cái chúng tôi cũng giống như con cái họ, nhưng chúng tôi phải bắt các con trai và con gái chúng tôi đi ở đợ. Con gái chúng tôi có đứa đã thành nô tì, nhưng chúng tôi không có quyền chuộc lại vì đồng ruộng và vườn nho chúng tôi đã thuộc về kẻ khác rồi.”
6 Khi nghe những lời kêu ca, phàn nàn của họ, tôi rất công phẫn.
7 Tôi suy tính trong lòng và khiển trách các quý tộc cùng các viên chức rằng: “Các ông đã cho anh em mình vay nặng lãi.” Tôi triệu tập một buổi họp đông đảo để đối phó với việc nầy.
8 Tôi nói: “Chúng tôi đã làm hết sức để chuộc lại anh em chúng tôi là người Do Thái đã bị bán cho các dân tộc khác, còn các ông lại muốn bán anh em mình để họ lại bị mua bán giữa chúng ta sao?” Họ im lặng vì không biết phải ăn nói làm sao.
9 Tôi nói tiếp: “Điều các ông làm không phải chút nào. Đáng lẽ các ông phải ăn ở trong sự kính sợ Đức Chúa Trời để các dân tộc thù địch không sỉ nhục chúng ta chứ?
10 Tôi, anh em tôi và các đầy tớ tôi cũng đã cho họ mượn tiền và lúa mì. Vậy chúng ta hãy xóa món nợ nầy đi!
11 Ngay hôm nay, xin các ông hãy trả lại cho họ đồng ruộng, vườn nho, vườn ô-liu và nhà cửa của họ cùng với lãi suất về tiền, lúa mì, rượu và dầu mà các ông đã bắt họ phải nộp.”
12 Họ nói: “Chúng tôi sẽ trả lại và không đòi họ điều gì cả. Chúng tôi sẽ làm đúng như ông đã nói.” Tôi cũng gọi những thầy tế lễ, bắt họ phải thề làm theo như lời đã hứa.
13 Tôi cũng giũ vạt áo và nói: “Ai không thực hiện lời hứa nầy thì xin Đức Chúa Trời giũ sạch nhà cửa và tài sản của hắn. Nguyện hắn bị giũ sạch và trắng tay như vậy!” Cả hội chúng đồng nói: “A-men” và họ ca ngợi Đức Giê-hô-va. Vậy dân chúng đều làm theo lời hứa ấy.
14 Hơn nữa, từ ngày tôi được lập làm tổng đốc trong xứ Giu-đa, tức từ năm thứ hai mươi cho đến năm thứ ba mươi hai đời vua Ạt-ta-xét-xe, tổng cộng là mười hai năm, tôi và thân nhân tôi không ăn lương bổng dành cho tổng đốc.
15 Nhưng các tổng đốc đến trước tôi đã chất gánh nặng trên dân chúng, đòi cung cấp lương thực và rượu ngoài số nửa ký bạc. Ngay cả các đầy tớ của họ cũng hống hách với dân chúng nữa. Nhưng tôi không làm như vậy vì kính sợ Đức Chúa Trời.
16 Tôi giữ vững công việc xây sửa tường thành, và không mua đồng ruộng nào. Các đầy tớ tôi đều họp lại ở đó để làm việc.
17 Nơi bàn ăn của tôi cũng có một trăm năm mươi người Do Thái và các viên chức, không kể những người đến từ các dân tộc chung quanh.
18 Mỗi ngày, người ta dọn một con bò, sáu con chiên béo tốt; người ta cũng dọn gà vịt và cứ mười ngày thì đãi đủ các thứ rượu. Tuy nhiên, tôi cũng không đòi lương bổng dành cho tổng đốc vì việc lao dịch đã đè nặng trên dân chúng rồi.
19 “Lạy Đức Chúa Trời của con! Nguyện Chúa ghi nhớ các việc con đã làm cho dân tộc nầy và làm ơn cho con.”
1 Khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, Ghê-sem là người Ả-rập và các kẻ thù khác của chúng tôi nghe tin rằng tôi đã xây sửa tường thành và không còn lỗ hổng nào nữa (mặc dù cho đến lúc ấy tôi chưa tra cánh cửa)
2 thì San-ba-lát và Ghê-sem sai người đến nói với tôi: “Xin mời đến, chúng ta sẽ gặp nhau ở một làng nào đó trong đồng bằng Ô-nô.” Nhưng chúng âm mưu hại tôi.
3 Tôi sai sứ giả đến nói với chúng: “Tôi bận làm công trình lớn, không thể xuống được. Lẽ nào tôi bỏ dở công việc để đi xuống với các ông?”
4 Chúng sai người nói với tôi bốn lần như vậy và lần nào tôi cũng đều trả lời với chúng y như nhau.
5 Lần thứ năm, cũng lời mời đó, San-ba-lát sai đầy tớ cầm thư không niêm nơi tay.
6 Trong thư viết: “Trong các dân tộc người ta nghe đồn và chính Gát-mu cũng nói rằng ông và người Do Thái âm mưu dấy loạn nên mới xây sửa tường thành, và cứ theo lời đồn đó thì ông muốn lên làm vua của họ.
7 Ông đã lập những nhà tiên tri để công bố tại Giê-ru-sa-lem về ông rằng: ‘Có một vua trong xứ Giu-đa!’ Tin đồn ấy chắc sẽ đến tai vua. Vậy xin hãy đến để chúng ta bàn luận với nhau.”
8 Tôi sai người trả lời với ông ấy rằng: “Những điều ông nói không có thật đâu, chỉ do lòng ông nghĩ ra mà thôi.”
9 Chúng muốn làm cho tất cả chúng tôi sợ hãi, vì chúng nghĩ rằng “Tay của họ sẽ bị mỏi mệt, không hoàn tất công việc được.” Vậy bây giờ, “lạy Chúa, xin làm cho tay con mạnh mẽ.”
10 Bấy giờ, tôi đi đến nhà của Sê-ma-gia, con trai của Đê-la-gia, cháu của Mê-hê-ta-bê-ên, người ấy ở ẩn trong đó. Ông ấy nói: “Chúng ta hãy gặp nhau trong nhà của Đức Chúa Trời, bên trong đền thờ và đóng các cửa đền thờ lại, vì chúng sẽ tìm giết ông; thật vậy, đêm nay chúng sẽ đến giết ông.”
11 Tôi đáp: “Một người như tôi sẽ chạy trốn ư? Một người như tôi vào trong đền thờ mà được sống sao? Tôi không vào đâu!”
12 Tôi nhận biết không phải Đức Chúa Trời đã sai ông ấy đến đâu, nhưng ông ấy nói lời tiên tri đó chống lại tôi, vì Tô-bi-gia và San-ba-lát đã mướn ông ấy.
13 Vì ông ấy được trả tiền công để làm cho tôi sợ hãi mà phạm tội rồi lấy cớ đó bêu xấu và sỉ nhục tôi.
14 “Lạy Đức Chúa Trời của con! Xin nhớ Tô-bi-gia và San-ba-lát tùy theo các công việc mà họ đã làm; cũng xin nhớ đến Nô-a-đia, nữ tiên tri và các nhà tiên tri khác đã làm cho con sợ hãi!”
15 Vậy ngày hai mươi lăm tháng Ê-lun, tường thành hoàn tất sau năm mươi hai ngày.
16 Khi tất cả những kẻ thù và các dân tộc chung quanh chúng tôi nghe tin đó thì đều sợ hãi và nản chí vì chúng nhận biết rằng công việc nầy được hoàn thành là nhờ Đức Chúa Trời của chúng tôi giúp đỡ.
17 Hơn nữa, trong những ngày ấy, các người quý tộc của Giu-đa gửi nhiều thư cho Tô-bi-gia và Tô-bi-gia cũng gửi thư cho chúng.
18 Vì tại Giu-đa có nhiều người đã thề giúp ông bởi ông là con rể của Sê-ca-nia, con trai của A-ra. Hơn nữa, con của Tô-bi-gia là Giô-ha-nan đã cưới con gái của Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia.
19 Họ cũng khen ngợi những việc tốt của ông trước mặt tôi và thuật lại cho ông những lời của tôi. Còn Tô-bi-gia gửi thư để làm cho tôi sợ hãi.
1 Sau khi tường thành đã xây xong, tôi tra các cánh cửa và lập những người gác cổng, các ca sĩ và người Lê-vi làm nhiệm vụ.
2 Tôi giao việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho em tôi là Ha-na-ni và cho Ha-na-nia là quản đốc kinh thành, vì ông là người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác.
3 Tôi dặn họ rằng: “Đừng mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời lên cao, và phải đóng cửa, cài then lại khi lính canh còn ở đó. Cũng phải chỉ định người dân ở Giê-ru-sa-lem thay phiên canh gác, người thì đứng ở vọng canh, người thì đứng đối diện nhà mình.”
4 Thành thì rộng lớn nhưng cư dân trong thành ít ỏi và nhà cửa còn thưa thớt.
5 Đức Chúa Trời thúc giục lòng tôi triệu tập những người quý tộc, các quan chức và dân chúng đến ghi tên theo gia phả. Tôi đã tìm được một cuốn gia phả của những người đã hồi hương lần đầu tiên và trong đó tôi thấy có ghi rằng:
6 Đây là những người từ nơi lưu đày hồi hương, tức là những người bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt đi Ba-by-lôn, nay họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về lại thành của mình.
7 Họ trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hum và Ba-a-na. Đây là số những người nam trong Y-sơ-ra-ên được kiểm tra:
8 Con cháu Pha-rốt có hai nghìn một trăm bảy mươi hai người.
9 Con cháu Sê-pha-tia có ba trăm bảy mươi hai người.
10 Con cháu A-ra có sáu trăm năm mươi hai người.
11 Con cháu Pha-hát Mô-áp, tức là con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai nghìn tám trăm mười tám người.
12 Con cháu Ê-lam có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.
13 Con cháu Xát-tu có tám trăm bốn mươi lăm người.
14 Con cháu Xác-cai có bảy trăm sáu mươi người.
15 Con cháu Bin-nui có sáu trăm bốn mươi tám người.
16 Con cháu Bê-bai có sáu trăm hai mươi tám người.
17 Con cháu A-gát có hai nghìn ba trăm hai mươi hai người.
18 Con cháu A-đô-ni-cam có sáu trăm sáu mươi bảy người.
19 Con cháu Biết-vai có hai nghìn không trăm sáu mươi bảy người.
20 Con cháu A-đin có sáu trăm năm mươi lăm người.
21 Con cháu A-te thuộc dòng dõi Ê-xê-chia có chín mươi tám người.
22 Con cháu Ha-sum có ba trăm hai mươi tám người.
23 Con cháu Bết-sai có ba trăm hai mươi bốn người.
24 Con cháu Ha-ríp có một trăm mười hai người.
25 Con cháu Ga-ba-ôn có chín mươi lăm người.
26 Những người quê ở Bết-lê-hem và Nê-tô-pha có một trăm tám mươi tám người
27 Những người quê ở A-na-tốt có một trăm hai mươi tám người.
28 Những người quê ở Bết A-ma-vết có bốn mươi hai người.
29 Những người quê ở Ki-ri-át Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, có bảy trăm bốn mươi ba người.
30 Những người quê ở Ra-ma và Ghê-ba, có sáu trăm hai mươi mốt người.
31 Những người quê ở Mích-ma có một trăm hai mươi hai người.
32 Những người quê ở Bê-tên và A-hi có một trăm hai mươi ba người.
33 Những người quê ở Nê-bô khác có năm mươi hai người.
34 Con cháu Ê-lam khác có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.
35 Con cháu Ha-rim có ba trăm hai mươi người.
36 Con cháu Giê-ri-cô có ba trăm bốn mươi lăm người.
37 Con cháu Lót, Ha-đít và Ô-nô có bảy trăm hai mươi mốt người.
38 Con cháu Sê-na có ba nghìn chín trăm ba mươi người.
39 Những thầy tế lễ: Con cháu Giê-đa-gia thuộc dòng dõi Giê-sua có chín trăm bảy mươi ba người.
40 Con cháu Y-mê có một nghìn không trăm năm mươi hai người.
41 Con cháu Pha-ru-sơ có một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người.
42 Con cháu Ha-rim có một nghìn không trăm mười bảy người.
43 Những người Lê-vi: Con cháu Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đê-va có bảy mươi bốn người.
44 Các ca sĩ: Con cháu A-sáp có một trăm bốn mươi tám người.
45 Những người gác cổng: Con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-ta và con cháu Sô-bai, có một trăm ba mươi tám người.
46 Những người phục vụ đền thờ: con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
47 con cháu Kê-rốt, con cháu Si-a, con cháu Pha-đôn,
48 con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai,
49 con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha,
50 con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa,
51 con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a
52 con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sê-sim,
53 con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
54 con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
55 con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
56 con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
57 Dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa
58 con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên,
59 con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kê-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-môn.
60 Tổng số người phục vụ đền thờ và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.
61 Sau đây là những người trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê, nhưng họ không thể tìm ra tổ tiên hoặc nguồn gốc của họ thuộc về Y-sơ-ra-ên hay không:
62 Con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia và con cháu Nê-cô-đa có sáu trăm bốn mươi hai người.
63 Còn những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai (là người lấy vợ trong số con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át nên được gọi bằng tên ấy).
64 Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không thấy nên bị loại ra khỏi chức tế lễ vì bị coi là ô uế.
65 Quan tổng đốc cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến khi có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để cầu hỏi Đức Chúa Trời.
66 Cả hội chúng tổng cộng là bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người,
67 không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm bốn mươi lăm ca sĩ, cả nam lẫn nữ.
68 Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,
69 bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.
70 Một vài trưởng tộc đã dâng hiến vào quỹ công trình. Quan tổng đốc dâng cho quỹ công trình khoảng tám ký rưỡi vàng, năm mươi chậu và năm trăm ba mươi bộ áo cho thầy tế lễ.
71 Có mấy trưởng tộc dâng vào quỹ công trình khoảng một trăm bảy chục ký vàng và một nghìn hai trăm ký bạc.
72 Dân chúng dâng phần còn lại, được khoảng một trăm bảy chục ký vàng, khoảng một nghìn một trăm ký bạc và sáu mươi bảy bộ áo thầy tế lễ.
73 Như vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người gác cổng, các ca sĩ, một số người khác và những người phục vụ đền thờ cùng cả Y-sơ-ra-ên đều ở trong thành của mình. Đến tháng bảy thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.
1 Bấy giờ tất cả dân chúng đều họp lại như một người tại quảng trường trước cổng Nước. Họ xin thầy thông giáo E-xơ-ra đem cuộn sách luật pháp của Môi-se ra; đó là luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy cho Y-sơ-ra-ên.
2 Vậy, vào ngày mồng một tháng bảy, thầy tế lễ E-xơ-ra đem cuộn sách luật pháp đến trước mặt hội chúng cả nam lẫn nữ, cùng tất cả những người có thể nghe và hiểu được.
3 Ông đứng tại quảng trường trước cổng Nước đọc trong cuộn sách ấy từ rạng đông cho đến trưa, trước mặt hội chúng cả nam lẫn nữ cùng những người có thể hiểu được. Tất cả dân chúng lắng tai nghe đọc sách luật pháp.
4 Thầy thông giáo E-xơ-ra đứng trên bục gỗ mà người ta làm nhân dịp ấy; Ma-ti-thia, Sê-ma, A-na-gia, U-ri, Hinh-kia và Ma-a-xê-gia đứng gần ông, phía bên phải; còn bên trái ông thì có Phê-đa-gia, Mi-sa-ên, Manh-ki-gia, Ha-sum, Hách-ba-đa-na, Xa-cha-ri và Mê-su-lam
5 E-xơ-ra mở sách ra trước mặt cả dân chúng vì ông đứng cao hơn họ; và khi ông mở sách ra thì dân chúng đều đứng dậy.
6 E-xơ-ra chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời cao cả, và tất cả dân chúng giơ tay lên mà đáp lại rằng: “A-men, A-men,” rồi họ cúi đầu, sấp mặt xuống đất mà thờ phượng Đức Giê-hô-va.
7 Giê-sua, Ba-ni, Sê-rê-bia, Gia-min, A-cúp, Sa-bê-thai, Hô-đi-gia, Ma-a-xê-gia, Kê-li-ta, A-xa-ria, Giô-xa-bát, Ha-nan, Phê-la-gia và người Lê-vi giải thích cho dân chúng hiểu luật pháp, còn dân chúng vẫn đứng tại chỗ.
8 Họ đọc rõ ràng trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời rồi giải nghĩa cho người ta hiểu lời họ đọc.
9 Nê-hê-mi, quan tổng đốc, E-xơ-ra thầy tế lễ cũng là thầy thông giáo, cùng người Lê-vi dạy dỗ dân chúng, nói với mọi người Y-sơ-ra-ên rằng: “Ngày nay là thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em. Đừng để tang hay khóc lóc.” Vì cả dân chúng đều khóc khi nghe đọc những lời trong luật pháp.
10 Nê-hê-mi nói với họ: “Hãy đi ăn đồ ăn béo, uống thức uống ngọt và hãy gửi phần ăn cho ai không sắm sửa gì hết vì hôm nay là ngày biệt ra thánh cho Chúa chúng ta. Đừng buồn thảm vì sự vui vẻ về Đức Giê-hô-va là sức mạnh của anh em.”
11 Vậy người Lê-vi trấn an dân chúng và nói: “Hãy im lặng vì ngày nay là thánh, đừng buồn thảm nữa!”
12 Toàn thể dân chúng đi ra ăn uống và gửi phần ăn cho người không có. Họ liên hoan trọng thể vì họ hiểu được các lời người ta đã truyền dạy cho mình.
13 Qua ngày mồng hai, các trưởng tộc trong dân chúng, những thầy tế lễ và người Lê-vi đều nhóm lại với thầy thông giáo E-xơ-ra để lắng nghe các lời của luật pháp.
14 Họ thấy có chép trong luật pháp mà Đức Giê-hô-va phán qua Môi-se bảo dân Y-sơ-ra-ên phải ở trong các lều tạm suốt kỳ lễ vào tháng bảy
15 và họ phải rao truyền trong các thành cũng như tại Giê-ru-sa-lem rằng: “Hãy lên núi tìm những nhánh ô-liu và cây ô-liu rừng, nhánh cây sim, lá kè và những nhánh cây rậm lá để làm những lều tạm” như đã chép.
16 Vậy dân chúng đi ra đem các lá ấy về và mỗi người làm lều tạm trên mái nhà mình, ngoài sân, trong hành lang của đền Đức Chúa Trời, nơi quảng trường trước cổng Nước và quảng trường trước cổng Ép-ra-im.
17 Cả hội chúng của những người bị lưu đày trở về làm những lều tạm và ở trong đó. Từ đời Giô-suê, con trai của Nun, cho đến ngày ấy dân Y-sơ-ra-ên chưa bao giờ làm như vậy. Họ tràn ngập niềm vui.
18 Mỗi ngày, từ ngày đầu cho đến ngày cuối, người ta đọc trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời. Họ ăn mừng lễ hội trong bảy ngày, và ngày thứ tám có một lễ trọng thể theo luật định.
1 Vào ngày hai mươi bốn tháng ấy, dân Y-sơ-ra-ên nhóm lại kiêng ăn, mặc vải sô và rải bụi đất trên đầu.
2 Những người thuộc dòng giống Y-sơ-ra-ên đã tách biệt khỏi người ngoại đều đứng dậy xưng tội lỗi của mình và sự gian ác của tổ phụ mình.
3 Họ đứng tại chỗ và đọc trong sách luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời trong một phần tư ngày, và dành một phần tư khác để xưng tội và thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.
4 Bấy giờ Giê-sua, Ba-ni, Cát-mi-ên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia, Ba-ni và Kê-na-ni đứng trên bục dành cho người Lê-vi và kêu cầu lớn tiếng với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
5 Những người Lê-vi là Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia và Phê-ta-hia nói: “Xin chúng ta cùng đứng dậy chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta, Là Đấng vĩnh hằng! Đáng ca ngợi danh vinh quang của Ngài, Danh vượt lên trên mọi lời chúc tụng và ngợi ca.
6 Ôi! Chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các tầng trời và trời của các tầng trời cùng toàn cơ binh của chúng, Đất và mọi vật trên đất, biển và muôn vật dưới biển. Chúa bảo tồn các vật ấy Và cơ binh trên tầng trời đều thờ phượng Ngài.
7 Chúa ôi! Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã chọn Áp-ram, Đem ông ra khỏi U-rơ của dân Canh-đê Và đổi tên ông thành Áp-ra-ham.
8 Chúa thấy lòng ông trung thành trước mặt Chúa Và Ngài lập giao ước với ông, Hứa ban cho dòng dõi ông đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít và dân Ghi-rê-ga-sít. Chúa đã làm ứng nghiệm lời của Chúa vì Chúa là công chính.
9 Chúa đã thấy nỗi khốn khổ của tổ phụ chúng con tại Ai Cập, Có nghe tiếng kêu cầu của họ bên Biển Đỏ,
10 Làm những phép mầu dấu lạ chống lại Pha-ra-ôn, Và các quần thần cùng toàn dân trong nước, Vì Chúa biết chúng đã đối đãi tổ phụ chúng con một cách kiêu căng. Chúa đã làm rạng danh Chúa cho đến ngày nay.
11 Chúa rẽ biển trước mặt dân Ngài Để họ đi qua trên đất khô giữa lòng biển. Còn những kẻ đuổi theo, Chúa ném chúng dưới vực sâu Như ném đá xuống nước lớn.
12 Ban ngày Chúa dẫn dắt họ bằng trụ mây Và ban đêm bằng trụ lửa để chiếu sáng con đường họ đi.
13 Chúa ngự xuống trên núi Si-na-i, Từ trên trời Chúa phán với họ. Chúa ban những luật lệ và quy định ngay thẳng, công chính; Những quy tắc và điều răn tốt lành.
14 Chúa khiến họ biết ngày sa-bát thánh của Chúa, Và ban cho họ những điều răn, quy tắc và luật pháp, Qua Môi-se là đầy tớ Chúa.
15 Từ trên trời Chúa ban bánh khi họ đói, Khiến hòn đá phun nước ra khi họ khát, Truyền bảo họ vào nhận lấy đất mà Chúa đã hứa ban cho họ.
16 Nhưng tổ phụ chúng con cư xử cách kiêu ngạo và cứng cổ, Không nghe các điều răn của Chúa.
17 Họ không vâng lời và không nhớ đến các phép lạ mà Chúa đã thi hành giữa họ, Nhưng họ cứng cổ và trong khi nổi loạn, Họ chọn một người lãnh đạo để đưa họ trở về cảnh nô lệ. Nhưng Chúa là Đức Chúa Trời sẵn lòng tha thứ, hay làm ơn, và thương xót, Chậm nóng giận và đầy lòng nhân từ. Chúa vẫn không từ bỏ họ.
18 Thậm chí khi họ làm một con bò con đực và nói: ‘Đây là thần đã dẫn các ngươi ra khỏi Ai Cập’ Và xúc phạm đến Chúa,
19 Thì Chúa vẫn thương xót không từ bỏ họ trong hoang mạc. Trụ mây dẫn đường ban ngày không lìa khỏi họ, Trụ lửa chiếu sáng ban đêm trên con đường họ đi.
20 Chúa cũng ban cho họ Thần Linh tốt lành của Chúa để dạy dỗ họ. Chúa không từ chối ban ma-na cho miệng họ và nước uống khi họ khát.
21 Chúa nuôi dưỡng họ bốn mươi năm trong hoang mạc: Họ chẳng thiếu thốn gì cả, Quần áo họ không cũ rách và chân họ không phù lên.
22 Họ chiếm đất Hết-bôn của vua Si-hôn, Và đất Ba-san của vua Óc. Chúa ban cho họ các dân, các nước Và phân phát các vùng xa xôi ấy cho họ.
23 Chúa đã làm cho dòng dõi họ đông như sao trên trời, Và đem họ vào xứ Mà Chúa đã phán với tổ phụ họ rằng họ sẽ vào chiếm lấy xứ ấy.
24 Vậy con cháu họ vào nhận lấy xứ. Chúa khiến các dân địa phương là dân Ca-na-an khuất phục họ, Phó cư dân và vua của chúng Cùng các dân tộc khác trong đất ấy vào tay họ, Cho họ đối xử với các dân ấy theo ý họ muốn.
25 Họ chiếm lấy những thành bền vững, Đất mầu mỡ, nhà đầy các vật tốt lành, Những giếng nước đào sẵn, Vườn nho, vườn ô-liu và cây trái rất nhiều. Họ ăn no nê và trở nên béo tốt; Họ vui hưởng sự tốt lành lớn lao của Ngài.
26 Dù vậy, họ không vâng lời và phản nghịch Chúa, Ném bỏ luật pháp Chúa sau lưng, Giết các nhà tiên tri của Chúa, là những người khuyến cáo họ quay về với Chúa, Và lại xúc phạm nặng đến Ngài.
27 Vì thế, Chúa phó họ vào tay các kẻ thù, và chúng hà hiếp họ. Trong cơn hoạn nạn, họ kêu cầu với Chúa. Vì lòng nhân từ lớn lao, Chúa từ trời lắng nghe Và ban cho những vị cứu tinh để giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù mình.
28 Nhưng khi được an ổn Thì họ lại làm điều ác trước mặt Chúa. Vì vậy, Chúa phó mặc họ vào tay kẻ thù thống trị họ. Tuy nhiên khi họ trở lại kêu cầu với Chúa Thì Chúa từ trên trời lắng nghe. Và vì lòng thương xót, Chúa đã nhiều lần giải cứu họ.
29 Chúa cũng cảnh cáo để khiến họ quay về với luật pháp của Ngài. Tuy nhiên họ đã cư xử cách kiêu ngạo, không vâng theo các điều răn Chúa. Họ vi phạm luật lệ của Chúa là luật lệ mà nếu ai vâng theo tất sẽ được sống. Họ cứng đầu, cứng cổ và không chịu vâng lời.
30 Chúa kiên nhẫn với họ nhiều năm, Dùng Thần Linh và các nhà tiên tri của Ngài để cảnh cáo họ. Nhưng họ không lắng nghe Nên Chúa phó họ vào tay các dân tộc sống trong xứ.
31 Tuy nhiên, vì lòng thương xót lớn lao, Chúa không tận diệt họ cũng không từ bỏ họ. Vì Chúa là Đức Chúa Trời hay thương xót và nhân từ.
32 Vậy bây giờ, lạy Đức Chúa Trời của chúng con, là Đức Chúa Trời vĩ đại, quyền năng, đáng kính sợ, Giữ giao ước và lòng nhân từ, Xin đừng xem nhẹ nỗi khốn khổ đã giáng trên chúng con, Trên các vua, các quan chức, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, các tổ phụ chúng con, Và trên cả con dân Chúa từ thời các vua A-si-ri cho đến ngày nay.
33 Trong mọi việc đã xảy đến cho chúng con, Chúa vẫn công chính vì Chúa thi hành cách đúng đắn, Còn chúng con làm điều gian ác.
34 Các vua, các quan chức, các thầy tế lễ và tổ phụ của chúng con Không gìn giữ luật pháp của Chúa, Cũng chẳng vâng theo các điều răn và những lời cảnh cáo mà Chúa phán với họ.
35 Ngay cả khi còn ở trong xứ, Vui hưởng biết bao điều tốt lành trong đất rộng rãi và mầu mỡ mà Chúa đã ban cho họ, Họ cũng không phụng sự Chúa, và không từ bỏ các công việc gian ác của họ.
36 Kìa, ngày nay chúng con làm thân nô lệ, Nô lệ ngay trong đất mà Chúa ban cho tổ phụ chúng con Để ăn hoa quả và thổ sản tốt tươi của đất ấy.
37 Vì tội lỗi của chúng con, hoa lợi dư dật ấy đã thuộc về các vua mà Chúa đã lập trên chúng con. Họ có quyền trên thân thể và bầy súc vật của chúng con, muốn làm gì thì làm. Chúng con đang bị hoạn nạn lớn.
38 Vì các việc đã xảy ra, chúng con quyết định viết thành văn lời giao ước chắc chắn nầy, và các quan chức, người Lê-vi cùng những thầy tế lễ của chúng con niêm phong nó lại.”
1 Đây là tên của những người đã đóng dấu mình trong giao ước ấy: Tổng đốc Nê-hê-mi, con trai của Ha-ca-lia, cùng với Sê-đê-kia,
2 Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi,
3 Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia,
4 Hát-tút, Sê-ba-nia, Ma-lúc,
5 Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia,
6 Đa-ni-ên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc,
7 Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min
8 Ma-a-xia, Binh-gai, Sê-ma-gia. Đó là những thầy tế lễ.
9 Những người Lê-vi gồm có: Giê-sua, con trai của A-xa-nia; Bin-nui, con trai của Hê-na-đát; Cát-mi-ên
10 và các anh em của họ; Sê-ba-nia, Hô-đi-gia, Kê-li-ta, Phê-la-gia, Ha-nan
11 Mi-chê, Rê-hốp, Ha-sa-bia,
12 Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia
13 Hô-đia, Ba-ni và Bê-ni-nu.
14 Các thủ lĩnh của dân chúng gồm có: Pha-rốt, Pha-hát Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni
15 Bu-ni, A-gát, Bê-bai
16 A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin,
17 A-te, Ê-xê-chia, A-xu-rơ,
18 Hô-đia, Ha-sum, Bết-sai,
19 Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai,
20 Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia,
21 Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua
22 Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia
23 Ô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp
24 Ha-lô-hết, Bi-la, Sô-béc
25 Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia,
26 A-hi-gia, Ha-nan, A-nan,
27 Ma-lúc, Ha-rim và Ba-a-na.
28 Phần dân chúng còn lại, những thầy tế lễ, người Lê-vi, người gác cổng, các ca sĩ, những người phục vụ đền thờ, và những người đã cùng với vợ, con trai, con gái của họ tách biệt với các dân trong xứ để vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời; tất cả họ là những người có khả năng hiểu biết,
29 đều hiệp nhất với các anh em và các quý tộc của mình mà thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban qua Môi-se, đầy tớ Ngài, và gìn giữ, làm theo mọi điều răn, luật lệ và phép tắc của Đức Giê-hô-va là Chúa chúng con.
30 Chúng con hứa không gả các con gái chúng con cho dân địa phương và cũng không cưới con gái của chúng cho con trai chúng con.
31 Nếu dân địa phương đem hàng hóa hoặc các thứ lương thực đến bán trong ngày sa-bát hay ngày thánh thì chúng con sẽ không mua. Vào năm thứ bảy, chúng con sẽ nghỉ canh tác và xóa tất cả các món nợ.
32 Chúng con cũng quy định mỗi năm dâng bốn gam bạc dùng vào các công việc của đền thờ Đức Chúa Trời như:
33 bánh cung hiến, tế lễ chay thường kỳ, tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ dâng vào ngày sa-bát, ngày mồng một và các lễ hội, lễ thánh hiến, tế lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên và các công việc khác trong đền của Đức Chúa Trời chúng con.
34 Chúng con là những thầy tế lễ, người Lê-vi và dân chúng bắt thăm về việc dâng củi mỗi năm theo kỳ nhất định tùy theo mỗi gia tộc, và đem đến nhà của Đức Chúa Trời để đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, đúng như đã chép trong luật pháp vậy.
35 Chúng con cũng quy định mỗi năm đem hoa lợi đầu mùa của đất và các thứ trái cây đầu mùa của chúng con đến đền thờ Đức Giê-hô-va.
36 Cũng chiếu theo luật pháp, chúng con đem con đầu lòng trong các con trai và con đầu đàn của súc vật chúng con như chiên hay bò đến đền thờ Đức Chúa Trời để giao cho các thầy tế lễ đang phục vụ trong đền của Đức Chúa Trời chúng con.
37 Chúng con cũng hứa đem vào các kho thánh của đền Đức Chúa Trời bột nhồi đầu tiên của chúng con, các tế lễ, hoa quả của các loại cây, rượu mới và dầu, rồi giao cho các thầy tế lễ. Còn một phần mười hoa lợi của đất thì chúng con đem nộp cho người Lê-vi vì chính người Lê-vi là người thu một phần mười thổ sản của ruộng đất trong các thành của chúng con.
38 Thầy tế lễ, con cháu A-rôn, sẽ đi với người Lê-vi khi họ thu thuế một phần mười rồi họ sẽ đem một phần mười của thuế một phần mười ấy đến đền của Đức Chúa Trời chúng con, để trong các phòng của kho thánh.
39 Vì dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ đem các lễ vật bằng lúa mì, rượu và dầu mới vào trong những phòng ấy, là nơi có các vật dụng của đền thánh, là nơi cư ngụ của những thầy tế lễ đang phục vụ, những người gác cổng và các ca sĩ. Vậy chúng con sẽ không bỏ bê đền của Đức Chúa Trời chúng con đâu.
1 Các thủ lĩnh của dân Chúa đều ở tại Giê-ru-sa-lem và dân chúng còn lại bắt thăm để cứ mười người thì có một người đến ở tại Giê-ru-sa-lem là thành thánh, còn chín người kia thì ở trong các thành khác.
2 Dân chúng chúc phước cho những người nam nào tình nguyện ở tại Giê-ru-sa-lem.
3 Sau đây là những quan chức cấp tỉnh sống tại Giê-ru-sa-lem (trong khi một số người Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người phục vụ đền thờ và con cháu của các đầy tớ Sa-lô-môn đều ở trong đất của thành mình thuộc các thành khác của Giu-đa.
4 Tuy nhiên cũng có một số con cháu Giu-đa và Bên-gia-min lại sống tại Giê-ru-sa-lem.) Về con cháu Giu-đa có A-tha-gia, con trai của U-xia, cháu của Xa-cha-ri, chắt của A-ma-ria, chít của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Ma-ha-la-lên thuộc dòng dõi Pê-rết.
5 Ma-a-xê-gia, con trai của Ba-rúc, cháu của Côn Hô-xê, chắt của Ha-xa-gia, chít của A-đa-gia; A-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, cháu của Xa-cha-ri, thuộc dòng dõi Si-lô-ni.
6 Con cháu của Pê-rết ở tại Giê-ru-sa-lem là bốn trăm sáu mươi tám dũng sĩ.
7 Con cháu Bên-gia-min có Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, cháu của Giô-ết, chắt của Phê-đa-gia, chít của Cô-la-gia; Cô-la-gia là con trai của Ma-a-xê-gia, cháu của Y-thi-ên, chắt của Giê-sai.
8 Sau ông có Gáp-bai và Sa-lai cùng chín trăm hai mươi tám người.
9 Giô-ên, con trai của Xiếc-ri, làm thị trưởng của họ, còn Giu-đa, con trai của Ha-sê-nua làm phó thị trưởng.
10 Về các thầy tế lễ có Giê-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, Gia-kin
11 và Sê-ra-gia là con trai của Hinh-kia, cháu của Mê-su-lam, chắt của Xa-đốc, chít của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là quản lý đền của Đức Chúa Trời,
12 cùng các anh em của họ làm công việc trong đền thờ, tổng cộng là tám trăm hai mươi hai người. Cũng có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Phê-la-lia, chắt của Am-si, chít của Xa-cha-ri; Xa-cha-ri là con trai của Pha-su-rơ, cháu của Manh-ki-gia
13 cùng các anh em của họ đều là trưởng tộc, tổng cộng là hai trăm bốn mươi hai người. Ngoài ra còn có A-mát-sai, con trai của A-xa-rên, cháu của Ạc-xai, chắt của Mê-si-lê-mốt, chít của Y-mê
14 và các anh em của họ đều là những người mạnh mẽ và can đảm, tổng cộng là một trăm hai mươi tám người. Xáp-đi-ên, con trai của Hát-ghê-đô-lim, là người chỉ huy của họ.
15 Về người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia, chít của Bun-ni.
16 Trong các trưởng tộc người Lê-vi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát được giao coi sóc công việc bên ngoài của đền Đức Chúa Trời.
17 Còn Mát-ta-nia, con trai của Mi-chê, cháu của Xáp-đi, chắt của A-sáp, làm trưởng ban hướng dẫn việc ca ngợi Chúa trong lúc cầu nguyện; cũng có Bác-bu-kia là người thứ nhì trong anh em mình và Áp-đa, con trai của Sa-mua, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun.
18 Tất cả người Lê-vi ở trong thành thánh là hai trăm tám mươi bốn người.
19 Những người gác cổng là A-cúp, Tanh-môn và các anh em của họ được một trăm bảy mươi hai người.
20 Những người Y-sơ-ra-ên khác, những thầy tế lễ và người Lê-vi đều sống trong các thành của xứ Giu-đa, mỗi người ở trong sản nghiệp mình.
21 Những người phục vụ đền thờ đều ở tại Ô-phên; Xi-ha và Ghít-ba lãnh đạo nhóm người nầy.
22 Người giám sát những người Lê-vi ở Giê-ru-sa-lem là U-xi, con trai của Ba-ni, cháu của Ha-sa-bia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê, thuộc dòng dõi A-sáp là các ca sĩ, lo phục vụ trong đền Đức Chúa Trời.
23 Cũng có lệnh của vua liên quan đến các ca sĩ, và những quy định công việc hằng ngày cho họ.
24 Phê-tha-hia, con trai của Mê-sê-xa-bê-ên, thuộc dòng dõi Xê-ra là con trai của Giu-đa, giúp vua cai trị dân.
25 Còn về các làng mạc và đồng ruộng, có một số người Giu-đa sống tại Ki-ri-át A-ra-ba và trong các làng mạc phụ cận, tại Đi-bôn và các làng mạc phụ cận, tại Giê-cáp-xê-ên và các làng mạc phụ cận,
26 tại Giê-sua, Mô-la-đa, Bết Phê-lết,
27 Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba và trong các làng mạc phụ cận,
28 tại Xiếc-lác, Mê-cô-na và trong các làng mạc phụ cận,
29 tại Ên-rim-môn, Xô-ra, Giạt-mút,
30 tại Xa-nô-a, A-đu-lam và các làng mạc phụ cận; tại La-ki và các đồng ruộng phụ cận, và tại A-xê-ca và các làng mạc phụ cận. Vậy họ định cư từ Bê-e Sê-ba cho đến thung lũng Hin-nôm.
31 Người Bên-gia-min cũng sống từ Ghê-ba cho đến Mích-ma, A-gia, Bê-tên và các làng mạc của nó,
32 và tại A-na-tốt, Nốp, A-na-nia,
33 Hát-so, Ra-ma, Ghi-tha-im.
34 Ha-đít, Sê-bô-im, Nê-ba-lát,
35 Lót và Ô-nô tức là thung lũng của các người thợ thủ công.
36 Và một số người Lê-vi vốn sinh sống ở Giu-đa đã đến sống với người Bên-gia-min.
1 Đây là những thầy tế lễ và người Lê-vi cùng hồi hương với Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và với Giê-sua: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-xơ-ra,
2 A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc,
3 Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt,
4 Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia,
5 Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga,
6 Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia,
7 Sa-lu, A-móc, Hinh-kia và Giê-đa-gia. Đó là những nhà lãnh đạo của các thầy tế lễ và anh em của họ trong đời Giê-sua.
8 Những người Lê-vi gồm có: Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa và Mát-ta-nia cùng với anh em mình phụ trách các bài ca cảm tạ Chúa.
9 Bác-bu-kia và U-ni cùng với anh em của họ là người Lê-vi đứng hát đối nhau trong các buổi thờ phượng.
10 Giê-sua sinh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa;
11 Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, và Giô-na-than sinh Gia-đua.
12 Đây là trưởng tộc của các thầy tế lễ trong đời Giô-gia-kim: về họ Sê-rê-gia có Mê-ra-gia; về họ Giê-rê-mi có Ha-na-nia;
13 về họ E-xơ-ra có Mê-su-lam; về họ A-ma-ria có Giô-ha-nan;
14 về họ Mê-lu-ki có Giô-na-than;
15 về họ Sê-ba-nia có Giô-sép; về họ Ha-rim có Át-na; về họ Mê-ra-giốt có Hên-cai;
16 về họ Y-đô có Xa-cha-ri; về họ Ghi-nê-thôn, có Mê-su-lam;
17 về họ A-bi-gia có Xiếc-ri; về họ Min-gia-min có...; về họ Mô-a-đia có Phinh-tai;
18 về họ Binh-ga có Sa-mua; về họ Sê-ma-gia có Giô-na-than;
19 về họ Giô-gia-ríp có Mát-tê-nai; về họ Giê-đa-gia có U-xi;
20 về họ Sa-lai có Ca-lai; về họ A-móc có Ê-be;
21 về họ Hinh-kia có Ha-sa-bia; về họ Giê-đa-gia có Nê-tha-nê-ên.
22 Việc ghi tên vào sổ của các trưởng tộc người Lê-vi và các thầy tế lễ được thực hiện trong đời thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan và Gia-đua. Đến thời trị vì của Đa-ri-út, vua Ba Tư, không còn danh sách nào nữa.
23 Con cháu các trưởng tộc của người Lê-vi có ghi tên vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, cháu của Ê-li-a-síp.
24 Các trưởng tộc của người Lê-vi gồm có: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên và các anh em người đứng đối diện theo ban thứ, ca ngợi và cảm tạ Chúa như quy định của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.
25 Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp là những người gác cổng đứng giữ các kho bên cổng đền thờ.
26 Những người nầy sống trong thời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, vào thời Nê-hê-mi làm tổng đốc và vào thời E-xơ-ra làm thầy tế lễ và thầy thông giáo.
27 Vào dịp lễ cung hiến các tường thành Giê-ru-sa-lem, người ta sai tìm các người Lê-vi ở khắp mọi nơi để đưa họ về Giê-ru-sa-lem dự lễ cung hiến trong niềm hân hoan, cảm tạ giữa tiếng hát ngợi ca hòa lẫn với tiếng chập chõa, đàn hạc và đàn lia.
28 Con cái của các ca sĩ đều tụ họp lại từ đồng bằng chung quanh Giê-ru-sa-lem, từ các làng mạc của người Nê-tô-pha-tít,
29 từ Bết Ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và từ Ách-ma-vết, vì các ca sĩ đã xây làng mạc cho mình chung quanh thành Giê-ru-sa-lem.
30 Những thầy tế lễ và người Lê-vi thanh tẩy chính mình cũng như thanh tẩy dân chúng, các cổng và tường thành.
31 Bấy giờ tôi bảo các người lãnh đạo Giu-đa lên trên tường thành rồi phân làm hai nhóm đi diễu hành để cảm tạ Chúa. Một nhóm đi bên phải trên vách thành hướng về cổng Phân.
32 Đi sau họ là Hô-sa-gia và phân nửa số các nhà lãnh đạo Giu-đa
33 cùng với A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam,
34 Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia, Giê-rê-mi,
35 và một số con trai của các thầy tế lễ thổi kèn là Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp
36 cùng các anh em của ông là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa và Ha-na-ni, cầm nhạc cụ của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời. Thầy thông giáo E-xơ-ra đi trước họ.
37 Từ cổng Suối ngay trước mặt, họ đi thẳng lên các nấc thang của thành Đa-vít, theo dốc tường thành đến phía trên đền Đa-vít và đến cổng Nước về hướng đông.
38 Còn nhóm cảm tạ thứ hai đi trên tường thành đối diện với nhóm thứ nhất. Tôi đi phía sau họ cùng với phân nửa dân chúng, từ tháp Lò cho đến vách Rộng,
39 và đi trên cổng Ép-ra-im, gần bên cổng Cũ, cổng Cá, tháp Ha-na-nê-ên và tháp Mê-a đến cổng Chiên. Rồi họ dừng lại tại cổng Phòng Vệ.
40 Vậy hai nhóm cảm tạ dừng lại trong đền Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa các người lãnh đạo theo tôi cũng vậy.
41 Những thầy tế lễ thổi kèn là Ê-lê-a-kim, Ma-a-xê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri và Ha-na-nia;
42 cũng có Ma-a-xê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam và Ê-xe. Các ca sĩ do Dít-ra-bia điều khiển cất tiếng hát vang.
43 Trong ngày đó, họ dâng những tế lễ trọng thể và tràn ngập niềm vui vì Đức Chúa Trời đã khiến lòng họ vui mừng. Các phụ nữ và trẻ em cũng vui mừng nữa. Niềm vui từ thành Giê-ru-sa-lem lan rộng ra xa.
44 Trong ngày ấy, người ta lập những người trông coi các phòng dùng để chứa các lễ vật, hoa lợi đầu mùa, và các phần mười. Từ các đồng ruộng chung quanh thành, họ đem vào kho các phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi mà luật pháp đã quy định, vì người Giu-đa hài lòng về sự phục vụ của những thầy tế lễ và người Lê-vi.
45 Họ cùng với các ca sĩ và những người giữ cổng phục vụ Đức Chúa Trời và lo việc thanh tẩy theo lệnh của vua Đa-vít và vua Sa-lô-môn, con trai vua, quy định.
46 Vì ngày xưa, vào thời Đa-vít và A-sáp, đã có những người lãnh đạo đặc trách ca đoàn và soạn những bài ca ngợi, cảm tạ Đức Chúa Trời.
47 Trong thời Xô-rô-ba-bên và Nê-hê-mi, cả Y-sơ-ra-ên đều cung cấp khẩu phần hằng ngày cho các ca sĩ và người gác cổng. Họ cũng để riêng khẩu phần cho người Lê-vi, và người Lê-vi để riêng khẩu phần cho các thầy tế lễ, con cháu A-rôn.
1 Trong ngày đó, người ta đọc sách Môi-se cho dân chúng nghe và thấy trong đó có chép rằng người Am-môn và người Mô-áp vĩnh viễn không được vào hội của Đức Chúa Trời,
2 vì chúng không đem bánh và nước ra tiếp đón dân Y-sơ-ra-ên mà lại mướn Ba-la-am đến rủa sả dân Y-sơ-ra-ên (nhưng Đức Chúa Trời chúng tôi đã đổi rủa sả ra phước lành.)
3 Sau khi đã nghe đọc luật pháp, dân chúng tách tất cả dân ngoại ra khỏi Y-sơ-ra-ên.
4 Trước việc đó, thầy tế lễ Ê-li-a-síp, người được chỉ định trông coi các phòng của đền Đức Chúa Trời chúng tôi,
5 và là bà con với Tô-bi-gia, đã cấp cho Tô-bi-gia một cái phòng lớn là nơi trước đây người ta dùng để chứa tế lễ chay, hương liệu, vật dụng, một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu, là những vật theo quy định dành cho người Lê-vi, các ca sĩ và người gác cổng, cùng với lễ vật dành cho thầy tế lễ.
6 Khi các điều đó xảy ra thì tôi không ở tại Giê-ru-sa-lem, vì vào năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua Ba-by-lôn, tôi phải trở về với vua. Sau đó ít lâu, tôi xin phép vua trở về Giê-ru-sa-lem.
7 Khi đến đó, tôi biết được điều tệ hại mà Ê-li-a-síp đã làm, tức là cấp cho Tô-bi-gia một cái phòng trong hành lang của đền Đức Chúa Trời.
8 Tôi rất giận nên ném các vật dụng của nhà Tô-bi-gia ra khỏi phòng ấy.
9 Sau khi ra lệnh tẩy rửa phòng ấy sạch sẽ, tôi đem vào lại các vật dụng của đền Đức Chúa Trời, tế lễ chay và hương liệu.
10 Tôi cũng hay rằng người ta đã không cấp khẩu phần cho người Lê-vi, vì vậy các ca sĩ và người Lê-vi phục vụ đều trốn về đồng ruộng mình.
11 Tôi khiển trách các quan chức và nói: “Tại sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ bê như thế?” Rồi tôi triệu tập họ lại và phục hồi chức vụ cũ.
12 Bấy giờ tất cả người Giu-đa đều đem vào kho một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu.
13 Tôi chỉ định thầy tế lễ Sê-lê-mia, thầy thông giáo Xa-đốc và một người thuộc dòng Lê-vi tên là Phê-đa-gia trông coi các kho tàng với sự phụ giúp của Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, vì họ được coi là những người trung thành. Nhiệm vụ của họ là phân phát các lễ vật dâng hiến cho anh em mình.
14 “Đức Chúa Trời của con ôi! Vì việc nầy, xin nhớ đến con và đừng xóa bỏ các việc tốt lành mà con đã làm cho đền của Đức Chúa Trời, và cho việc phục vụ Ngài.”
15 Trong những ngày ấy, tôi bắt gặp trong Giu-đa có những người dùng máy ép nho trong ngày sa-bát, chất những bó lúa mì trên lưng lừa, cũng như chở rượu, trái nho, trái vả và đủ loại sản vật đem về Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. Tôi đã cảnh cáo họ, không được bán các thực phẩm ấy trong ngày sa-bát.
16 Những người Ty-rơ ở tại đó cũng đem cá và các thứ hàng hóa đến bán cho người Giu-đa ngay tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát.
17 Bấy giờ tôi khiển trách các người quý tộc của Giu-đa rằng: “Tại sao các ông làm điều gian ác nầy để cho ngày sa-bát phải bị ô uế?
18 Chẳng phải tổ phụ các ông cũng đã làm như vậy đến nỗi Đức Chúa Trời giáng tai họa trên chúng ta và trên thành nầy sao? Còn các ông lại làm ô uế ngày sa-bát khiến cơn thịnh nộ của Ngài gia tăng trên Y-sơ-ra-ên!”
19 Vậy khi các cổng thành Giê-ru-sa-lem bắt đầu khuất trong bóng đêm trước ngày sa-bát, tôi ra lệnh đóng cổng lại và dặn họ chỉ mở cổng sau ngày sa-bát. Tôi cũng đặt một vài thuộc hạ của tôi giữ cổng không cho ai gánh hay chở đồ vào thành trong ngày sa-bát.
20 Một hai lần, con buôn và những người bán các thứ hàng hóa đã phải ngủ qua đêm ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem.
21 Tôi quở trách họ: “Tại sao các ông ngủ đêm trước tường thành như vậy? Nếu các ông còn làm như thế, tôi sẽ thẳng tay với các ông.” Từ đó về sau, họ không đến trong ngày sa-bát nữa.
22 Tôi ra lệnh cho người Lê-vi phải thanh tẩy chính mình và đến giữ các cổng để biệt ngày sa-bát ra thánh. “Đức Chúa Trời của con ôi! Xin làm ơn nhớ đến điều đó và xin thương xót con tùy theo sự nhân từ lớn lao của Ngài.”
23 Cũng trong những ngày ấy, tôi thấy những người Giu-đa cưới vợ người Ách-đốt, Am-môn và Mô-áp.
24 Phân nửa con cái của họ nói tiếng Ách-đốt hoặc tiếng của các dân tộc khác chứ không biết nói tiếng Do Thái.
25 Tôi quở trách và rủa sả họ, đánh một vài người hoặc bứt tóc họ và bảo họ chỉ Đức Chúa Trời mà thề rằng: “Chúng con sẽ không gả con gái chúng con cho con trai chúng hoặc cưới con gái chúng cho con trai chúng con hay cho chính mình!
26 Chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên là Sa-lô-môn đã phạm tội vì những phụ nữ như thế sao? Trong nhiều dân tộc không có vua nào giống như ông, được Đức Chúa Trời yêu mến, đặt làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên. Nhưng chính những người vợ ngoại đạo nầy đã xui cho ông phạm tội!
27 Lẽ nào chúng ta còn phải nghe các ông làm điều đại ác, chống lại Đức Chúa Trời bằng cách lấy vợ ngoại đạo sao?”
28 Một trong các con trai của Giô-gia-đa, cháu thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp, đã cưới con gái của San-ba-lát, người Hô-rôn, nên tôi đuổi hắn khỏi tôi.
29 “Lạy Đức Chúa Trời của con! Xin đừng quên là họ đã làm ô uế chức tế lễ và giao ước về chức tế lễ và người Lê-vi.”
30 Như vậy, tôi đã thanh tẩy họ khỏi những gì liên quan đến ngoại giáo và phân công trách nhiệm cho những thầy tế lễ và người Lê-vi, mỗi người theo chức năng của họ.
31 Tôi cũng bảo dân chúng dâng củi theo định kỳ, cũng như dâng các thổ sản đầu mùa. “Đức Chúa Trời của con ôi, xin nhớ đến con mà làm ơn cho!”