1

1 Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, nắm vững quyền kiểm soát vương quốc của mình, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua ở với vua và làm cho vua rất cao trọng.

2 Sa-lô-môn triệu tập toàn thể Y-sơ-ra-ên, các vị chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, các thẩm phán và tất cả trưởng tộc là các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên.

3 Rồi Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng đều đi lên nơi cao tại Ga-ba-ôn, vì ở đó có Lều Hội Kiến của Đức Chúa Trời mà đầy tớ của Đức Giê-hô-va là Môi-se đã làm trong hoang mạc.

4 (Nhưng Đa-vít đã rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim về nơi vua đã chuẩn bị sẵn, vì vua đã dựng một cái lều cho Hòm Giao Ước tại Giê-ru-sa-lem.)

5 Trước Đền Tạm của Đức Giê-hô-va có đặt bàn thờ bằng đồng mà Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, đã làm. Sa-lô-môn và hội chúng đến đó cầu hỏi Chúa.

6 Sa-lô-môn đến bàn thờ bằng đồng, trước mặt Đức Giê-hô-va trong Lều Hội Kiến, và dâng một nghìn tế lễ thiêu trên bàn thờ đó.

7 Chính đêm ấy, Đức Chúa Trời hiện đến với Sa-lô-môn mà phán rằng: “Hãy xin điều con muốn Ta ban cho con.”

8 Sa-lô-môn thưa với Đức Chúa Trời: “Chúa đã bày tỏ lòng thương xót lớn lao cho Đa-vít, thân phụ con, và đã đặt con lên ngôi kế vị.

9 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, bây giờ nguyện lời Chúa hứa với Đa-vít, thân phụ con, được ứng nghiệm; vì Chúa đã lập con lên làm vua một dân đông như bụi đất.

10 Vậy, xin Chúa ban cho con sự khôn ngoan và tri thức để con ra vào trước mặt dân nầy. Vì ai đủ khả năng lãnh đạo dân của Chúa, một dân lớn lao như thế nầy?”

11 Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn: “Ta đã lập con làm vua của dân Ta. Vì con có ước nguyện như thế, không xin sự giàu có, của cải, vinh quang, hay mạng sống của những kẻ thù con, và cũng không xin sống lâu, nhưng xin sự khôn ngoan và tri thức để cai trị dân Ta,

12 nên Ta ban sự khôn ngoan và tri thức cho con. Ta cũng sẽ ban cho con sự giàu có, của cải, và vinh quang đến nỗi không có vua nào trước con và sau con được như thế.”

13 Rời Lều Hội Kiến ở nơi cao tại Ga-ba-ôn, Sa-lô-môn trở về Giê-ru-sa-lem và cai trị Y-sơ-ra-ên.

14 Sa-lô-môn tập trung chiến xa và ngựa chiến, được một nghìn bốn trăm cỗ xe và mười hai nghìn ngựa chiến. Vua để chiến xa trong các thành chứa chiến xa và gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem.

15 Vua làm cho bạc vàng tại Giê-ru-sa-lem trở thành tầm thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung ở miền Sơ-phê-la.

16 Còn ngựa của Sa-lô-môn đều được nhập từ Ai Cập và Si-li-si; các nhà buôn của vua mua từ Si-li-si theo thời giá.

17 Họ cũng lên Ai Cập mua xe, mỗi cỗ xe giá sáu trăm miếng bạc, còn ngựa thì giá một trăm năm mươi miếng bạc một con. Các vua dân Hê-tít và A-ram cũng nhờ những nhà buôn của vua mua theo giá ấy.

2

1 Sa-lô-môn truyền lệnh xây cất đền thờ cho danh Đức Giê-hô-va và xây hoàng cung cho mình.

2 Sa-lô-môn huy động bảy mươi nghìn người khuân vác, tám mươi nghìn thợ đá miền núi, và ba nghìn sáu trăm đốc công.

3 Sa-lô-môn sai sứ đến nói với Hi-ram, vua Ty-rơ: “Vua đã cung cấp gỗ bá hương cho Đa-vít, thân phụ tôi, để xây cung điện, vậy xin cũng giúp tôi như thế.

4 Nay, tôi sắp xây cất đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, biệt riêng đền thờ ấy ra thánh cho Ngài để xông hương trước mặt Ngài, thường xuyên bày bánh cung hiến, dâng tế lễ thiêu mỗi buổi sáng và buổi chiều, vào các ngày sa-bát, ngày lễ trăng mới, hay những ngày lễ đã được chỉ định của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi. Đó là những nghi lễ đời đời cho Y-sơ-ra-ên.

5 Đền thờ mà tôi sắp xây cất phải thật nguy nga, vì Đức Chúa Trời chúng tôi vĩ đại hơn tất cả các thần.

6 Thế nhưng, ai có thể xây cất một đền thờ cho Chúa? Vì các tầng trời, cả đến các tầng trời thăm thẳm cũng không thể chứa được Ngài! Vậy, tôi là ai mà xây cất được một đền thờ cho Chúa? Chỉ mong xây cất một đền thờ để xông hương trước mặt Ngài mà thôi.

7 Vậy bây giờ, xin vua gửi cho tôi một người thợ vừa giỏi về nghề vàng, bạc, đồng, sắt, vừa thạo về nghề dệt chỉ tím, đỏ và xanh, vừa biết chạm trổ để làm việc với những người thợ lành nghề tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem mà Đa-vít, thân phụ tôi, đã chuẩn bị.

8 Xin cũng gửi cho tôi gỗ bá hương, gỗ tùng và gỗ bạch đàn hương đốn ở Li-ban. Vì tôi biết rằng các đầy tớ của vua đều thạo việc đốn gỗ trên Li-ban. Các đầy tớ tôi sẽ cộng tác với các đầy tớ vua

9 để đốn cho tôi thật nhiều gỗ, vì đền thờ mà tôi định xây cất sẽ vô cùng nguy nga tráng lệ.

10 Tôi sẽ cấp cho các đầy tớ vua, là những thợ đốn gỗ, bốn triệu bốn trăm nghìn lít lúa mì đã giã, bốn triệu bốn trăm nghìn lít lúa mạch, bốn trăm bốn mươi nghìn lít rượu, và bốn trăm bốn mươi nghìn lít dầu ô-liu.”

11 Hi-ram, vua Ty-rơ, viết thư gửi cho Sa-lô-môn phúc đáp như sau: “Vì yêu thương dân Ngài nên Đức Giê-hô-va đã lập vua cai trị họ.”

12 Hi-ram viết tiếp: “Ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đấng dựng nên trời và đất, vì Ngài đã ban cho vua Đa-vít một người con khôn ngoan, thận trọng, và thông minh để xây cất đền thờ cho Ngài, và xây một hoàng cung cho mình.

13 Bây giờ, tôi gửi đến vua một người thợ khéo léo và thông sáng tên là Hu-ram A-bi,

14 con trai của một phụ nữ thuộc bộ tộc Đan, cha là người Ty-rơ. Người nầy vừa giỏi về nghề vàng, bạc, đồng, sắt, đá và gỗ, vừa thạo về nghề dệt chỉ tím, xanh và đỏ sậm cùng chỉ gai trắng mịn. Anh ta cũng thông thạo đủ các thứ chạm trổ, và có thể làm bất cứ đồ vật tinh xảo nào mà người ta đặt làm. Anh ta sẽ làm việc với các thợ lành nghề của vua và của thân phụ vua là Đa-vít, chúa tôi.

15 Vậy bây giờ, xin cấp lúa mì, lúa mạch, dầu và rượu cho các đầy tớ vua như vua đã nói.

16 Còn chúng tôi sẽ đốn gỗ trên núi Li-ban theo số lượng vua cần, kết thành bè đưa đến Gia-phô theo đường biển; rồi vua sẽ chở lên Giê-ru-sa-lem.”

17 Sa-lô-môn kiểm tra số người ngoại quốc trong nước Y-sơ-ra-ên theo thống kê của Đa-vít, thân phụ vua, tất cả được một trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm người.

18 Trong số nầy, vua đặt bảy mươi nghìn người làm phu khuân vác, tám mươi nghìn người làm thợ đá miền núi, và ba nghìn sáu trăm đốc công để điều động dân chúng làm việc.

3

1 Sa-lô-môn khởi công xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-a, là nơi Đức Giê-hô-va đã hiện ra với Đa-vít, thân phụ vua. Đó là nơi Đa-vít đã chỉ định để xây cất trong sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.

2 Vua khởi công xây cất vào ngày mồng hai tháng hai năm thứ tư đời trị vì của mình.

3 Đây là kích thước mà Sa-lô-môn đã quy định để xây cất đền thờ Đức Chúa Trời: chiều dài ba mươi mét, chiều rộng mười mét.

4 Chiều dài của hành lang phía trước là mười mét, bằng chiều rộng của đền thờ; chiều cao là sáu mươi mét. Vua cho bọc vàng ròng bên trong.

5 Phòng lớn của đền thờ được làm bằng gỗ bá hương và bọc vàng ròng, có trang trí hình cây chà là và dây xích phía trên.

6 Vua trang hoàng đền thờ bằng đá quý, còn vàng thì dùng vàng Phạt-va-im.

7 Vua cho bọc vàng khắp đền thờ: xà nhà, ngưỡng cửa, tường và cửa; còn trên tường thì chạm hình chê-ru-bim.

8 Vua làm Nơi Chí Thánh có chiều dài mười mét, bằng chiều ngang của đền thờ; và chiều rộng Nơi Chí Thánh cũng mười mét. Vua cho bọc nơi ấy bằng hai mươi tấn vàng ròng.

9 Số vàng để mạ đinh nặng khoảng hơn nửa ký. Vua cũng bọc vàng các phòng cao.

10 Trong Nơi Chí Thánh, vua cho làm hai chê-ru-bim bằng kim khí, rồi bọc vàng.

11 Các cánh của hai chê-ru-bim dài tổng cộng mười mét; một cánh của chê-rúp nầy dài hai mét rưỡi chạm vào tường đền thờ, cánh còn lại cũng dài hai mét rưỡi và chạm một cánh của chê-rúp kia.

12 Một cánh của chê-rúp kia dài hai mét rưỡi và chạm vào tường đền thờ, cánh còn lại cũng dài hai mét rưỡi tiếp giáp với cánh của chê-rúp trước.

13 Các cánh của hai chê-ru-bim đều xòe ra, dài tổng cộng mười mét. Hai chê-ru-bim đứng thẳng trên chân, mặt hướng về nơi thánh.

14 Vua làm một bức màn bằng vải màu xanh, màu tím, màu đỏ sậm cùng với vải gai mịn, có thêu hình chê-ru-bim ở trên.

15 Phía trước đền thờ, vua dựng hai cây trụ cao mười bảy mét rưỡi, trên đỉnh hai trụ có đầu trụ cao hai mét rưỡi.

16 Vua cũng làm dây xích giống như dây xích trong Nơi Chí Thánh để trên đỉnh trụ, rồi làm một trăm trái lựu gắn trên dây xích ấy.

17 Vua dựng hai trụ đó phía trước đền thờ, một trụ bên phải, một trụ bên trái; vua đặt tên trụ bên phải là Gia-kin và trụ bên trái là Bô-ách.

4

1 Vua làm một bàn thờ bằng đồng dài mười mét, rộng mười mét và cao năm mét.

2 Vua đúc một cái bể hình tròn, đường kính năm mét, cao hai mét rưỡi, và chu vi mười lăm mét.

3 Phía dưới viền quanh miệng bể có hình những con bò, cứ nửa mét có mười con được đúc chung với bể, xếp thành hai hàng chung quanh bể.

4 Bể được đặt trên mười hai tượng bò: ba con quay về hướng bắc, ba con quay về hướng tây, ba con quay về hướng nam và ba con quay về hướng đông. Bể ở trên các con bò ấy, còn thân sau của chúng đều quay vào trong.

5 Bể dày bằng chiều rộng của bàn tay, mép bể giống như mép chén hình hoa huệ nở; bể chứa được sáu mươi sáu nghìn lít.

6 Vua cũng làm mười cái thùng, đặt năm cái bên phải và năm cái bên trái để tẩy rửa các vật dùng cho tế lễ thiêu. Còn bể đúc thì để cho các thầy tế lễ thanh tẩy.

7 Vua làm mười chân đèn bằng vàng theo kiểu đã ấn định, rồi đặt trong đền thờ: năm cái bên phải, năm cái bên trái.

8 Vua làm mười cái bàn đặt trong đền thờ: năm cái bên phải và năm cái bên trái. Vua cũng làm một trăm cái chậu bằng vàng.

9 Vua làm một cái sân trong cho các thầy tế lễ và một sân lớn, các cửa giữa hai sân được bọc bằng đồng.

10 Vua đặt cái bể ở bên phải đền thờ, về hướng đông nam.

11 Hu-ram còn làm những bình đựng tro, vá và chậu. Như vậy, Hu-ram làm xong tất cả công việc mà ông đã nhận làm cho Sa-lô-môn trong đền thờ của Đức Chúa Trời gồm:

12 Hai cây trụ, hai đầu trụ hình bầu ở trên đỉnh trụ, hai tấm lưới bao hai cái bầu của đầu trụ,

13 bốn trăm trái lựu gắn vào hai tấm lưới, mỗi tấm có hai hàng trái lựu để bao hai cái bầu của đầu trụ;

14 những cái bệ và thùng ở trên bệ;

15 một cái bể đúc có mười hai con bò đỡ phía dưới;

16 những bình đựng tro, vá, nĩa và các đồ phụ tùng. Hu-ram A-bi làm cho vua Sa-lô-môn tất cả các vật dụng đó bằng đồng đánh bóng để dùng trong đền thờ Đức Giê-hô-va.

17 Vua truyền đúc các vật dụng ấy trong những khuôn đất sét tại đồng bằng Giô-đanh, giữa Su-cốt và Xê-rê-đa.

18 Vua Sa-lô-môn cho làm tất cả các vật dụng ấy, nhiều đến nỗi không thể tính được số lượng đồng đã dùng.

19 Sa-lô-môn làm tất cả các vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời gồm: bàn thờ bằng vàng, những cái bàn dùng để bày bánh cung hiến;

20 các chân đèn và đèn bằng vàng ròng để thắp trước nội điện theo luật định,

21 các hoa, đèn và nĩa bằng vàng ròng;

22 kéo cắt tim đèn, bát, đĩa đựng hương liệu và lư hương cũng bằng vàng ròng; cả đến lối vào đền thờ, các cánh cửa đền thờ bên trong Nơi Chí Thánh, cùng các cánh cửa của đền thờ cũng đều bằng vàng.

5

1 Như thế, tất cả các công trình mà Sa-lô-môn thực hiện cho đền thờ Đức Giê-hô-va đều hoàn thành. Sa-lô-môn đem những vật mà vua cha là Đa-vít đã biệt riêng ra thánh, tức là bạc vàng và các vật dụng, đặt vào kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời.

2 Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, trưởng các bộ tộc và các gia tộc của dân Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem để đưa Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn, lên đền thờ.

3 Mọi người Y-sơ-ra-ên tập hợp lại bên vua vào kỳ lễ tháng bảy.

4 Tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều đến dự, còn người Lê-vi thì khiêng Hòm Giao Ước.

5 Các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước lên cùng với Lều Hội Kiến và các vật dụng thánh trong Lều.

6 Vua Sa-lô-môn và toàn thể cộng đoàn Y-sơ-ra-ên tập hợp bên vua, cùng đứng trước Hòm Giao Ước và dâng vô số chiên, bò làm sinh tế, nhiều đến nỗi không ai đếm được.

7 Các thầy tế lễ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào nơi dành sẵn trong nội điện của đền thờ, dưới cánh chê-ru-bim.

8 Hai chê-ru-bim xòe cánh ra trên chỗ đặt Hòm Giao Ước, che Hòm Giao Ước và đòn khiêng.

9 Các đòn khiêng rất dài, nên ở trước nội điện người ta có thể thấy các đầu đòn ló ra khỏi Hòm Giao Ước, nhưng ở phía ngoài thì không thấy. Hòm Giao Ước vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.

10 Chẳng có gì trong Hòm Giao Ước ngoài hai bảng luật pháp mà Môi-se đã đặt vào đó tại Hô-rếp, khi Đức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên lúc họ ra khỏi Ai Cập.

11 Tất cả thầy tế lễ có mặt đều đã biệt riêng ra thánh, không phân biệt ban thứ. Khi các thầy tế lễ ra khỏi nơi thánh

12 thì các người ca hát thuộc dòng Lê-vi, tức A-sáp, Hê-nan, Giê-đu-thun cùng con trai và anh em của họ, mặc lễ phục bằng vải gai mịn, cầm chập chõa, đàn hạc và đàn lia đứng ở phía đông bàn thờ cùng với một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi kèn.

13 Những người thổi kèn và ca hát đồng thanh hòa điệu như một người mà ca ngợi, cảm tạ Đức Giê-hô-va. Họ cất tiếng hát cùng với tiếng kèn, tiếng chập chõa, và các nhạc cụ khác, ca ngợi Đức Giê-hô-va rằng: “Vì Chúa là thiện, Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Ngay lúc ấy, đền thờ Đức Giê-hô-va đầy mây

14 đến nỗi các thầy tế lễ không thể đứng đó phục vụ được, vì vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ của Đức Chúa Trời.

6

1 Bấy giờ, Sa-lô-môn cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, Chúa đã phán rằng Ngài sẽ ngự trong đám mây dày đặc.

2 Nhưng con đã xây cất một đền thờ làm nơi ở cho Chúa, một nơi để Chúa ngự đời đời.”

3 Rồi vua quay mặt lại chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, trong khi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đứng.

4 Vua nói: “Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đấng đã ra tay hoàn thành lời hứa mà chính miệng Ngài đã phán với Đa-vít, thân phụ trẫm. Vì Ngài phán rằng:

5 ‘Từ ngày Ta đem dân Ta ra khỏi đất Ai Cập, Ta chưa chọn một thành nào trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để xây cất một đền thờ cho danh Ta ngự tại đó, và Ta cũng chưa chọn người nào làm nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên Ta.

6 Nhưng nay Ta đã chọn Giê-ru-sa-lem để danh Ta ngự tại đó, và chọn Đa-vít để cai trị dân Y-sơ-ra-ên Ta.’

7 Đa-vít, thân phụ trẫm, có lòng muốn xây cất đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

8 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Đa-vít, thân phụ trẫm, rằng: ‘Con có lòng muốn xây cất một đền thờ cho danh Ta, ước muốn ấy thật tốt.

9 Tuy nhiên, con sẽ không xây cất đền thờ ấy đâu, nhưng con ruột của con, chính nó sẽ xây cất đền thờ cho danh Ta.’

10 Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm lời Ngài phán, khiến trẫm kế vị thân phụ trẫm là Đa-vít để trị vì Y-sơ-ra-ên, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán, và trẫm đã xây cất đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

11 Tại đó, trẫm đã đặt cái Hòm có giao ước của Đức Giê-hô-va mà Ngài đã lập với dân Y-sơ-ra-ên.”

12 Sa-lô-môn đang đứng trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên và giơ tay lên cầu nguyện.

13 (Vua đã làm một cái bục bằng đồng, dài hai mét rưỡi, rộng hai mét rưỡi, cao một mét rưỡi, đặt giữa sân; và vua đứng trên đó, rồi quỳ gối xuống trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên trời.)

14 Vua cầu nguyện: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Trên trời và dưới đất chẳng có thần nào giống như Chúa. Chúa giữ lời giao ước và lòng nhân từ đối với các đầy tớ Chúa, là những người hết lòng bước đi trước mặt Chúa.

15 Đối với đầy tớ Chúa là Đa-vít, thân phụ con, Chúa đã giữ lời Ngài phán hứa với người. Thật, điều gì miệng Chúa đã phán thì tay Chúa làm cho hoàn thành đúng như đã có ngày nay.

16 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Chúa đã hứa với đầy tớ Chúa là Đa-vít, thân phụ con, rằng: ‘Nếu con cháu của con cẩn thận trong đường lối mình, tuân giữ luật pháp Ta như con đã tuân giữ thì trước mặt Ta, con sẽ chẳng bao giờ thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.’ Bây giờ, xin Chúa giữ lời Ngài đã hứa.

17 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Nguyện lời Chúa đã hứa với Đa-vít, đầy tớ Chúa, được ứng nghiệm.

18 Nhưng thật ra, Đức Chúa Trời có ngự với loài người trên mặt đất chăng? Kìa, bầu trời, ngay cả các tầng trời thăm thẳm còn không chứa nổi Chúa, huống chi đền thờ mà con đã xây cất đây!

19 Dù vậy, lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và nài xin của đầy tớ Ngài, nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện của đầy tớ Ngài cầu khẩn trước mặt Ngài.

20 Nguyện mắt Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là nơi Chúa đã phán hứa sẽ đặt danh Ngài tại đó, và nghe lời cầu nguyện mà đầy tớ Chúa hướng về nơi nầy khẩn cầu.

21 Xin Chúa lắng nghe lời khẩn nài mà đầy tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi Ngài ngự ở trên trời, xin Chúa lắng nghe, nhậm lời và tha thứ cho.

22 Nếu có ai phạm tội cùng người lân cận mình và người ta buộc phải thề, nếu người ấy đến thề trước bàn thờ của Chúa trong đền thờ nầy,

23 thì xin Chúa từ trên trời lắng nghe và hành động. Xin phân xử cho các đầy tớ Chúa: báo trả kẻ ác theo đường lối hắn và khiến tội hắn đổ lại trên đầu hắn, xưng công chính cho người công chính và thưởng cho người theo sự công chính của người.

24 Nếu dân Y-sơ-ra-ên của Chúa vì phạm tội với Ngài mà bị quân thù đánh bại, và nếu họ trở lại cùng Chúa, nhận biết danh Chúa và cầu nguyện nài xin trước mặt Ngài trong đền thờ nầy,

25 thì xin Chúa từ trên trời lắng nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Chúa và đưa họ trở về xứ mà Chúa đã ban cho họ cũng như cho tổ phụ của họ.

26 Khi các tầng trời đóng chặt không có mưa vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội với Chúa, nếu sau khi Chúa đã trừng phạt họ mà họ hướng về nơi nầy cầu nguyện, nhận biết danh Chúa và từ bỏ tội lỗi mình,

27 thì xin Chúa ở trên trời lắng nghe, tha tội cho đầy tớ Chúa và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Rồi khi Chúa đã dạy họ con đường chính đáng mà họ phải đi theo, xin Chúa cho mưa sa xuống đất mà Ngài đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.

28 Khi trong xứ có nạn đói, dịch bệnh, hạn hán, nấm mốc, cào cào hay châu chấu, hoặc khi quân thù vây hãm các cổng thành trong đất nước họ, hoặc có bất cứ tai họa hay bệnh tật gì,

29 nếu có một người, hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, đã nhận biết tai họa và sự đau đớn của mình mà giơ tay ra hướng về nhà nầy cầu nguyện và khẩn xin bất cứ điều gì

30 thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, lắng nghe và tha thứ cho, báo lại cho mỗi người tùy theo lối sống của họ vì Chúa biết rõ lòng của họ; thật, chỉ một mình Chúa biết rõ lòng dạ của loài người.

31 Như thế, họ sẽ kính sợ Chúa và đi theo đường lối của Chúa suốt thời gian họ sống trên đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ chúng con.

32 Đối với những người nước ngoài, là người không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì được biết đến danh vĩ đại của Chúa và cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Ngài, nếu họ từ xứ xa đến và hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện

33 thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, lắng nghe và làm theo mọi điều người ấy cầu xin, để muôn dân trên đất nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa như Y-sơ-ra-ên là dân Ngài, và biết rằng đền thờ mà con đã xây cất được gọi bằng danh Chúa.

34 Khi dân Chúa ra chiến đấu với quân thù theo con đường mà Chúa sai đi, nếu họ cầu nguyện cùng Chúa, hướng về thành mà Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Chúa,

35 thì xin Chúa từ trên trời lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ và thực thi công lý cho họ.

36 Nếu dân Y-sơ-ra-ên phạm tội với Chúa (vì chẳng có người nào mà không phạm tội), và Chúa nổi giận phó họ cho kẻ thù bắt lưu đày đến một xứ xa hay gần;

37 nếu trong xứ bị lưu đày, họ suy nghĩ lại, ăn năn và cầu khẩn với Chúa rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, hành động cách sai quấy và gian ác’;

38 nếu trong xứ mà họ bị kẻ thù lưu đày, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa và cầu nguyện với Ngài, hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Chúa,

39 thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, thực thi công lý cho họ, và tha thứ tội mà dân của Chúa đã phạm với Ngài.

40 Lạy Đức Chúa Trời của con! Bây giờ, xin mắt Chúa đoái xem và tai Ngài lắng nghe lời cầu nguyện tại nơi nầy.

41 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Xin trỗi dậy Để Chúa và Hòm Giao Ước đầy quyền năng Ngài được vào nơi nghỉ ngơi của Ngài! Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Nguyện các thầy tế lễ của Chúa được mặc sự cứu rỗi, Và những người tin kính của Chúa được vui mừng Trong sự nhân từ Ngài!

42 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Xin đừng từ bỏ người được xức dầu của Chúa. Xin nhớ lại sự nhân từ của Chúa đối với Đa-vít là đầy tớ Ngài.”

7

1 Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ trời đổ xuống đốt tế lễ thiêu và các sinh tế. Vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ.

2 Các thầy tế lễ không thể vào đền thờ của Đức Giê-hô-va được, vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập đền thờ của Ngài.

3 Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều thấy lửa đổ xuống và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ. Họ phủ phục xuống đất, úp mặt trên nền nhà, thờ lạy và ca ngợi Đức Giê-hô-va rằng: “Vì Chúa là thiện, Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời!”

4 Bấy giờ, vua và toàn dân đều dâng sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va.

5 Vua Sa-lô-môn dâng hai mươi hai nghìn con bò và một trăm hai mươi nghìn con chiên đực. Như vậy, vua và toàn dân làm lễ cung hiến đền thờ của Đức Chúa Trời.

6 Các thầy tế lễ đứng vào vị trí của mình. Còn những người Lê-vi cầm nhạc khí dùng cho Đức Giê-hô-va mà vua Đa-vít đã làm để ca ngợi Đức Giê-hô-va, mỗi khi Đa-vít bảo họ ca ngợi: “Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Các thầy tế lễ thổi kèn trước mặt họ, còn toàn thể Y-sơ-ra-ên thì đứng.

7 Sa-lô-môn biệt riêng ra thánh phần sân giữa trước đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi vua dâng tế lễ thiêu và mỡ của tế lễ bình an, vì bàn thờ bằng đồng mà Sa-lô-môn đã làm không thể chứa hết tế lễ thiêu, tế lễ chay và các phần mỡ.

8 Vào dịp nầy, Sa-lô-môn tổ chức lễ trong bảy ngày. Về dự lễ với vua có toàn thể Y-sơ-ra-ên, một hội chúng rất đông đảo từ cửa ải Ha-mát cho đến khe Ai Cập.

9 Vào ngày thứ tám, một cuộc nhóm họp trọng thể được tổ chức, vì họ dự lễ cung hiến bàn thờ trong bảy ngày và mừng lễ trong bảy ngày nữa.

10 Ngày hai mươi ba tháng bảy, vua cho dân chúng trở về trại mình. Lòng mọi người đều vui mừng hân hoan về điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, cho Sa-lô-môn và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

11 Như vậy, Sa-lô-môn đã hoàn tất việc xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va và cung vua. Tất cả công trình Sa-lô-môn định làm trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua đều hoàn thành mỹ mãn.

12 Ban đêm, Đức Giê-hô-va hiện đến cùng Sa-lô-môn và phán rằng: “Ta đã nghe lời cầu nguyện của con và đã chọn nơi nầy làm nhà dâng sinh tế.

13 Khi Ta đóng các tầng trời lại, không cho mưa sa xuống; khi Ta truyền cho cào cào phá hại đất đai; và khi Ta giáng bệnh dịch giữa dân Ta;

14 nếu dân Ta, là dân được gọi bằng danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta và từ bỏ con đường gian ác, thì từ trên trời Ta sẽ lắng nghe, tha thứ tội lỗi họ và chữa lành đất nước họ.

15 Từ nay, mắt Ta sẽ đoái xem, tai Ta sẽ lắng nghe lời cầu nguyện tại nơi nầy,

16 vì bây giờ Ta đã chọn và thánh hóa đền thờ nầy để danh Ta ngự tại đó đời đời; mắt và lòng Ta sẽ ở đó mãi mãi.

17 Còn con, nếu con bước đi trước mặt Ta như cha của con là Đa-vít đã bước đi, làm theo mọi điều Ta truyền bảo con, tuân giữ những luật lệ và chỉ thị của Ta,

18 thì Ta sẽ làm cho ngôi nước con được bền vững đúng như giao ước Ta đã lập với Đa-vít, cha của con rằng: ‘Con sẽ không bao giờ thiếu người trị vì trên Y-sơ-ra-ên.’

19 Nhưng nếu các con quay khỏi và từ bỏ các luật lệ và điều răn Ta đã đặt trước mặt các con, đi theo các thần khác và thờ lạy chúng,

20 thì Ta sẽ nhổ các con khỏi đất Ta đã ban cho các con. Còn đền thờ mà Ta đã thánh hóa cho danh Ta, Ta sẽ ném bỏ nó khỏi Ta, làm cho nó trở thành đề tài cho các dân tộc đàm tiếu và chế nhạo.

21 Đền thờ nầy dù có đồ sộ đến đâu, nhưng rồi mọi người đi ngang qua đều sẽ kinh ngạc hỏi rằng: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm cho đất nước nầy và đền thờ nầy như thế?’

22 Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Đó là vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi Ai Cập; và vì họ đã đeo đuổi các thần khác, quỳ lạy và phục vụ các thần ấy nên Ngài giáng trên họ tất cả các tai họa nầy.’”

8

1 Vào cuối năm thứ hai mươi, khi vua Sa-lô-môn đã xây cất xong đền thờ Đức Giê-hô-va và cung điện của mình,

2 thì vua xây lại các thành mà Hi-ram đã tặng cho vua, và cho dân Y-sơ-ra-ên định cư tại đó.

3 Sa-lô-môn tiến đánh Ha-mát Xô-ba và chiếm được thành ấy.

4 Vua xây thành Tát-mốt trong hoang mạc và xây các thành dùng làm kho tàng tại xứ Ha-mát.

5 Vua cũng xây Bết Hô-rôn Thượng và Bết Hô-rôn Hạ là những thành kiên cố, có tường thành và cửa đóng then cài.

6 Vua xây thành Ba-lát và tất cả các thành làm kho tàng của vua, các thành để chứa chiến xa, và các thành cho ngựa chiến. Sa-lô-môn hoàn thành tất cả những dự án xây cất tại Giê-ru-sa-lem, Li-ban và toàn lãnh thổ thuộc quyền vua.

7 Tất cả những người còn sót lại trong các dân Hê-tít, A-mô-rít, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít không thuộc về Y-sơ-ra-ên,

8 tức là các con cháu của chúng còn lại trong xứ mà dân Y-sơ-ra-ên không diệt hết, thì Sa-lô-môn bắt chúng làm lao dịch cho đến ngày nay.

9 Nhưng trong dân Y-sơ-ra-ên, Sa-lô-môn không bắt ai làm lao dịch cả. Họ là những chiến sĩ, quan tướng, những người chỉ huy chiến xa và kỵ binh của vua.

10 Số viên chức mà vua Sa-lô-môn đặt lên làm quản đốc nhân công là hai trăm năm mươi người.

11 Sa-lô-môn cho rước công chúa Pha-ra-ôn từ thành Đa-vít lên cung điện mà vua đã xây cất cho bà, vì vua nói rằng: “Vợ ta sẽ không ở trong cung Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, vì Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đến nơi nào thì nơi đó là thánh.”

12 Bấy giờ, Sa-lô-môn dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va mà vua đã xây trước hành lang đền thờ;

13 vua dâng đúng như luật của Môi-se quy định về việc dâng tế lễ trong các ngày sa-bát, ngày trăng mới, và ba ngày lễ lớn hằng năm là lễ Bánh Không Men, lễ Các Tuần và lễ Lều Tạm.

14 Theo lệnh truyền của vua cha là Đa-vít, vua phân công cho các thầy tế lễ theo ban thứ; phân công người Lê-vi trong việc ca ngợi Chúa và phụ giúp các thầy tế lễ trong công việc hằng ngày. Vua cũng phân công người giữ cổng theo phiên thứ tại mỗi cổng đền thờ, vì đây là lệnh truyền của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.

15 Bất cứ điều gì Đa-vít đã truyền dạy liên quan đến các thầy tế lễ, người Lê-vi, cũng như về kho tàng và các việc khác đều được thực hiện chính xác.

16 Mọi công trình của Sa-lô-môn được hoàn tất, từ ngày đặt nền móng đền thờ Đức Giê-hô-va cho đến ngày hoàn thành. Như vậy, đền thờ Đức Giê-hô-va đã được xây cất xong.

17 Lúc ấy, Sa-lô-môn đi đến Ê-xi-ôn Ghê-be và Ê-lốt trên bờ biển thuộc đất Ê-đôm.

18 Vua Hi-ram sai các đầy tớ đem đến cho vua Sa-lô-môn tàu bè và các thủy thủ thông thạo nghề đi biển. Họ cùng đi với các đầy tớ của Sa-lô-môn đến Ô-phia chở về khoảng mười lăm tấn vàng cho vua Sa-lô-môn.

9

1 Khi nữ hoàng Sê-ba nghe về danh tiếng của Sa-lô-môn thì đến Giê-ru-sa-lem, đặt nhiều câu đố để thử vua Sa-lô-môn. Cùng đi với bà có đoàn tùy tùng đông đảo, có rất nhiều lạc đà chở hương liệu và một số lượng rất lớn vàng cùng đá quý. Bà đến gặp vua Sa-lô-môn và đặt với vua tất cả những nghi vấn bà có trong lòng.

2 Sa-lô-môn giải đáp tất cả các vấn đề bà đưa ra, không có vấn đề nào là quá bí ẩn đến nỗi Sa-lô-môn không thể giải đáp cho bà.

3 Nữ hoàng Sê-ba thấy sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn, cung điện vua đã xây cất,

4 những món ăn trên bàn vua, cách phân định chỗ ngồi của triều thần, cung cách làm việc của các quan và trang phục của họ, các quan dâng rượu và trang phục của họ, cùng các tế lễ thiêu mà vua dâng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, thì bà mất vía.

5 Bà nói với vua: “Điều tôi nghe nói trong nước tôi về các lời nói và sự khôn ngoan của ngài thì quả là sự thật!

6 Tôi đã không tin lời họ cho đến khi tôi đến đây và thấy tận mắt những điều nầy. Thực ra, người ta cho tôi biết chưa đến một nửa sự khôn ngoan lớn lao của ngài; ngài thật vượt xa hơn tiếng đồn mà tôi đã nghe.

7 Triều thần của ngài thật có phước! Các cận thần của ngài, những người luôn đứng chầu trước mặt ngài, được nghe sự khôn ngoan của ngài thật có phước!

8 Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngài, là Đấng đã vui lòng đặt ngài lên ngôi làm vua để cai trị cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngài! Vì Đức Chúa Trời yêu thương dân Y-sơ-ra-ên, muốn cho dân nầy được bền vững mãi mãi, nên đã lập ngài làm vua của họ để thực thi công lý và sự chính trực.”

9 Nữ hoàng tặng cho vua ba nghìn sáu trăm ký vàng, rất nhiều hương liệu và đá quý. Chưa từng có thứ hương liệu nào giống như hương liệu của nữ hoàng Sê-ba tặng cho vua Sa-lô-môn.

10 (Các đầy tớ của Hi-ram và Sa-lô-môn chở vàng từ Ô-phia về; họ cũng chở về nhiều gỗ bạch đàn hương và đá quý.

11 Vua dùng gỗ bạch đàn hương ấy làm bậc thang trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung điện; vua cũng dùng gỗ ấy làm đàn hạc, đàn lia cho các nhạc sĩ. Trước đây, trong đất Giu-đa, người ta chưa hề thấy như vậy.)

12 Vua Sa-lô-môn tặng lại nữ hoàng Sê-ba tất cả những gì bà thích và xin, nhiều hơn những tặng phẩm mà bà đem đến cho vua. Sau đó, nữ hoàng và đoàn tùy tùng trở về nước.

13 Số vàng mà vua Sa-lô-môn thu được hằng năm cân nặng khoảng hai mươi tấn,

14 chưa kể số vàng mà các nhà buôn và khách giao thương đem đến, cùng số vàng và bạc mà các vua Ả-rập và các quan tổng đốc của xứ đem đến cho Sa-lô-môn.

15 Vua Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn dát vàng, mỗi cái dùng khoảng bảy ký vàng.

16 Vua cũng làm ba trăm cái khiên nhỏ dát vàng, mỗi cái dùng khoảng ba ký rưỡi vàng. Vua để các khiên ấy trong cung Rừng Li-ban.

17 Vua làm một cái ngai lớn bằng ngà và bọc vàng ròng.

18 Ngai có sáu bậc và một bệ chân bọc vàng gắn liền với ngai, hai bên chỗ ngồi của ngai có thanh nâng tay, cạnh các thanh nâng tay có hai tượng sư tử.

19 Trên sáu bậc của ngai có mười hai tượng sư tử đứng hai bên. Không có vương quốc nào làm ngai giống như thế.

20 Các vật dụng để uống của vua Sa-lô-môn đều làm bằng vàng, và tất cả những vật dụng trong cung Rừng Li-ban cũng đều làm bằng vàng ròng. Trong đời Sa-lô-môn, bạc chẳng có giá trị gì

21 vì vua có đoàn tàu đi Ta-rê-si cùng với các thủy thủ của Hi-ram, cứ ba năm một lần, đoàn tàu nầy đem về vàng, bạc, ngà voi, khỉ và công.

22 Vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn tất cả các vua trên đất về sự giàu có và khôn ngoan.

23 Tất cả các vua trên đất đều mong được hội kiến Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng vua.

24 Hằng năm, họ đem đến cho vua những tặng vật như các vật dụng bằng bạc, bằng vàng, y phục, vũ khí, hương liệu, ngựa và la.

25 Vua Sa-lô-môn có bốn nghìn chuồng ngựa, nhiều chiến xa, và mười hai nghìn ngựa chiến ở trong các thành chứa xe, và ở gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem.

26 Vua cai trị tất cả các vua từ sông Cái đến đất của người Phi-li-tin, và cho đến tận biên giới Ai Cập.

27 Tại Giê-ru-sa-lem, vua làm cho bạc trở nên tầm thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung mọc ở vùng Sơ-phê-la.

28 Người ta đem ngựa từ Ai Cập và từ khắp nơi về cho Sa-lô-môn.

29 Các việc khác của Sa-lô-môn làm từ đầu đến cuối đều được chép trong sách của nhà tiên tri Na-than, trong sách tiên tri của A-hi-gia người Si-lô, và trong sách khải tượng của Giê-đô, nhà tiên kiến nói về Giê-rô-bô-am con của Nê-bát.

30 Sa-lô-môn trị vì trên toàn thể Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem.

31 Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít, thân phụ vua. Thái tử Rô-bô-am lên kế vị.

10

1 Rô-bô-am đi lên Si-chem vì toàn thể Y-sơ-ra-ên đã đến Si-chem để tôn ông lên làm vua.

2 Khi Giê-rô-bô-am, con của Nê-bát, nghe tin ấy liền từ Ai Cập trở về; lúc ấy, ông đang ở Ai Cập vì trốn vua Sa-lô-môn.

3 Người ta cho mời ông về. Rồi Giê-rô-bô-am cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên đến tâu với Rô-bô-am:

4 “Thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi một cái ách nặng nề. Bây giờ, xin bệ hạ giảm nhẹ khổ dịch và ách nặng nề mà thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ bệ hạ.”

5 Vua trả lời họ: “Ba ngày nữa, các ngươi trở lại gặp ta.” Dân chúng liền ra về.

6 Vua Rô-bô-am hỏi ý kiến các trưởng lão, là những người đã từng phục vụ vua cha là Sa-lô-môn lúc người còn sống. Rô-bô-am hỏi: “Các ngươi góp ý để trẫm phải trả lời với dân nầy thế nào đây?”

7 Các trưởng lão tâu với vua: “Nếu bệ hạ đối đãi tốt với dân nầy, làm vui lòng họ, và dùng lời tử tế nói với họ thì họ sẽ làm đầy tớ bệ hạ mãi mãi.”

8 Nhưng Rô-bô-am loại bỏ ý kiến của các trưởng lão đã đưa ra, lại đi hỏi ý kiến các người trẻ là những người cùng trang lứa với vua và đang phục vụ vua.

9 Vua hỏi họ: “Các ngươi góp ý trẫm phải trả lời cho dân nầy thế nào, vì chúng đã tâu với trẫm rằng: ‘Xin giảm nhẹ cái ách mà thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi.’?”

10 Các người trẻ cùng trang lứa với vua tâu: “Dân chúng đã xin bệ hạ rằng: ‘Thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi một cái ách nặng nề, mong bệ hạ giảm nhẹ cho chúng tôi.’ Vậy, xin bệ hạ trả lời với chúng thế nầy: ‘Ngón tay út của ta còn mập hơn vòng bụng của cha ta.

11 Nếu cha ta đã đặt cái ách nặng nề trên các ngươi thì ta sẽ làm cho ách các ngươi nặng hơn nữa; cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, còn ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bò cạp.’”

12 Vào ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am cùng toàn dân đến gặp Rô-bô-am, đúng như vua đã bảo rằng: “Hãy trở lại gặp ta vào ngày thứ ba.”

13 Vua trả lời với dân chúng một cách gay gắt. Vậy, vua Rô-bô-am đã loại bỏ ý kiến của các trưởng lão.

14 Vua theo ý kiến của những người trẻ mà trả lời với dân chúng rằng: “Cha ta đã đặt trên các ngươi một cái ách nặng nề, ta sẽ làm cho ách các ngươi càng nặng hơn. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, còn ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bò cạp.”

15 Như vậy, vua không nghe theo lời thỉnh cầu của dân chúng, và điều đó là do Đức Chúa Trời cho phép xảy ra để làm ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã dùng A-hi-gia, người Si-lô, phán cùng Giê-rô-bô-am con của Nê-bát.

16 Khi thấy vua không nghe theo lời thỉnh cầu của họ thì toàn thể Y-sơ-ra-ên đáp lại cùng vua rằng: “Chúng ta có phần gì với Đa-vít? Chúng ta chẳng có sản nghiệp gì với con của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Mỗi người hãy trở về trại mình đi. Hỡi Đa-vít! Từ nay hãy coi chừng nhà của ngươi.” Vậy, toàn thể Y-sơ-ra-ên đều trở về trại của họ.

17 Còn dân Y-sơ-ra-ên ở trong các thành Giu-đa thì vẫn ở dưới sự cai trị của Rô-bô-am.

18 Khi vua Rô-bô-am sai A-đô-ni-ram, người phụ trách việc lao động cưỡng bách, đến với dân Y-sơ-ra-ên thì họ ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am vội vàng lên xe trốn về Giê-ru-sa-lem.

19 Từ lúc đó, người Y-sơ-ra-ên nổi lên chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay.

11

1 Về đến Giê-ru-sa-lem, Rô-bô-am liền tập hợp nhà Giu-đa và Bên-gia-min, được một trăm tám mươi nghìn chiến sĩ tinh nhuệ, để giao chiến với Y-sơ-ra-ên nhằm phục hồi vương quốc cho Rô-bô-am.

2 Nhưng có lời của Đức Giê-hô-va phán với Sê-ma-gia, người của Đức Chúa Trời, rằng:

3 “Hãy nói với vua Giu-đa là Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, và với tất cả người Y-sơ-ra-ên ở Giu-đa và Bên-gia-min rằng:

4 Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi không được giao chiến với anh em mình. Ai nấy hãy trở về nhà mình, vì việc nầy do Ta mà ra.’” Họ nghe theo lời của Đức Giê-hô-va và trở về, không tiến đánh Giê-rô-bô-am nữa.

5 Rô-bô-am ở tại Giê-ru-sa-lem và xây các thành trì kiên cố trong đất Giu-đa.

6 Vua xây Bết-lê-hem, Ê-tam, Thê-cô-a,

7 Bết Xu-rơ, Sô-cô, A-đu-lam,

8 Gát, Ma-rê-sa, Xíp

9 A-đô-ra-im, La-ki, A-xê-ca,

10 Xô-rê-a, A-gia-lôn và Hếp-rôn, là những thành vững chắc trong đất Giu-đa và Bên-gia-min.

11 Vua củng cố các đồn lũy ấy, đặt các quan chỉ huy, dự trữ lương thực, dầu và rượu.

12 Trong mỗi thành, vua cung cấp khiên và giáo, làm cho các thành ấy rất vững chắc. Như vậy, đất Giu-đa và Bên-gia-min đều thuộc về vua.

13 Các thầy tế lễ và người Lê-vi trong toàn cõi Y-sơ-ra-ên từ khắp nơi đều đến với Rô-bô-am.

14 Những người Lê-vi lìa bỏ đồng cỏ và sản nghiệp của họ mà đến đất Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem vì Giê-rô-bô-am và các con trai ông đuổi họ đi, không cho làm chức tế lễ của Đức Giê-hô-va nữa.

15 Giê-rô-bô-am lập những thầy tế lễ phục vụ các nơi cao, các hình tượng dê đực và bò con mà vua đã làm.

16 Trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên những ai hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đều theo các thầy tế lễ và người Lê-vi mà đến Giê-ru-sa-lem dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

17 Trong ba năm, họ làm cho vương quốc Giu-đa vững mạnh và giúp Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, trở nên cường thịnh; vì trong ba năm ấy, họ đi theo đường lối của Đa-vít và Sa-lô-môn.

18 Rô-bô-am cưới Ma-ha-lát, con gái của Giê-ri-mốt, cháu của Đa-vít, làm vợ; mẹ của Ma-ha-lát là A-bi-hai, con gái Ê-li-áp, cháu của Gie-sê.

19 Bà sinh cho vua các con trai là Giê-úc, Sê-ma-ria và Xa-ham.

20 Sau đó, vua lại cưới Ma-a-ca, con gái Áp-sa-lôm; bà sinh cho vua: A-bi-gia, Át-thai, Xi-xa và Sê-lô-mít.

21 Vua Rô-bô-am yêu con gái Áp-sa-lôm là Ma-a-ca hơn các bà vợ và các cung phi khác; vì vua có mười tám bà vợ và sáu mươi cung phi, sinh hai mươi tám con trai và sáu mươi con gái.

22 Rô-bô-am lập A-bi-gia, con trai Ma-a-ca, làm thái tử đứng đầu các anh em, vì vua định đưa người con ấy lên kế vị.

23 Rô-bô-am đã khôn khéo phân tán các con trai mình đi khắp các thành vững chắc trong toàn cõi Giu-đa và Bên-gia-min, cấp lương thực dư dật và cưới cho họ nhiều vợ.

12

1 Khi vương quốc của Rô-bô-am được củng cố và cường thịnh thì vua và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều từ bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va.

2 Vì họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va nên vào năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua Ai Cập, kéo quân tiến đánh Giê-ru-sa-lem.

3 Từ Ai Cập, vua kéo theo một nghìn hai trăm cỗ xe, sáu mươi nghìn kỵ binh và vô số bộ binh người Li-by, Su-ri và Cút.

4 Si-sắc tiến chiếm các thành kiên cố thuộc Giu-đa, rồi tiến đến Giê-ru-sa-lem.

5 Nhà tiên tri Sê-ma-gia đến gặp Rô-bô-am và các nhà lãnh đạo Giu-đa đang tập trung tại Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc. Ông nói với họ: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi đã lìa bỏ Ta nên Ta phó các ngươi vào tay Si-sắc.’”

6 Bấy giờ, các nhà lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va là công chính.”

7 Khi Đức Giê-hô-va thấy họ hạ mình xuống thì có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: “Chúng đã hạ mình xuống nên Ta sẽ không tiêu diệt chúng, nhưng sẽ giải cứu chúng một phần; và Ta sẽ không dùng tay Si-sắc mà trút cơn thịnh nộ của Ta trên Giê-ru-sa-lem.

8 Tuy nhiên, chúng sẽ phải phục dịch hắn để biết thế nào là phục vụ Ta và thế nào là phục dịch các nước khác.”

9 Si-sắc, vua Ai Cập, kéo lên đánh Giê-ru-sa-lem, chiếm đoạt các báu vật trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua. Vua ấy cướp sạch các báu vật, kể cả những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.

10 Vua Rô-bô-am làm các khiên bằng đồng để thay thế, và giao cho các quan chỉ huy thị vệ canh giữ cửa hoàng cung.

11 Mỗi khi vua vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va thì quân thị vệ mang các khiên ấy ra, rồi sau đó đem cất lại trong kho của quân thị vệ.

12 Vì Rô-bô-am hạ mình xuống, nên cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va quay khỏi vua và vua không bị tiêu diệt hoàn toàn; và Giu-đa cũng còn hưởng những điều tốt lành.

13 Vua Rô-bô-am củng cố được ngai vàng và trị vì tại Giê-ru-sa-lem. Khi lên ngôi, Rô-bô-am được bốn mươi mốt tuổi; vua cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, tức là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ vua tên là Na-a-ma, người Am-môn.

14 Rô-bô-am làm điều ác vì không hết lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va.

15 Các việc của Rô-bô-am đã làm từ đầu đến cuối đều được chép trong sách của nhà tiên tri Sê-ma-gia và nhà tiên kiến Y-đô theo cách chép gia phả. Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am luôn giao tranh với nhau.

16 Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít. Con vua là A-bi-gia lên kế vị.

13

1 Năm thứ mười tám đời trị vì của Giê-rô-bô-am, A-bi-gia lên làm vua Giu-đa.

2 Vua cai trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Mi-ca-gia, con gái của U-ri-ên ở Ghi-bê-a. Lúc bấy giờ, chiến tranh xảy ra giữa A-bi-gia và Giê-rô-bô-am.

3 A-bi-gia ra trận với một lực lượng bốn trăm nghìn quân tinh nhuệ, là những chiến sĩ dũng cảm; còn Giê-rô-bô-am đem tám trăm nghìn quân tinh nhuệ, cũng là những chiến sĩ dũng cảm, ra nghênh chiến.

4 A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im trong miền núi Ép-ra-im và nói: “Hỡi Giê-rô-bô-am và toàn thể Y-sơ-ra-ên, hãy nghe!

5 Các ngươi không biết rằng, do giao ước bằng muối, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban quyền cai trị vương quốc Y-sơ-ra-ên cho Đa-vít và cho con cháu người đến đời đời sao?

6 Thế nhưng, Giê-rô-bô-am con trai Nê-bát là đầy tớ của Sa-lô-môn, con của Đa-vít, đã nổi lên chống lại chủ mình.

7 Những tên vô lại, côn đồ đều tụ tập lại theo hắn. Chúng mạnh mẽ chống lại Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, trong khi Rô-bô-am thì trẻ người non dạ, không đủ sức chống lại chúng.

8 Vậy bây giờ, các ngươi tưởng rằng với quân đội đông đảo, có bò con vàng mà Giê-rô-bô-am đã đúc làm thần cho các người, thì các người có thể chống lại vương quốc mà Đức Giê-hô-va đã ban cho con cháu Đa-vít sao?

9 Chẳng phải các người đã đuổi những thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, là con cháu A-rôn, và người Lê-vi sao? Các người đã theo phong tục của các dân ngoại mà lập những thầy tế lễ cho mình; bất cứ ai đem đến một con bò tơ đực và bảy con chiên đực để dâng tế lễ thì được làm thầy tế lễ cho thần không phải là thần.

10 Nhưng về phần chúng tôi, Giê-hô-va vẫn là Đức Chúa Trời của chúng tôi, chúng tôi không lìa bỏ Ngài. Những thầy tế lễ, là con cháu của A-rôn, đều phụng sự Đức Giê-hô-va, và các người Lê-vi giữ phần việc của họ.

11 Mỗi buổi sáng và buổi chiều, họ dâng tế lễ thiêu và xông hương cho Đức Giê-hô-va. Họ cũng sắp bánh cung hiến trên bàn thanh sạch, thắp các đèn trên chân đèn bằng vàng cho cháy sáng vào mỗi buổi chiều tối. Vì chúng tôi vâng giữ mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, còn các người lại bỏ đi.

12 Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng và lãnh đạo chúng tôi. Những thầy tế lễ của Ngài cầm kèn thúc quân thổi vang lên chống lại các người. Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên! Đừng chiến đấu chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các người, vì các người không thắng được đâu!”

13 Trong khi đó, Giê-rô-bô-am sai quân mai phục đi vòng phía sau quân Giu-đa. Như thế, quân Y-sơ-ra-ên ở phía trước, còn quân mai phục của họ ở phía sau quân Giu-đa.

14 Lúc quân Giu-đa quay lại, kìa, địch quân đã có mặt phía trước và phía sau. Họ liền kêu cầu Đức Giê-hô-va, còn các thầy tế lễ thì thổi kèn.

15 Bấy giờ, người Giu-đa hò hét xung trận. Khi người Giu-đa hò hét thì Đức Chúa Trời đánh bại Giê-rô-bô-am và toàn thể Y-sơ-ra-ên trước mặt A-bi-gia và người Giu-đa.

16 Quân Y-sơ-ra-ên chạy trốn quân Giu-đa, và Đức Chúa Trời phó họ vào tay quân Giu-đa.

17 A-bi-gia và quân lính của vua đánh bại và làm cho quân Y-sơ-ra-ên tổn thất nặng nề; có năm trăm nghìn quân tinh nhuệ của Y-sơ-ra-ên ngã chết.

18 Như vậy, trong trận ấy quân Y-sơ-ra-ên bị hạ nhục, còn quân Giu-đa thắng trận vì họ nhờ cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.

19 A-bi-gia truy đuổi Giê-rô-bô-am và chiếm các thành: Bê-tên và các vùng phụ cận, Giê-sa-na và các vùng phụ cận, Ép-rôn và các vùng phụ cận.

20 Suốt thời trị vì của A-bi-gia, Giê-rô-bô-am không còn khôi phục thế lực được nữa. Cuối cùng, Giê-rô-bô-am bị Đức Giê-hô-va đánh phạt và chết.

21 Còn A-bi-gia được cường thịnh. Vua lấy mười bốn người vợ, sinh được hai mươi hai con trai và mười sáu con gái.

22 Các việc khác của A-bi-gia, những đường lối và việc làm của vua đều được chép trong sách bình luận của nhà tiên tri Y-đô.

14

1 A-bi-gia an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít. Thái tử A-sa lên ngai kế vị. Trong thời trị vì của vua nầy, xứ sở được hòa bình mười năm.

2 A-sa làm điều thiện và ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.

3 Vua dẹp bỏ các bàn thờ của thần ngoại bang và những nơi cao, đập bể các trụ thờ và phá hủy các tượng A-sê-ra.

4 Vua truyền bảo dân Giu-đa phải tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, làm theo luật pháp và điều răn của Ngài.

5 Vua cũng dẹp bỏ những nơi cao và các bàn thờ dâng hương khỏi các thành của Giu-đa. Vương quốc được hòa bình dưới thời trị vì của vua.

6 Vua xây dựng các thành trì kiên cố trong đất Giu-đa vì đất nước được hòa bình. Trong thời kỳ nầy không có chiến tranh vì Đức Giê-hô-va ban cho vua được nghỉ ngơi.

7 Vua nói với dân Giu-đa: “Chúng ta hãy xây dựng các thành nầy, đắp tường lũy chung quanh, dựng tháp, làm cửa có then cài. Đất nước vẫn còn thuộc về chúng ta vì chúng ta đã tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đã tìm kiếm Ngài nên Ngài ban cho chúng ta bình an mọi bề.” Thế là họ xây dựng và đã thành công.

8 A-sa có một quân đội gồm ba trăm nghìn người Giu-đa được trang bị khiên và giáo, hai trăm tám mươi nghìn người Bên-gia-min được trang bị thuẫn và cung; tất cả đều là những dũng sĩ.

9 Xê-rách, người Cút, kéo một lực lượng gồm một triệu quân với ba trăm cỗ xe tiến đánh người Giu-đa, và họ đi đến Ma-rê-sa.

10 A-sa kéo ra nghênh chiến và dàn trận trong thung lũng Xê-pha-ta gần Ma-rê-sa.

11 A-sa cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình: “Lạy Đức Giê-hô-va! Ngoài Chúa, chẳng ai giúp người yếu thắng được người mạnh. Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con! Xin giúp đỡ chúng con, vì chúng con nương cậy nơi Ngài. Nhân danh Chúa, chúng con đương đầu cùng đoàn quân đông đảo nầy. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Đức Chúa Trời của chúng con, xin đừng để loài người thắng hơn Chúa!”

12 Đức Giê-hô-va đánh bại quân Cút trước mặt dân Giu-đa và vua A-sa; quân Cút bỏ chạy.

13 A-sa và quân của vua truy đuổi chúng cho đến Ghê-ra. Quân Cút ngã chết và bị quét sạch không còn một ai sống sót; chúng bị đánh tan trước mặt Đức Giê-hô-va và đạo quân của Ngài. Người Giu-đa chiếm được rất nhiều chiến lợi phẩm.

14 Họ cũng tiến đánh các thành chung quanh Ghê-ra vì Đức Giê-hô-va giáng sự kinh khiếp trên các thành đó. Quân của A-sa cướp lấy rất nhiều của cải trong các thành ấy.

15 Họ còn đánh chiếm các nông trại súc vật, bắt đem đi rất nhiều chiên và lạc đà, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.

15

1 Thần Đức Chúa Trời ngự trên A-xa-ria, con trai của Ô-đết.

2 Ông đi đón vua A-sa và nói: “Xin vua A-sa cùng toàn thể dân Giu-đa và Bên-gia-min nghe tôi nói! Các ngươi theo Đức Giê-hô-va chừng nào thì Đức Giê-hô-va ở với các ngươi chừng nấy. Nếu các ngươi tìm kiếm Ngài thì sẽ gặp được Ngài; nếu các ngươi lìa bỏ Ngài thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi.

3 Đã lâu nay, Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời thật, không có thầy tế lễ dạy dỗ, cũng chẳng có luật pháp.

4 Nhưng trong lúc khốn khó, họ trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà tìm kiếm Ngài thì lại gặp được Ngài.

5 Trong thời gian ấy, không một ai vào ra được bình an, vì tất cả cư dân các nước đều rối loạn.

6 Nước nầy giày đạp nước kia, thành nầy giày đạp thành nọ, vì Đức Chúa Trời khuấy rối chúng bằng đủ thứ khổ nạn.

7 Nhưng các ngươi hãy vững lòng, đừng buông tay bỏ cuộc, vì công việc mình sẽ được đền đáp.”

8 Khi A-sa đã nghe các lời nầy là lời tiên tri của nhà tiên tri Ô-đết thì vua thêm can đảm. Vua dẹp bỏ những thần tượng ghê tởm khỏi toàn cõi Giu-đa và Bên-gia-min, và khỏi các thành mà vua đã chiếm được trên miền núi Ép-ra-im. Vua sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va trước hành lang của đền thờ.

9 Vua tập hợp tất cả những người Giu-đa, người Bên-gia-min và những kiều dân thuộc các bộ tộc Ép-ra-im, Ma-na-se và Si-mê-ôn đang cư trú giữa họ; vì có nhiều người bỏ Y-sơ-ra-ên đến theo vua A-sa khi thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở cùng vua.

10 Vào tháng ba, năm thứ mười lăm đời trị vì của A-sa, họ tụ họp tại Giê-ru-sa-lem.

11 Lúc ấy, họ lấy bảy trăm con bò đực và bảy nghìn con chiên trong số chiến lợi phẩm đã mang về làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va.

12 Họ kết ước với nhau hết lòng hết ý tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

13 Tất cả những ai không tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thì sẽ bị xử tử, bất luận nhỏ hay lớn, nam hay nữ.

14 Họ lớn tiếng thề nguyện cùng Đức Giê-hô-va, reo mừng, thổi kèn và tù và.

15 Toàn thể Giu-đa vui mừng về lời thề ấy, vì họ hết lòng thề nguyện, hết sức tìm kiếm Đức Giê-hô-va và gặp được Ngài. Đức Giê-hô-va ban cho họ được bình an tứ phía.

16 Vì Ma-a-ca, mẹ vua A-sa, đã làm một hình tượng ghê tởm cho thần A-sê-ra nên vua A-sa cách chức thái hậu của bà, đánh đổ hình tượng ấy và nghiền nát rồi thiêu đốt trong thung lũng Xết-rôn.

17 Tuy các nơi cao chưa bị dẹp bỏ khỏi Y-sơ-ra-ên, nhưng A-sa vẫn trọn lòng với Chúa suốt đời.

18 Vua đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va các vật mà vua cha và chính mình đã biệt riêng ra thánh gồm vàng, bạc và các vật dụng.

19 Bấy giờ, không có chiến tranh cho đến năm thứ ba mươi lăm đời trị vì của A-sa.

16

1 Vào năm thứ ba mươi sáu đời trị vì của A-sa thì vua Y-sơ-ra-ên là Ba-ê-sa đi lên đánh Giu-đa và xây đồn lũy Ra-ma để không cho ai ra vào lãnh thổ của A-sa, vua Giu-đa.

2 Khi ấy, A-sa lấy bạc vàng trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong kho của cung vua gửi đến Bên-ha-đát, vua A-ram ở Đa-mách, và nói rằng:

3 “Chúng ta hãy lập một hiệp ước với nhau như thân phụ của tôi và thân phụ của ngài đã làm. Nầy, tôi gửi đến ngài bạc và vàng, xin ngài hủy bỏ hiệp ước của ngài với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để ông ấy rút quân khỏi tôi.”

4 Bên-ha-đát nghe theo lời vua A-sa, sai các tướng chỉ huy đem quân tiến đánh các thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm Y-giôn, Đan, A-bên Ma-im cùng các thành có kho tàng của đất Nép-ta-li.

5 Khi Ba-ê-sa hay điều đó liền ngưng xây đồn Ra-ma và bãi bỏ công trình.

6 Vua A-sa đem toàn dân Giu-đa đến lấy đá và gỗ mà Ba-ê-sa đã dùng xây cất Ra-ma; rồi A-sa dùng các vật liệu ấy xây cất Ghê-ba và Mích-pa.

7 Trong khi ấy, nhà tiên kiến Ha-na-ni đến gặp A-sa, vua Giu-đa, và nói: “Vì vua nương cậy vua A-ram mà không nương cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, nên đạo quân vua A-ram đã thoát khỏi tay vua.

8 Quân Cút và dân Li-by chẳng phải là một lực lượng hùng hậu sao? Chiến xa và kỵ binh của chúng chẳng phải rất đông đảo sao? Dù vậy, vì vua nhờ cậy Đức Giê-hô-va nên Ngài phó chúng vào tay vua.

9 Vì mắt của Đức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian để giúp sức cho người nào trọn lòng đối với Ngài. Trong việc nầy, vua đã cư xử cách dại dột nên từ nay về sau, vua sẽ phải luôn đương đầu với chiến tranh.”

10 A-sa nổi giận với nhà tiên kiến và bỏ tù người vì vua rất tức giận người về việc ấy. Trong lúc đó, A-sa cũng đàn áp một số người khác trong dân.

11 Các việc làm của A-sa từ đầu đến cuối đều được chép trong sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.

12 Năm thứ ba mươi chín đời trị vì của A-sa, vua bị đau chân rất nặng. Tuy nhiên, trong cơn bệnh, vua không tìm kiếm Đức Giê-hô-va mà tìm kiếm các thầy thuốc.

13 A-sa an giấc cùng các tổ phụ mình. Vua qua đời sau bốn mươi mốt năm trị vì.

14 Người ta an táng vua trong mộ mà chính vua đã đục cho mình trong thành Đa-vít. Họ đặt thi hài vua trên giường đầy hương liệu pha chế theo đúng kỹ thuật hòa hương; họ cũng đốt một ngọn lửa thật to để khóc than vua.

17

1 Giô-sa-phát, con trai A-sa, lên kế vị; vua làm cho vương quốc cường thịnh để đối phó với Y-sơ-ra-ên.

2 Vua bố trí quân đội tại các thành kiên cố của Giu-đa, lập đồn trong xứ Giu-đa và trong các thành Ép-ra-im mà A-sa, vua cha, đã chiếm được.

3 Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát vì vua đi theo đường lối mà trước kia Đa-vít, tổ phụ mình, đã đi, không tìm kiếm thần Ba-anh,

4 nhưng tìm kiếm Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, tuân giữ các điều răn của Ngài chứ không hành động như Y-sơ-ra-ên.

5 Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến vương quốc vững chắc trong tay vua, toàn dân Giu-đa dâng lễ vật cho Giô-sa-phát nên vua được nhiều của cải và danh tiếng lừng lẫy.

6 Vua vững lòng theo các đường lối của Đức Giê-hô-va, tiếp tục dẹp bỏ các nơi cao và những tượng thần A-sê-ra khỏi Giu-đa.

7 Năm thứ ba đời trị vì của Giô-sa-phát, vua sai các quan chức mình là Bên-hai, Ô-ba-đia, Xa-cha-ri, Na-tha-na-ên và Mi-ca-gia đi dạy dỗ trong các thành xứ Giu-đa.

8 Có mấy người Lê-vi đi với họ là Sê-ma-gia, Nê-tha-nia, Xê-ba-đia, A-sa-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giô-na-than, A-đô-ni-gia, Tô-bi-gia và Tô-ba-đô-ni-gia, cũng có hai thầy tế lễ là Ê-li-sa-ma và Giô-ram cùng đi nữa.

9 Họ đem theo sách luật pháp của Đức Giê-hô-va, đi khắp các thành xứ Giu-đa mà dạy dỗ dân chúng.

10 Đức Giê-hô-va khiến các nước chung quanh Giu-đa kinh hãi, chẳng dám gây chiến với Giô-sa-phát.

11 Người Phi-li-tin đem lễ vật và bạc triều cống Giô-sa-phát; người Ả-rập cũng dẫn đến cho vua các bầy súc vật gồm bảy nghìn bảy trăm con chiên đực và bảy nghìn bảy trăm con dê đực.

12 Giô-sa-phát càng ngày càng cường thịnh. Vua xây cất những pháo đài và các thành có kho tàng trong xứ Giu-đa.

13 Vua có nhiều nguồn dự trữ trong các thành Giu-đa. Còn tại Giê-ru-sa-lem, vua có những chiến sĩ dũng cảm.

14 Danh sách những người ấy theo gia tộc của họ như sau: Trong bộ tộc Giu-đa, có những quan chỉ huy nghìn quân là Át-na, chỉ huy ba trăm nghìn dũng sĩ;

15 kế tiếp có Giô-ha-nan chỉ huy hai trăm tám mươi nghìn dũng sĩ;

16 rồi đến A-ma-sia, con trai của Xiếc-ri, là người tự nguyện phục vụ Đức Giê-hô-va, ông chỉ huy hai trăm nghìn dũng sĩ.

17 Trong bộ tộc Bên-gia-min có Ê-li-a-đa là một dũng sĩ, chỉ huy hai trăm nghìn quân cầm cung và khiên;

18 kế tiếp có Giê-hô-xa-bát chỉ huy một trăm tám mươi nghìn quân sẵn sàng ra trận.

19 Đó là những người phục vụ vua, không kể những người mà vua đã bố trí trong các thành kiên cố khắp xứ Giu-đa.

18

1 Lúc bấy giờ, Giô-sa-phát rất giàu có và vinh quang; vua kết thông gia với A-háp.

2 Vài năm sau, vua xuống thăm A-háp tại Sa-ma-ri. A-háp giết nhiều chiên bò thết đãi Giô-sa-phát và đoàn tùy tùng, rồi thuyết phục Giô-sa-phát tấn công Ra-mốt Ga-la-át.

3 A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, nói với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: “Ngài có muốn cùng tôi đi đánh Ra-mốt Ga-la-át chăng?” Giô-sa-phát trả lời: “Tôi cũng như ngài, dân tôi cũng như dân ngài; chúng tôi sẽ cùng chiến đấu với ngài.”

4 Giô-sa-phát lại nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Nhưng trước hết, chúng ta hãy cầu hỏi Đức Giê-hô-va.”

5 Vua Y-sơ-ra-ên triệu tập các nhà tiên tri, khoảng bốn trăm người, và hỏi họ: “Chúng ta nên đi đánh Ra-mốt Ga-la-át hay là nên ngưng lại?” Họ đáp: “Hãy đi! Đức Chúa Trời sẽ phó thành ấy vào tay bệ hạ.”

6 Nhưng Giô-sa-phát nói tiếp: “Ở đây còn có nhà tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta nhờ người ấy cầu hỏi không?”

7 Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát: “Còn có một người tên là Mi-chê, con của Giêm-la, nhờ hắn chúng ta có thể cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Nhưng tôi ghét hắn, vì hắn không bao giờ nói tiên tri lành về tôi, chỉ toàn là điều dữ.” Giô-sa-phát nói: “Xin vua đừng nói như thế!”

8 Vua Y-sơ-ra-ên gọi một quan chức đến và bảo: “Hãy gọi Mi-chê, con của Giêm-la, đến đây ngay!”

9 Vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc triều phục, ngồi trên ngai mình ở sân đập lúa tại cửa thành Sa-ma-ri, còn tất cả các nhà tiên tri thì nói tiên tri trước mặt hai vua.

10 Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, làm các sừng bằng sắt, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Với các sừng nầy, bệ hạ sẽ húc dân A-ram cho đến khi tiêu diệt chúng hoàn toàn.’”

11 Tất cả các nhà tiên tri đều nói như thế: “Hãy đi đánh Ra-mốt Ga-la-át, bệ hạ sẽ thắng vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay bệ hạ.”

12 Trong lúc ấy, sứ giả đi mời Mi-chê nói với ông: “Nầy, các nhà tiên tri đều đồng thanh báo cho vua điều lành, vậy tôi xin ông cũng hãy lấy lời lành như họ mà báo cho vua.”

13 Nhưng Mi-chê đáp: “Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống! Ta sẽ nói bất cứ điều gì Đức Chúa Trời ta truyền phán.”

14 Khi Mi-chê đến, A-háp hỏi: “Nầy Mi-chê, chúng ta nên tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át hay là nên ngưng lại?” Ông đáp: “Hãy đi, vua sẽ thắng và chúng sẽ bị phó vào tay hai vua.”

15 Vua nói với ông: “Biết bao lần ta phải buộc ngươi thề là không nói với ta điều gì ngoài sự thật nhân danh Đức Giê-hô-va!”

16 Mi-chê đáp: “Tôi thấy toàn dân Y-sơ-ra-ên tản lạc trên các núi như bầy chiên không có người chăn, và Đức Giê-hô-va phán: ‘Những người nầy không còn chủ nữa, ai nấy hãy trở về nhà mình bình an.’”

17 Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Tôi đã chẳng nói với ngài rằng người nầy không bao giờ nói tiên tri lành về tôi, chỉ toàn là điều dữ đó sao?”

18 Mi-chê nói tiếp: “Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài, còn toàn thể thiên binh đứng chầu bên phải và bên trái.

19 Đức Giê-hô-va phán: ‘Ai sẽ dụ A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, đi đánh Ra-mốt Ga-la-át để ngã chết tại đó?’ Rồi người nói cách nầy, kẻ nói cách khác.

20 Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: ‘Tôi sẽ đi dụ ông ấy.’ Đức Giê-hô-va phán hỏi: ‘Bằng cách nào?’

21 Thần đáp: ‘Tôi sẽ đi ra làm thần nói dối trong miệng các nhà tiên tri của ông ấy.’ Đức Giê-hô-va phán: ‘Phải, ngươi sẽ dụ nó được. Hãy đi làm như thế.’

22 Vậy, bây giờ xem kìa Đức Giê-hô-va đã đặt thần nói dối trong miệng các nhà tiên tri của vua, và Đức Giê-hô-va đã dự định giáng họa trên vua.”

23 Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, đến gần vả vào má của Mi-chê và nói: “Thần Đức Giê-hô-va từ nơi ta đã đi đường nào mà đến nói với ngươi?”

24 Mi-chê đáp: “Kìa, trong ngày ngươi chạy từ phòng nầy qua phòng kia để lẩn trốn thì sẽ biết điều đó.”

25 Vua Y-sơ-ra-ên truyền lệnh: “Hãy bắt Mi-chê dẫn đến quan cai trị thành là A-môn và hoàng tử Giô-ách.

26 Hãy nói: ‘Vua truyền bỏ tù người nầy, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình an.’”

27 Mi-chê nói: “Nếu vua trở về bình an thì hẳn Đức Giê-hô-va đã không dùng tôi mà phán.” Rồi ông nói: “Hỡi toàn dân, hãy nghe điều đó!”

28 Vậy vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, cùng tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át.

29 Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Tôi sẽ cải trang rồi ra trận, còn ngài cứ mặc vương bào.” Thế là, vua Y-sơ-ra-ên cải trang, rồi hai vua cùng ra trận.

30 Trước đó, vua A-ram đã ra lệnh cho các quan chỉ huy chiến xa rằng: “Đừng áp đánh ai, hoặc nhỏ hay lớn, nhưng chỉ tấn công một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.”

31 Khi các quan chỉ huy chiến xa thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: “Đó là vua Y-sơ-ra-ên!” Họ liền quay sang tấn công vua. Giô-sa-phát kêu cứu và Đức Giê-hô-va giải cứu người. Đức Chúa Trời khiến họ rời khỏi người.

32 Vì khi các quan chỉ huy chiến xa thấy không phải là vua Y-sơ-ra-ên thì dừng lại, không đuổi theo nữa.

33 Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn trúng vua Y-sơ-ra-ên, nhằm ngay chỗ mối áo giáp đâu lại. A-háp nói với người đánh xe mình rằng: “Hãy quay cương lại, đem ta ra khỏi chiến trường vì ta bị thương nặng.”

34 Thế trận hôm ấy trở nên ác liệt, nhưng vua Y-sơ-ra-ên vẫn đứng vịn trên xe mình, đối mặt với quân A-ram cho đến chiều tối. Vào lúc mặt trời lặn thì vua chết.

19

1 Giô-sa-phát, vua Giu-đa, trở về cung điện tại Giê-ru-sa-lem cách bình an.

2 Nhà tiên kiến Giê-hu, con của Ha-na-ni, đi ra đón vua Giô-sa-phát và nói: “Có phải vua đã giúp đỡ kẻ gian ác và yêu kẻ ghét Đức Giê-hô-va không? Vì việc đó mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên vua.

3 Nhưng trong vua còn có điều lành vì vua đã quét sạch khỏi xứ các thần A-sê-ra, và chuyên tâm tìm kiếm Đức Chúa Trời.”

4 Giô-sa-phát ở tại Giê-ru-sa-lem. Sau đó, vua lại đi thăm dân chúng từ Bê-e Sê-ba cho đến vùng đồi núi Ép-ra-im, để đem họ trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.

5 Vua lập các thẩm phán trong xứ, trong tất cả các thành kiên cố của Giu-đa, từ thành nầy đến thành kia.

6 Vua bảo các thẩm phán: “Hãy cẩn thận trong việc các ngươi làm, vì chẳng phải các ngươi xét xử vì loài người đâu nhưng là vì Đức Giê-hô-va; Ngài sẽ ở cùng các ngươi trong việc xét xử.

7 Vậy bây giờ phải kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy cẩn thận mà làm, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta không chấp nhận sự bất chính, thiên vị, hay nhận hối lộ.”

8 Giô-sa-phát cũng chọn một số người Lê-vi, thầy tế lễ và trưởng gia tộc của Y-sơ-ra-ên, đặt họ tại Giê-ru-sa-lem để vì Đức Giê-hô-va mà xét xử và giải quyết các vụ kiện. Họ đều trở về Giê-ru-sa-lem phục vụ.

9 Vua truyền bảo họ: “Đây là cách các ngươi phải làm: Các ngươi phải kính sợ Đức Giê-hô-va, phải trung tín và tận tâm.

10 Nếu anh em các ngươi từ các thành đem đến các ngươi bất cứ vụ kiện nào, hoặc là chuyện đổ máu, hoặc vi phạm luật pháp, điều răn, mệnh lệnh và luật lệ, thì các ngươi phải khuyến cáo họ đừng phạm tội với Đức Giê-hô-va. Nếu không, cơn thịnh nộ của Ngài sẽ giáng trên các ngươi và anh em các ngươi. Làm như thế, các ngươi mới không mắc tội.

11 Nầy, thầy tế lễ cả A-ma-ria sẽ quản lý những việc thuộc về Đức Giê-hô-va; còn Xê-ba-đia, con của Ích-ma-ên, thủ lĩnh nhà Giu-đa, sẽ quản lý những việc thuộc về vua. Cũng có các viên chức người Lê-vi phục vụ giúp các ngươi. Hãy can đảm và làm việc! Đức Giê-hô-va luôn ở cùng người thiện lành.”

20

1 Sau đó, người Mô-áp và Am-môn cùng với một số người Mao-nít theo họ, kéo đến gây chiến với Giô-sa-phát.

2 Người ta đến báo tin cho Giô-sa-phát rằng: “Có một đám quân rất đông từ bờ biển bên kia, từ Ê-đôm đến tấn công bệ hạ; và nầy, chúng đang ở Hát-sát-sôn Tha-ma, cũng gọi là Ên-ghê-đi.”

3 Giô-sa-phát sợ hãi, quyết định tìm kiếm Đức Giê-hô-va, và kêu gọi toàn thể Giu-đa kiêng ăn.

4 Dân Giu-đa nhóm lại để kêu cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp. Từ các thành Giu-đa, người ta đến tìm kiếm Đức Giê-hô-va.

5 Giô-sa-phát đứng giữa hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, phía trước sân mới trong đền thờ Đức Giê-hô-va

6 mà cầu nguyện rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con! Ngài chẳng phải là Chúa ở trên các tầng trời sao? Chẳng phải Ngài là Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? Tay Chúa đầy quyền thế và năng lực, không ai chống cự nổi.

7 Lạy Đức Chúa Trời chúng con! Chẳng phải Ngài đã đuổi dân xứ nầy khỏi dân Y-sơ-ra-ên của Ngài mà ban xứ ấy cho dòng dõi Áp-ra-ham, bạn của Ngài, làm sản nghiệp đời đời sao?

8 Họ đã ở đó và đã xây cất cho danh Ngài một đền thánh, và nói rằng:

9 ‘Nếu tai họa giáng trên chúng con, hoặc gươm giáo, hoặc sự trừng phạt, hoặc dịch bệnh, hoặc nạn đói, thì chúng con sẽ đứng trước đền thờ nầy và trước mặt Chúa (vì danh Ngài ở trong đền thờ nầy), mà kêu cầu Ngài trong cảnh khốn cùng của chúng con, Ngài sẽ lắng nghe và giải cứu chúng con.’

10 Lúc dân Y-sơ-ra-ên rời Ai Cập, Chúa không cho họ đi vào xứ các dân Am-môn, Mô-áp và dân vùng núi Sê-i-rơ nên dân Y-sơ-ra-ên quay khỏi chúng và không tiêu diệt chúng.

11 Kìa, nay chúng báo trả chúng con bằng cách đến đuổi chúng con khỏi sản nghiệp mà Chúa đã ban cho chúng con.

12 Lạy Đức Chúa Trời chúng con! Ngài sẽ không trừng phạt chúng sao? Vì chúng con không đủ sức để đối địch cùng đám quân đông đảo đang đến tấn công chúng con. Chúng con không biết phải làm sao, nhưng mắt chúng con ngưỡng trông Chúa!”

13 Toàn thể Giu-đa, kể cả đàn bà trẻ con, đều đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.

14 Bấy giờ giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va đến trên Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp.

15 Ông nói: “Hỡi toàn thể người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán với các ngươi thế nầy: ‘Đừng sợ, đừng khiếp đảm trước đám quân đông đảo nầy, vì trận chiến nầy chẳng phải của các con đâu nhưng là của Đức Chúa Trời.

16 Ngày mai, hãy kéo xuống đánh chúng. Kìa, chúng đi lên dốc Xít. Các con sẽ gặp chúng ở cuối thung lũng đối diện hoang mạc Giê-ru-ên.

17 Trong trận nầy, các con khỏi phải chiến đấu. Hãy giữ vững vị trí và đứng yên mà xem sự giải cứu của Đức Giê-hô-va, Đấng ở với các con. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! Đừng sợ, đừng khiếp đảm! Ngày mai hãy đi ra đón chúng, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các con.’”

18 Giô-sa-phát cúi sấp mặt xuống đất. Toàn thể Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va mà thờ lạy Ngài.

19 Người Lê-vi thuộc dòng Kê-hát và dòng Cô-ra đều đứng dậy lớn tiếng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

20 Sáng hôm sau, họ thức dậy sớm và kéo ra hoang mạc Thê-cô-a. Trong lúc họ kéo ra, Giô-sa-phát đứng lên và nói: “Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, hãy nghe ta! Hãy tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thì các ngươi sẽ được vững vàng; hãy tin các nhà tiên tri của Ngài thì các ngươi sẽ được thành công.”

21 Vua hội ý với dân chúng và lập những người ca hát để tôn ngợi Đức Giê-hô-va. Họ mặc áo lễ thánh vừa đi trước đoàn quân vừa ca ngợi Chúa rằng: “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.”

22 Khi họ bắt đầu hát vang ca ngợi thì Đức Giê-hô-va cho quân mai phục tấn công đám quân đang tiến đánh Giu-đa gồm quân Am-môn, Mô-áp và người ở núi Sê-i-rơ, và khiến đám quân ấy bị thảm bại.

23 Quân Am-môn và Mô-áp nổi lên đánh người ở núi Sê-i-rơ để tiêu diệt chúng. Sau khi đã tiêu diệt quân ở Sê-i-rơ rồi, chúng quay lại chém giết lẫn nhau.

24 Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi hoang mạc, nhìn đám quân đông đảo thì thấy xác của địch quân nằm la liệt khắp đất, không một ai sống sót.

25 Giô-sa-phát và quân của vua đến thu chiến lợi phẩm gồm rất nhiều của cải và đồ trang sức quý giá trên xác quân địch. Họ cướp lấy cho mình đến khi không còn mang nổi nữa. Họ thu lượm chiến lợi phẩm trong ba ngày, vì rất nhiều.

26 Qua ngày thứ tư, họ nhóm họp tại thung lũng Bê-ra-ca, và ca ngợi Đức Giê-hô-va tại đó; vì vậy, người ta đặt tên chỗ nầy là thung lũng Bê-ra-ca cho đến ngày nay.

27 Toàn dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, do Giô-sa-phát dẫn đầu, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ, vì Đức Giê-hô-va đã làm cho họ vui mừng bởi quân thù của họ bị đánh bại.

28 Họ tiến vào Giê-ru-sa-lem và lên đền thờ Đức Giê-hô-va trong tiếng đàn hạc, đàn lia và tiếng kèn.

29 Khi tất cả các vương quốc trên đất nghe rằng Đức Giê-hô-va đã chiến đấu chống lại quân thù của Y-sơ-ra-ên thì rất khiếp sợ Đức Chúa Trời.

30 Vậy, vương quốc của Giô-sa-phát được hòa bình vì Đức Chúa Trời ban cho vua được yên ổn mọi bề.

31 Giô-sa-phát lên làm vua nước Giu-đa khi được ba mươi lăm tuổi và cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-xu-ba, con gái của Si-li.

32 Vua đi theo đường lối của vua cha là A-sa, không sai lệch khỏi đường lối ấy và làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va.

33 Nhưng vua không dẹp bỏ các nơi cao, và dân chúng chưa hướng lòng về Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

34 Các việc khác của Giô-sa-phát, từ đầu đến cuối, đều được chép trong ký sự của Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy được đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.

35 Sau đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, liên kết với vua Y-sơ-ra-ên là A-cha-xia, một con người ăn ở rất gian ác.

36 Hai vua hợp tác với nhau đóng tàu đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be.

37 Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con của Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát rằng: “Vì vua đã liên kết với A-cha-xia nên Đức Giê-hô-va phá hỏng công trình của vua.” Thật vậy, đoàn tàu bị vỡ nát, không thể đi Ta-rê-si được.

21

1 Giô-sa-phát an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng bên cạnh họ trong thành Đa-vít. Thái tử Giô-ram lên ngôi kế vị.

2 Các con trai của Giô-sa-phát, em của Giô-ram, là A-xa-ria, Giê-hi-ên, Xa-cha-ri, A-xa-ria-u, Mi-ca-ên và Sê-pha-tia; tất cả những người nầy đều là con trai của Giô-sa-phát, vua Y-sơ-ra-ên.

3 Vua cha ban cho họ nhiều của cải bằng bạc và vàng, những báu vật, cùng với các thành kiên cố trong xứ Giu-đa. Nhưng Giô-sa-phát ban ngôi nước cho Giô-ram vì là trưởng nam.

4 Khi Giô-ram lên ngôi kế vị vua cha thì củng cố thế lực bằng cách dùng gươm giết tất cả các em và một số thủ lĩnh của Y-sơ-ra-ên.

5 Giô-ram lên ngôi vua khi được ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem.

6 Vua đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên như nhà A-háp đã làm, vì vua cưới con gái A-háp làm vợ. Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.

7 Nhưng vì Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với Đa-vít, Ngài đã hứa rằng sẽ ban một ngọn đèn cho người và cho con cháu người đến đời đời nên Ngài không muốn diệt nhà Đa-vít.

8 Trong đời trị vì của Giô-ram, dân Ê-đôm nổi lên chống lại Giu-đa và lập vua riêng cho mình.

9 Giô-ram cùng với các quan chỉ huy và chiến xa kéo quân ra trận. Quân Ê-đôm bao vây vua và các quan chỉ huy chiến xa, nhưng trong đêm, vua trỗi dậy tấn công chúng.

10 Vậy, dân Ê-đôm nổi dậy chống ách thống trị của Giu-đa cho đến ngày nay. Cùng lúc ấy, dân thành Líp-na cũng nổi dậy chống ách thống trị của Giô-ram, vì vua đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

11 Vua cũng lập những nơi cao trên các núi Giu-đa, khiến cư dân thành Giê-ru-sa-lem thờ lạy tà thần, và kéo dân Giu-đa vào con đường lầm lạc.

12 Nhà tiên tri Ê-li gửi thư cho Giô-ram nói rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ vua, đã phán: ‘Vì ngươi không đi theo đường lối của Giô-sa-phát, cha ngươi, lại cũng chẳng đi theo con đường của A-sa, vua Giu-đa,

13 nhưng đã đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, khiến cho người Giu-đa và cư dân thành Giê-ru-sa-lem thờ lạy tà thần như nhà A-háp đã làm. Hơn nữa, ngươi đã giết các em trong nhà cha ngươi, là những người tốt hơn ngươi.

14 Nầy, Đức Giê-hô-va sẽ đổ tai họa lớn trên dân tộc ngươi, trên con cái ngươi, trên các vợ ngươi, và trên tất cả tài sản của ngươi.

15 Còn chính ngươi sẽ mắc nhiều bệnh trong gan ruột, càng ngày càng trầm trọng cho đến khi gan ruột ngươi đứt rời ra.’”

16 Ngoài ra, Đức Giê-hô-va cũng thúc giục dân Phi-li-tin và dân Ả-rập, ở gần dân Cút, chống lại Giô-ram.

17 Chúng kéo lên đánh Giu-đa, xâm lấn xứ và chiếm đoạt tất cả tài sản của hoàng gia, bắt đi các hoàng tử cùng hoàng hậu và cung phi; ngoại trừ đứa con út là Giô-a-cha, không còn sót lại một đứa con trai nào cả.

18 Sau hết, Đức Giê-hô-va hành hại vua, khiến mắc bệnh nan y trong gan ruột.

19 Ngày tháng trôi qua, bệnh của vua kéo dài suốt hai năm. Cuối cùng, ruột gan của Giô-ram bị đứt rời ra, và vua chết trong cơn đau đớn khủng khiếp. Dân chúng không đốt ngọn lửa to để tang vua như đã làm cho các tổ phụ vua.

20 Giô-ram lên ngôi vua khi được ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua qua đời chẳng ai thương tiếc. Người ta chôn cất vua trong thành Đa-vít, nhưng không đặt trong lăng tẩm của các vua.

22

1 Cư dân thành Giê-ru-sa-lem tôn con trai út của Giô-ram là A-cha-xia lên ngôi kế vị vua cha, vì các con trai lớn của vua bị một toán quân cùng với người Ả-rập tiến vào trại quân Giu-đa giết sạch. Như vậy, con trai Giô-ram là A-cha-xia lên ngôi vua Giu-đa.

2 Khi lên ngôi, A-cha-xia được hai mươi hai tuổi và cai trị một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-tha-li, cháu gái của Ôm-ri.

3 Vua cũng đi theo các đường lối của nhà A-háp, vì mẹ vua là kẻ bày mưu cho vua làm điều ác.

4 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va như nhà A-háp đã làm. Vì sau khi vua cha qua đời, nhà A-háp làm kẻ bày mưu đưa vua đến chỗ diệt vong.

5 Nghe theo kế hoạch của chúng, A-cha-xia cùng với Giô-ram, con trai A-háp vua Y-sơ-ra-ên, kéo quân đến Ra-mốt Ga-la-át để tấn công Ha-xa-ên, vua A-ram. Quân A-ram làm cho Giô-ram bị thương.

6 Vua trở về Gít-rê-ên để chữa trị các vết thương khi giao chiến tại Ra-ma với Ha-xa-ên, vua A-ram. Lúc ấy, A-cha-xia, con của Giô-ram vua Giu-đa, đi xuống Gít-rê-ên thăm Giô-ram, con của A-háp.

7 Việc A-cha-xia đến thăm Giô-ram là bởi ý Đức Chúa Trời nhằm đưa A-cha-xia đến chỗ diệt vong. Thật vậy khi đến nơi, vua cùng Giô-ram kéo ra đánh Giê-hu, con của Nim-si, là người mà Đức Giê-hô-va đã xức dầu để tiêu diệt nhà A-háp.

8 Trong khi thi hành sự phán xét nhà A-háp, Giê-hu gặp các quan trưởng Giu-đa và các con trai của anh em A-cha-xia đang phục vụ vua thì liền giết chúng.

9 Ông cũng cho truy tìm A-cha-xia đang lẩn trốn tại Sa-ma-ri. Người ta bắt A-cha-xia dẫn đến cho Giê-hu, ông ra lệnh giết vua A-cha-xia. Họ chôn cất vua tử tế vì nói rằng: “Dù sao, ông ta cũng là con cháu của Giô-sa-phát, là người hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va.” Vậy nhà A-cha-xia chẳng còn ai có thể nắm quyền cai trị vương quốc.

10 Khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai mình đã chết thì liền tiêu diệt tất cả hoàng tộc của nhà Giu-đa.

11 Nhưng Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, ẵm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, lén đem ra khỏi các hoàng tử sắp bị giết, rồi giấu Giô-ách trong phòng ngủ cùng với người vú nuôi. Thế là Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, vợ thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, đã giấu Giô-ách khuất mắt A-tha-li nên bà không giết Giô-ách được. Giô-sa-bát là chị của A-cha-xia.

12 Giô-ách ẩn náu với họ sáu năm trong đền thờ Đức Chúa Trời, suốt thời gian A-tha-li cai trị xứ sở.

23

1 Đến năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa lấy can đảm mời các chỉ huy trưởng trăm quân là: A-xa-ria, con của Giê-rô-ham; Ích-ma-ên, con của Giô-ha-nan; A-xa-ria, con của Ô-bết; Ma-a-xê-gia, con của A-đa-gia; và Ê-li-sa-phát, con của Xiếc-ri. Ông lập giao ước với những người ấy.

2 Họ đi khắp xứ Giu-đa, tập hợp người Lê-vi từ tất cả các thành Giu-đa và các trưởng gia tộc của Y-sơ-ra-ên. Rồi họ đến Giê-ru-sa-lem.

3 Toàn thể hội chúng lập giao ước với vua trong đền thờ Đức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa nói với họ rằng: “Nầy, con trai của vua, người sẽ cai trị theo lời Đức Giê-hô-va đã phán về con cháu Đa-vít.

4 Đây là điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong các ngươi, tức các thầy tế lễ và người Lê-vi đang phiên trực ngày sa-bát sẽ giữ cửa;

5 một phần ba sẽ vào trong cung vua; và một phần ba ở cổng Giê-sốt. Còn tất cả dân chúng sẽ ở nơi hành lang của đền thờ Đức Giê-hô-va.

6 Đừng để ai vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va, ngoại trừ các thầy tế lễ và người Lê-vi phục vụ, chỉ họ mới được vào, vì họ thánh sạch. Còn tất cả dân chúng đều phải tuân giữ mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va.

7 Người Lê-vi sẽ đứng chung quanh vua, ai nấy vũ khí sẵn sàng trong tay, bất cứ ai vào đền thờ sẽ bị giết. Các ngươi hãy theo sát bên vua khi vua đi ra đi vào.”

8 Người Lê-vi và toàn thể Giu-đa đều làm theo mọi điều thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã truyền. Ai nấy đều giữ người của mình lại, dù là người đến phiên trực ngày sa-bát hay người mãn phiên trực ngày sa-bát, vì thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa không cho phép ai ra về.

9 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lấy giáo, khiên nhỏ và khiên lớn của vua Đa-vít để trong đền thờ Đức Chúa Trời phát cho các chỉ huy trưởng trăm quân.

10 Ông bố trí lực lượng, mỗi người cầm vũ khí trong tay đứng chung quanh vua, dọc theo bàn thờ và đền thờ, từ bên phải cho đến bên trái của đền thờ.

11 Họ đưa thái tử Giô-ách ra, đội vương miện trên đầu, và trao cuộn Chứng Ước cho người rồi tôn người làm vua. Giê-hô-gia-đa và các con trai ông xức dầu cho người, rồi tung hô: “Vua vạn tuế!”

12 Khi A-tha-li nghe tiếng dân chúng vừa chạy vừa chúc tụng vua thì bà đến gặp dân chúng trong đền thờ Đức Giê-hô-va.

13 Bà nhìn thì thấy vua đứng trên bục ngay lối vào, các chỉ huy trưởng và những người thổi kèn đứng gần bên vua, còn toàn dân trong xứ đều vui mừng thổi kèn, và những người ca hát với nhạc khí phụ họa đều cùng nhau chúc tụng. Thấy thế, A-tha-li liền xé áo mình và la lên: “Phản trắc! Phản trắc!”

14 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa bảo các chỉ huy trưởng trăm quân, là những người có nhiệm vụ chỉ huy các đạo quân, đi ra và truyền cho họ: “Hãy dẫn bà ấy ra khỏi đền thờ, giữa hàng quân! Ai theo bà ấy thì sẽ bị giết bằng gươm.” Vì thầy tế lễ đã dạy rằng: “Đừng giết bà ấy trong đền thờ Đức Giê-hô-va.”

15 Họ bắt và giải bà theo lối vào Cổng Ngựa của cung vua, rồi giết bà tại đó.

16 Giê-hô-gia-đa lập giao ước giữa ông với toàn dân và với vua, để họ cam kết làm dân của Đức Giê-hô-va.

17 Sau đó, tất cả dân chúng đi đến miếu thờ Ba-anh để phá hủy nó, đập bể bàn thờ và hình tượng nó rồi giết Ma-than, thầy tế lễ của Ba-anh, ngay trước bàn thờ.

18 Theo phiên thứ mà Đa-vít đã chỉ định trong đền thờ Đức Giê-hô-va, Giê-hô-gia-đa giao trách nhiệm phục vụ đền thờ Đức Giê-hô-va cho những thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi, để họ dâng các tế lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va như đã chép trong luật pháp của Môi-se, và ca hát vui mừng như cách Đa-vít đã ấn định.

19 Ông cũng đặt những người canh gác các cổng đền thờ Đức Giê-hô-va, không cho người bị ô uế vì bất cứ lý do gì vào đền thờ.

20 Cuối cùng, ông hướng dẫn các chỉ huy trưởng trăm quân, các nhà quý tộc, và các nhà lãnh đạo cùng toàn dân trong xứ đi rước vua từ đền thờ Đức Giê-hô-va, qua cổng trên, đưa vào cung vua, rồi đặt vua ngồi trên ngai vàng.

21 Toàn dân trong xứ đều vui mừng, và kinh thành được yên ổn sau khi họ đã giết A-tha-li bằng gươm.

24

1 Khi lên ngôi vua, Giô-ách được bảy tuổi và cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xi-bia quê ở Bê-e Sê-ba.

2 Giô-ách làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va suốt thời gian thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa còn sống.

3 Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách, vua sinh được các con trai và con gái.

4 Sau một thời gian, Giô-ách có ý định trùng tu đền thờ Đức Giê-hô-va.

5 Vua triệu tập các thầy tế lễ, người Lê-vi và bảo: “Hãy đi khắp các thành Giu-đa, thu tiền bạc trong toàn dân Y-sơ-ra-ên để hằng năm trùng tu đền thờ Đức Chúa Trời. Các ngươi hãy nhanh chóng làm việc nầy.” Nhưng người Lê-vi cứ trì hoãn.

6 Vua mời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa đến và hỏi: “Sao ông không đòi những người Lê-vi đem nộp số tiền thuế từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ấn định cho hội chúng Y-sơ-ra-ên phải nộp cho Lều Chứng Ước?”

7 Vì các con trai của A-tha-li, người phụ nữ độc ác kia, đã xâm phạm đền thờ Đức Chúa Trời; chúng lại còn dùng các vật thánh của đền thờ Đức Giê-hô-va cho thần Ba-anh.

8 Vua truyền người ta đóng một cái rương đặt phía ngoài cửa đền thờ Đức Giê-hô-va.

9 Rồi người ta loan báo khắp xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem rằng mỗi người phải đem dâng cho Đức Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se, đầy tớ của Đức Chúa Trời, đã ấn định cho Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc.

10 Tất cả những người lãnh đạo và toàn dân đều vui mừng đem tiền thuế đến bỏ vào trong rương cho đến khi đầy rương.

11 Khi nào thấy trong rương đầy bạc thì người Lê-vi đem giao cho viên chức của vua. Thư ký của vua và người của thầy tế lễ thượng phẩm đến trút rương ra, rồi đem để lại chỗ cũ. Mỗi ngày, họ làm như vậy và thu được rất nhiều bạc.

12 Vua và Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho những người coi sóc công việc trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Họ thuê thợ đá và thợ mộc để trùng tu đền thờ Đức Giê-hô-va; họ cũng thuê thợ sắt và thợ đồng để sửa chữa đền thờ.

13 Vậy các thợ tiến hành công việc, và nhờ đó việc trùng tu được hoàn thành. Họ sửa lại đền thờ Đức Chúa Trời như cũ và làm cho vững chắc.

14 Khi đã làm xong, họ đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua và Giê-hô-gia-đa. Người ta dùng bạc ấy làm các vật dụng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, tức là các vật dùng vào việc thờ phượng và dâng tế lễ thiêu, chén và những vật dụng bằng vàng bằng bạc. Trọn đời Giê-hô-gia-đa người ta thường xuyên dâng tế lễ thiêu tại đền thờ Đức Giê-hô-va.

15 Bấy giờ, Giê-hô-gia-đa đã già, tuổi rất cao và qua đời; lúc qua đời, ông được một trăm ba mươi tuổi.

16 Người ta an táng ông trong thành Đa-vít chung với các vua, vì ông có công với Y-sơ-ra-ên trong sự phục vụ Đức Chúa Trời và trùng tu đền thờ của Ngài.

17 Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các nhà lãnh đạo Giu-đa đến yết kiến vua. Từ đó, vua nghe theo lời của họ,

18 lìa bỏ đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình mà phục vụ các thần A-sê-ra và các hình tượng. Vì tội lỗi ấy, cơn thịnh nộ của Chúa giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

19 Đức Giê-hô-va sai các nhà tiên tri đến với họ để dẫn họ trở lại cùng Đức Giê-hô-va, nhưng họ không chịu nghe.

20 Thần của Đức Chúa Trời đến trên Xa-cha-ri, con của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Ông đứng lên trước mặt dân chúng và nói: “Đức Chúa Trời phán: ‘Tại sao các ngươi phạm các điều răn của Đức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng thành công vì đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi.’”

21 Họ hợp nhau chống lại ông, và theo lệnh vua, họ ném đá ông trong hành lang của đền thờ Đức Giê-hô-va.

22 Như vậy, vua Giô-ách không những quên ơn của Giê-hô-gia-đa, cha của Xa-cha-ri, đã làm cho mình mà còn giết con trai của ông ấy. Lúc sắp chết, Xa-cha-ri nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo ứng!”

23 Vào cuối năm ấy, quân A-ram kéo lên đánh Giô-ách. Chúng tiến đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết tất cả các nhà lãnh đạo trong dân, rồi gửi toàn bộ chiến lợi phẩm về cho vua mình tại Đa-mách.

24 Thực ra, quân A-ram kéo đến với một số ít người, nhưng Đức Giê-hô-va đã phó một đạo quân rất đông vào tay chúng, vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Như vậy, Giô-ách đã bị trừng phạt.

25 Khi quân A-ram đã rút đi, để lại Giô-ách bị thương tích trầm trọng. Các thuộc hạ của vua âm mưu chống lại vua vì nợ máu của con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Họ giết chết vua ngay trên giường. Người ta chôn vua trong thành Đa-vít, nhưng không phải trong lăng tẩm các vua.

26 Đây là những kẻ đã chống lại vua: Xa-bát, con của Si-mê-át là phụ nữ Am-môn; và Giô-xa-bát, con của Sim-rít là phụ nữ Mô-áp.

27 Còn về việc các con trai của vua, các lời tiên tri chống lại vua, và việc trùng tu đền thờ Đức Chúa Trời đều được chép trong phần bình luận sách Các Vua. A-ma-xia, con trai vua, lên ngôi kế vị.

25

1 Khi lên ngôi vua, A-ma-xia được hai mươi lăm tuổi và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giô-a-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.

2 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, nhưng lòng không được trọn lành.

3 Khi vương quốc được vững chắc thì vua xử tử những thuộc hạ đã giết cha mình.

4 Nhưng vua không xử tử các con của họ theo điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn: “Cha mẹ sẽ không bị xử tử vì tội của con cái, con cái cũng sẽ không bị xử tử vì tội của cha mẹ; nhưng mỗi người sẽ bị xử tử vì tội của mình.”

5 A-ma-xia tập hợp người Giu-đa theo họ hàng của tổ phụ Giu-đa và Bên-gia-min, và lập những chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân. Vua kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên, được tất cả là ba trăm nghìn người tuyển chọn, có thể cầm giáo và khiên ra trận được.

6 Vua cũng thuê một trăm nghìn dũng sĩ trong Y-sơ-ra-ên, giá ba nghìn ký bạc.

7 Nhưng có người của Đức Chúa Trời đến nói với vua rằng: “Vua đừng kéo đạo quân Y-sơ-ra-ên đó đi với vua, vì Đức Giê-hô-va không ở cùng Y-sơ-ra-ên, chẳng ở cùng các con cháu Ép-ra-im.

8 Còn nếu vua cứ đi, thì dẫu vua có chiến đấu mạnh mẽ, Đức Chúa Trời cũng sẽ khiến vua thất bại trước mặt quân thù, vì Đức Chúa Trời có quyền giúp cho thắng và cũng có quyền làm cho bại.”

9 A-ma-xia nói với người Đức Chúa Trời: “Còn về ba nghìn ký bạc mà ta đã phát cho đạo quân Y-sơ-ra-ên thì phải làm sao?” Người của Đức Chúa Trời đáp: “Đức Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều hơn số ấy.”

10 Vậy, A-ma-xia tách riêng ra đạo quân đã từ Ép-ra-im đến cùng vua, và cho chúng trở về nhà. Vì thế, chúng rất tức giận Giu-đa và trở về nhà với lòng căm phẫn.

11 A-ma-xia mạnh dạn kéo quân của mình đến thung lũng Muối và đánh giết mười nghìn người Sê-i-rơ.

12 Quân Giu-đa cũng bắt sống được mười nghìn người, đem chúng lên trên đỉnh vách đá, rồi từ trên đỉnh đó xô chúng xuống. Tất cả đều bị chết tan xác.

13 Còn đạo quân mà A-ma-xia cho trở về, không được ra trận với vua thì xông vào các thành Giu-đa, từ Sa-ma-ri cho đến Bết Hô-rôn, đánh giết ba nghìn người tại đó và cướp lấy nhiều của cải.

14 Sau khi đánh thắng quân Ê-đôm, A-ma-xia trở về, đem theo các thần của người Sê-i-rơ, lập lên làm thần của mình, quỳ lạy và xông hương trước mặt chúng.

15 Vì vậy, Đức Giê-hô-va nổi giận cùng A-ma-xia, Ngài sai một nhà tiên tri đến nói với vua: “Tại sao ngươi đi tìm kiếm các thần đã không giải cứu được dân của nó khỏi tay ngươi?”

16 Trong khi nhà tiên tri còn đang nói thì vua ngắt lời: “Chúng ta có đặt ngươi làm cố vấn hoàng gia đâu? Thôi, hãy im đi! Ngươi muốn chết sao?” Nhà tiên tri ngưng, nhưng rồi lại nói: “Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã quyết định hủy diệt vua, vì vua đã làm điều ấy và không nghe lời khuyên của tôi.”

17 Sau khi hội ý với các cố vấn, A-ma-xia, vua Giu-đa, sai sứ giả đến nói với Giô-ách, con của Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, rằng: “Hãy đến, để chúng ta đối mặt nhau.”

18 Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai sứ đến nói với A-ma-xia, vua Giu-đa: “Cây gai ở Li-ban có sai sứ đến nói với cây bá hương ở Li-ban rằng: ‘Hãy gả con gái ngươi cho con trai ta làm vợ.’ Nhưng có một con thú đồng ở Li-ban đi ngang qua giày đạp cây gai đi.

19 Ngươi nói: ‘Nầy, ta đã đánh Ê-đôm!’ Lòng ngươi lại tự cao, tự đại. Bây giờ, hãy ở nhà đi. Tại sao làm cho mình mang họa và khiến cho ngươi và cả Giu-đa phải sụp đổ?”

20 A-ma-xia không chịu nghe, vì điều đó do ý Đức Chúa Trời để phó chúng vào tay kẻ thù, bởi chúng đã tìm kiếm các thần của Ê-đôm.

21 Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, kéo quân lên dàn trận đối diện với A-ma-xia, vua Giu-đa, tại Bết-sê-mết trong xứ Giu-đa.

22 Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại, họ chạy trốn, ai về trại nấy.

23 Tại Bết-sê-mết, vua Y-sơ-ra-ên là Giô-ách bắt A-ma-xia, vua Giu-đa, con của Giô-ách, cháu Giô-a-cha, giải về Giê-ru-sa-lem. Vua Giô-ách đập phá vách thành Giê-ru-sa-lem từ cửa Ép-ra-im cho đến cửa Góc, một đoạn dài khoảng hai trăm mét.

24 Vua lấy hết vàng bạc và những vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời do Ô-bết Ê-đôm coi giữ, cùng các báu vật của hoàng cung. Vua Giô-ách cũng bắt các con tin rồi trở về Sa-ma-ri.

25 Sau khi vua Giô-ách, con của Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, băng hà thì A-ma-xia, con của Giô-ách, vua Giu-đa, còn sống mười lăm năm nữa.

26 Các việc khác của A-ma-xia, từ đầu đến cuối, đều được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.

27 Từ khi A-ma-xia lìa bỏ Đức Giê-hô-va, có người âm mưu phản lại vua tại Giê-ru-sa-lem. Vua phải chạy trốn đến La-ki, nhưng người ta đuổi theo vua đến La-ki và giết vua tại đó.

28 Rồi họ dùng ngựa chở xác vua về chôn trong thành Giu-đa chung với các tổ phụ vua.

26

1 Toàn dân Giu-đa tôn Ô-xia lên làm vua thay thế vua cha là A-ma-xia, lúc Ô-xia mới được mười sáu tuổi.

2 Sau khi vua cha an giấc với các tổ phụ, Ô-xia xây cất Ê-lốt và khôi phục thành nầy cho Giu-đa.

3 Khi lên ngôi vua, Ô-xia được mười sáu tuổi và cai trị năm mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-cô-lia, quê ở Giê-ru-sa-lem.

4 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, đúng như những gì vua cha là A-ma-xia đã làm.

5 Suốt thời Xa-cha-ri là người thông hiểu các khải tượng của Đức Chúa Trời, Ô-xia hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời. Vua tìm kiếm Đức Chúa Trời bao lâu thì Ngài khiến vua được may mắn bấy lâu.

6 Vua kéo quân ra chiến đấu với quân Phi-li-tin, đánh đổ các tường thành Gát, Giáp-nê và Ách-đốt. Vua xây cất các thành trong địa phận Ách-đốt và đất người Phi-li-tin.

7 Đức Chúa Trời giúp đỡ vua thắng dân Phi-li-tin, dân Ả-rập ở Gu-rơ Ba-anh và dân Ma-ôn.

8 Dân Am-môn phải triều cống Ô-xia. Danh tiếng vua đồn đến tận Ai Cập vì vua đã trở nên rất cường thịnh.

9 Ô-xia xây các tháp tại Giê-ru-sa-lem, trên cổng Góc, trên cổng Thung Lũng và trên góc tường, làm cho các tháp ấy vững chắc.

10 Vua cũng xây các tháp trong hoang mạc, đào nhiều giếng vì vua có nhiều súc vật cả ở miền Sơ-phê-la lẫn trên miền cao. Vua cũng có những người làm ruộng, kẻ trồng nho trên đồi núi và tại Cạt-mên, vì vua ưa chuộng nông nghiệp.

11 Ô-xia có một đạo quân sẵn sàng chiến đấu, được tổ chức thành đội ngũ, theo số người mà thư ký Giê-i-ên và quan tướng Ma-a-xê-gia đã tuyển mộ, và được đặt dưới quyền Ha-na-nia, một đại thần của vua.

12 Các trưởng gia tộc đều là những dũng sĩ, tổng số là hai nghìn sáu trăm người.

13 Họ chỉ huy một đạo quân gồm ba trăm lẻ bảy nghìn năm trăm người, tất cả đều thiện chiến và dũng cảm, giúp vua đối địch với quân thù.

14 Ô-xia trang bị cho tất cả đạo quân đủ khiên, giáo, mũ chiến, áo giáp, cung và ná bắn đá.

15 Tại Giê-ru-sa-lem, vua cho các kỹ sư chế tạo máy móc đặt trên các tháp canh và trên thành lũy để bắn tên và đá lớn. Danh tiếng vua đồn ra rất xa, vì vua được Chúa giúp đỡ cách lạ lùng, cho đến khi trở nên cường thịnh.

16 Nhưng khi đã trở nên cường thịnh thì Ô-xia sinh lòng kiêu ngạo khiến vua suy vong. Vua phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình vì đã vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va xông hương trên bàn thờ xông hương.

17 Thầy tế lễ A-xa-ria cùng với tám mươi thầy tế lễ, đều là người mạnh dạn, theo vua đi vào đền thờ.

18 Họ ngăn cản vua Ô-xia và nói: “Tâu vua Ô-xia, chẳng phải việc của vua là xông hương cho Đức Giê-hô-va đâu, nhưng đó là việc của những thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn, là những người đã được biệt riêng ra thánh để xông hương. Xin vua ra khỏi đền thánh vì vua đã phạm tội, và vì việc nầy, Đức Giê-hô-va sẽ không còn cho vua được vẻ vang nữa đâu.”

19 Nghe thế, Ô-xia nổi giận. Lúc ấy, vua đang cầm bình hương trong tay định xông hương. Trong khi vua nổi giận cùng các thầy tế lễ thì phong hủi nổi lên nơi trán vua trước mặt các thầy tế lễ trong đền thờ Đức Giê-hô-va, gần bên bàn thờ xông hương.

20 Thầy tế lễ thượng phẩm A-xa-ria và tất cả các thầy tế lễ khác thấy vua bị bệnh phong hủi nơi trán thì vội vàng đưa vua ra khỏi đó; và chính vua cũng hối hả đi ra vì Đức Giê-hô-va trừng phạt vua.

21 Ô-xia bị bệnh phong hủi cho đến ngày băng hà, và vì bị phong hủi nên phải ở trong một nhà riêng, không còn được vào đền thờ Đức Giê-hô-va nữa. Vì thế, thái tử Giô-tham phải lo việc triều chính và cai trị dân trong xứ.

22 Nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt, đã ghi chép các công việc khác của Ô-xia, từ đầu đến cuối.

23 Ô-xia an giấc cùng tổ phụ mình, và người ta an táng vua gần bên các tổ phụ tại khu lăng tẩm của các vua, vì nói rằng: “Vua bị bệnh phong hủi.” Thái tử Giô-tham lên ngôi kế vị.

27

1 Khi lên ngôi vua, Giô-tham được hai mươi lăm tuổi và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-ru-sa, con gái của Xa-đốc.

2 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va đúng như những gì vua cha là Ô-xia đã làm; nhưng vua không vào đền thờ Đức Giê-hô-va, còn dân chúng thì vẫn cứ bại hoại.

3 Vua xây cổng trên của đền thờ Đức Giê-hô-va, và xây dựng nhiều công trình trên tường thành Ô-phên.

4 Vua cũng xây dựng các thành trong miền đồi núi Giu-đa, và xây dựng các pháo đài, tháp canh ở miền rừng rậm.

5 Vua giao chiến với vua dân Am-môn và đánh bại chúng. Trong năm đó, dân Am-môn nộp cho vua khoảng ba nghìn ký bạc, hai triệu hai trăm nghìn lít lúa mì và hai triệu hai trăm nghìn lít lúa mạch. Dân Am-môn cũng nộp cho vua số phẩm vật ấy trong năm thứ nhì và năm thứ ba.

6 Vậy, Giô-tham trở nên cường thịnh vì vua kiên định đường lối mình trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

7 Các việc khác của Giô-tham, tất cả các cuộc chiến và đường lối của vua đều được chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.

8 Khi lên làm vua, Giô-tham được hai mươi lăm tuổi và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem.

9 Vua an giấc cùng tổ phụ mình; người ta an táng vua trong thành Đa-vít. Thái tử A-cha lên ngôi kế vị.

28

1 Khi lên ngôi vua, A-cha được hai mươi tuổi và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua không làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va như tổ phụ vua là Đa-vít đã làm,

2 nhưng đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên. Vua đúc tượng cho thần Ba-anh,

3 xông hương trong thung lũng Bên Hi-nôm, và thiêu con cái mình làm tế lễ theo thói tục ghê tởm của các dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.

4 Vua dâng sinh tế và xông hương trên các nơi cao, trên các ngọn đồi, và dưới các cây xanh.

5 Vì thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phó vua A-cha vào tay vua A-ram. Quân A-ram đánh bại vua A-cha và bắt rất nhiều người của vua làm tù binh dẫn về Đa-mách. Vua cũng bị phó vào tay vua Y-sơ-ra-ên và bị tổn thất nặng nề.

6 Trong một ngày, Phê-ca, con của Rê-ma-lia, giết một trăm hai mươi nghìn người Giu-đa, tất cả đều là những dũng sĩ, vì chúng đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

7 Xiếc-ri, một dũng sĩ ở đất Ép-ra-im, giết hoàng tử Ma-a-xê-gia, quan quản lý cung điện A-ri-kham, và quan tể tướng Ên-ca-na.

8 Người Y-sơ-ra-ên bắt trong số anh em mình hai trăm nghìn tù binh, gồm cả đàn bà, con trai, con gái. Họ cũng lấy rất nhiều của cải đem về Sa-ma-ri.

9 Tại đó, có một nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va tên là Ô-đết. Ông ra đón đạo quân đang trở về Sa-ma-ri, và nói với họ: “Nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi nổi giận cùng Giu-đa nên Ngài đã phó chúng vào tay các ngươi, và các ngươi đã giết chúng trong cơn cuồng nộ ngất trời.

10 Bây giờ, các ngươi lại định bắt các người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem làm tôi trai tớ gái cho các ngươi sao? Còn về các ngươi, chẳng phải chính các ngươi cũng đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi sao?

11 Vậy bây giờ, hãy nghe ta mà thả những tù binh mà các ngươi đã bắt từ anh em mình, vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên các ngươi.”

12 Lúc ấy, có một số trong các nhà lãnh đạo của dân Ép-ra-im như A-xa-ria, con của Giô-ha-nan; Bê-rê-kia, con của Mê-si-lê-mốt; Ê-xê-chia, con của Sa-lum; và A-ma-sa, con của Hát-lai, đồng đứng lên chống lại những người vừa đánh trận trở về.

13 Họ nói: “Các ngươi đừng đem những tù binh vào đây, vì làm như thế, các ngươi khiến cho chúng ta mắc tội với Đức Giê-hô-va, và làm cho tội ác chúng ta càng gia tăng. Vì tội lỗi chúng ta thật lớn và cơn thịnh nộ dữ dội đang ở trên Y-sơ-ra-ên.”

14 Vậy quân lính thả các tù binh và bỏ lại chiến lợi phẩm trước mặt các nhà lãnh đạo và toàn thể hội chúng.

15 Những người đã kể tên trên đây liền đứng dậy dẫn các tù binh ra, lấy quần áo trong chiến lợi phẩm mặc cho những người bị trần truồng, mang giày, cho ăn uống, xức dầu cho họ, và cho những người yếu sức được cưỡi lừa, rồi đưa họ về cùng anh em mình đến tận Giê-ri-cô, thành cây chà là. Sau đó, những người ấy trở về Sa-ma-ri.

16 Trong lúc đó, vua A-cha sai sứ đi cầu cứu vua A-si-ri,

17 vì dân Ê-đôm đã trở lại đánh Giu-đa và bắt dẫn đi nhiều tù binh.

18 Dân Phi-li-tin cũng xâm lấn các thành trong miền Sơ-phê-la và Nê-ghép thuộc Giu-đa. Chúng chiếm Bết-sê-mết, A-gia-lôn, Ghê-đê-rốt, Sô-cô và các vùng phụ cận, Thim-na và các vùng phụ cận, Ghim-xô và các vùng phụ cận, rồi chúng định cư tại các nơi ấy.

19 Do tội của A-cha, vua Giu-đa, Đức Giê-hô-va đã hạ Giu-đa xuống, vì A-cha đã khiến cho dân Giu-đa sống phóng đãng và phạm tội nghiêm trọng với Đức Giê-hô-va.

20 Tiếc-lát Phin-nê-se, vua A-si-ri, thay vì đến tiếp cứu, đã tấn công và gây khốn khổ cho A-cha.

21 A-cha lấy các vật dụng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, trong cung vua, và trong nhà các quan chức giao cho vua A-si-ri nhưng vua ấy cũng không tiếp cứu.

22 Trong lúc hoạn nạn, vua A-cha lại càng phạm tội với Đức Giê-hô-va.

23 Vua dâng sinh tế cho các thần của dân Đa-mách, là dân đã đánh bại vua, vì nghĩ rằng: “Các thần của vua A-ram đã phù hộ họ, nên ta sẽ dâng sinh tế cho các thần ấy để các thần cũng phù hộ ta nữa.” Thế nhưng, chính các thần ấy là nguyên nhân khiến vua và toàn thể Y-sơ-ra-ên phải suy vong.

24 A-cha thu góp các vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời và đập vỡ hết, rồi đóng các cửa của đền thờ Đức Giê-hô-va. Sau đó, vua lập cho mình những bàn thờ trong mọi ngõ ngách của thành Giê-ru-sa-lem.

25 Trong các thành xứ Giu-đa, vua dựng lên những nơi cao để xông hương cho các thần khác và chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

26 Các việc khác và cách ăn ở của vua, từ đầu đến cuối, đều được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.

27 A-cha an giấc cùng tổ phụ mình. Người ta chôn cất vua trong thành Giê-ru-sa-lem, nhưng vua không được chôn nơi lăng tẩm các vua Y-sơ-ra-ên. Thái tử Ê-xê-chia lên ngôi kế vị.

29

1 Khi lên ngôi vua, Ê-xê-chia được hai mươi lăm tuổi và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-bi-gia, con gái của Xa-cha-ri.

2 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va đúng như mọi điều tổ phụ vua là Đa-vít đã làm.

3 Vào tháng giêng năm thứ nhất đời trị vì, vua mở các cửa đền thờ Đức Giê-hô-va và sửa chữa lại.

4 Vua triệu tập các thầy tế lễ và người Lê-vi đến, tập hợp họ tại quảng trường phía đông,

5 và nói: “Hỡi các người Lê-vi, hãy nghe ta! Bây giờ, hãy thánh hóa chính mình, thánh hóa đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, và loại những điều ô uế ra khỏi đền thánh đi.

6 Vì tổ phụ chúng ta đã phạm tội, làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, lìa bỏ Ngài, ngoảnh mặt khỏi nơi ngự của Đức Giê-hô-va và quay lưng lại với Ngài.

7 Họ cũng đóng các cửa hành lang, tắt các đèn, không xông hương và không dâng tế lễ thiêu tại Nơi Thánh cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

8 Vì vậy, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem; Ngài phó họ vào sự sợ hãi, kinh hoàng và mỉa mai như các ngươi đã thấy tận mắt.

9 Chính vì thế mà tổ phụ chúng ta bị ngã chết vì gươm, còn con trai, con gái và vợ chúng ta bị bắt làm tù binh.

10 Giờ đây, ta quyết định lập một giao ước với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên để cơn thịnh nộ của Ngài rời khỏi chúng ta.

11 Các con của ta ơi, đừng thờ ơ nữa! Vì Đức Giê-hô-va đã chọn các con làm đầy tớ Ngài để đứng trước mặt Ngài, phục vụ và xông hương cho Ngài.”

12 Những người Lê-vi liền hưởng ứng: Về dòng Kê-hát có Ma-hát con của A-ma-sai, và Giô-ên con của A-xa-ria; về dòng Mê-ra-ri có Kích con của Áp-đi, và A-xa-ria con của Giê-ha-lê-le; về dòng Ghẹt-sôn có Giô-a con của Xim-ma, và Ê-đen con của Giô-a;

13 về dòng Ê-lít-sa-phan có Sim-ri và Giê-i-ên; về dòng A-sáp có Xa-cha-ri và Ma-tha-nia;

14 về dòng Hê-man có Giê-hi-ên và Si-mê-i; về dòng Giê-đu-thun có Sê-ma-gia và U-xi-ên.

15 Họ tập hợp anh em mình lại, thánh hóa chính mình và anh em mình, rồi theo lệnh vua truyền và đúng như lời phán của Đức Giê-hô-va, họ đến thanh tẩy đền thờ Đức Giê-hô-va.

16 Các thầy tế lễ đi vào bên trong đền thờ Đức Giê-hô-va để thanh tẩy. Họ đem mọi thứ ô uế tìm thấy trong đền thờ Đức Giê-hô-va bỏ ra ngoài hành lang của đền thờ, rồi người Lê-vi lấy đem ném ra ngoài thung lũng Xết-rôn.

17 Ngày mồng một tháng giêng, họ bắt đầu việc thanh tẩy đền thờ. Ngày mồng tám tháng ấy, họ thanh tẩy đến hành lang của đền thờ, và tiếp tục thanh tẩy đền thờ Đức Giê-hô-va thêm tám ngày nữa. Đến ngày mười sáu tháng giêng thì công việc hoàn tất.

18 Họ vào cung vua Ê-xê-chia và tâu: “Chúng tôi đã thanh tẩy toàn bộ đền thờ Đức Giê-hô-va, bàn thờ tế lễ thiêu và các vật dụng, bàn bánh cung hiến và các vật dụng.

19 Còn tất cả các vật dụng mà lúc trị vì vua A-cha đã phản bội Chúa mà ném bỏ, thì chúng tôi đã tìm lại được, tẩy uế và sắp đặt lại trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va.”

20 Vua Ê-xê-chia dậy sớm, nhóm họp các quan chức trong thành, và lên đền thờ Đức Giê-hô-va.

21 Họ đem theo bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con chiên con và bảy con dê đực để làm tế lễ chuộc tội cho vương quốc, cho đền thánh và cho dân Giu-đa. Vua bảo các thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn dâng các sinh tế ấy trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va.

22 Họ giết các con bò đực, thầy tế lễ lấy máu và rảy trên bàn thờ. Rồi họ giết các con chiên đực và rảy máu trên bàn thờ. Họ cũng giết các con chiên con và rảy máu trên bàn thờ.

23 Sau đó, họ đem các con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội đến trước mặt vua và hội chúng, rồi tất cả đều đặt tay trên chúng.

24 Các thầy tế lễ giết chúng và lấy máu rảy trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, vì vua truyền rằng phải dâng tế lễ thiêu và tế lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên.

25 Vua đặt người Lê-vi trong đền thờ Đức Giê-hô-va cầm chập chõa, đàn hạc và đàn lia, theo lệnh của Đa-vít, của Gát là nhà tiên kiến của vua, và của nhà tiên tri Na-than; vì lệnh truyền ấy do Đức Giê-hô-va dùng các nhà tiên tri của Ngài mà dạy bảo.

26 Các người Lê-vi đứng cầm nhạc khí của Đa-vít, còn các thầy tế lễ cầm kèn.

27 Ê-xê-chia truyền dâng tế lễ thiêu trên bàn thờ. Lúc bắt đầu dâng tế lễ thiêu cũng là lúc trổi lên bài hát ca ngợi Đức Giê-hô-va, cùng với tiếng kèn và các nhạc khí của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên.

28 Toàn thể hội chúng đều thờ phượng, người ca hát, kẻ thổi kèn cho đến khi việc dâng tế lễ thiêu chấm dứt.

29 Khi dâng tế lễ thiêu xong, vua và tất cả những người hiện diện đều quỳ xuống thờ phượng.

30 Vua Ê-xê-chia và các quan chức bảo người Lê-vi ca ngợi Đức Giê-hô-va với những bài ca của Đa-vít và của A-sáp, nhà tiên kiến. Họ ca ngợi Chúa cách vui mừng, rồi sấp mình xuống mà thờ phượng.

31 Vua Ê-xê-chia nói: “Bây giờ, các ngươi đã biệt mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Vậy hãy đến, đem những sinh tế và tế lễ cảm tạ vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va.” Hội chúng liền dẫn đến những sinh tế và tế lễ cảm tạ, cũng có những người tự nguyện đem dâng các tế lễ thiêu.

32 Số sinh tế dùng trong tế lễ thiêu mà hội chúng đem đến là bảy mươi con bò đực, một trăm con chiên đực, và hai trăm con chiên con; họ dùng các thú đó làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va.

33 Ngoài ra, họ còn thánh hóa sáu trăm con bò đực và ba nghìn chiên và dê.

34 Tuy nhiên, số thầy tế lễ quá ít, không đủ để lột da các con vật dùng làm tế lễ thiêu. Vì vậy, anh em của họ là người Lê-vi giúp đỡ họ cho đến khi xong việc, và đến khi có thêm những thầy tế lễ đã thánh hóa chính mình; vì người Lê-vi thành tâm thánh hóa chính mình hơn những thầy tế lễ.

35 Ngoài số tế lễ thiêu rất nhiều, còn có mỡ của tế lễ bình an, và lễ quán kèm theo mỗi tế lễ thiêu. Vậy, việc thờ phượng trong đền thờ Đức Giê-hô-va đã được tái lập.

36 Ê-xê-chia và toàn dân đều vui mừng về những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ, vì mọi việc được tiến hành nhanh chóng.

30

1 Vua Ê-xê-chia sai sứ giả đến toàn cõi Y-sơ-ra-ên và Giu-đa; vua cũng viết thư cho người Ép-ra-im và người Ma-na-se mời họ đến đền thờ Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

2 Vua và các quan chức cùng toàn thể hội chúng ở Giê-ru-sa-lem bàn định với nhau giữ lễ Vượt Qua vào tháng hai,

3 vì họ không thể dự lễ ấy vào đúng thời gian quy định do số thầy tế lễ thánh hóa chính mình chưa đủ, và dân chúng chưa tập trung tại Giê-ru-sa-lem.

4 Vua và toàn thể hội chúng đều thấy việc ấy là chính đáng.

5 Vậy, họ quyết định thông báo khắp xứ Y-sơ-ra-ên, từ Bê-e Sê-ba cho đến Đan, để mọi người đến Giê-ru-sa-lem giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Vì từ lâu, họ đã không giữ lễ ấy cách đông đảo như đã chép trong luật pháp.

6 Theo lệnh vua, những người đưa thư đem thư của vua và các nhà lãnh đạo đi khắp Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Thư kêu gọi: “Hỡi con dân Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, để Ngài trở lại cùng những người còn sót lại trong các ngươi, là những người được thoát khỏi tay các vua A-si-ri.

7 Đừng giống như tổ phụ và anh em các ngươi đã phạm tội bất trung với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, đến nỗi Ngài phó họ vào cảnh điêu tàn như các ngươi đã thấy.

8 Bây giờ, đừng cứng cổ như tổ phụ các ngươi; hãy giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va, hãy vào Nơi Thánh là nơi đã được thánh hóa đời đời, và hãy phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, để cơn thịnh nộ của Ngài quay khỏi các ngươi.

9 Vì nếu các ngươi trở lại cùng Đức Giê-hô-va thì anh em và con cái của các ngươi sẽ được ơn trước mặt những kẻ bắt họ lưu đày, và họ sẽ được trở về trong xứ nầy. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi có lòng nhân từ và hay thương xót sẽ không quay mặt khỏi các ngươi, nếu các ngươi trở lại cùng Ngài.”

10 Những người đưa thư đi từ thành nầy qua thành kia trong khắp xứ Ép-ra-im, Ma-na-se, cho đến tận đất Sa-bu-lôn, nhưng người ta cười nhạo và chế giễu họ.

11 Dù vậy, cũng có một số người trong các bộ tộc A-se, Ma-na-se và Sa-bu-lôn chịu hạ mình xuống và đến Giê-ru-sa-lem.

12 Tay Đức Chúa Trời cũng tác động trên người Giu-đa khiến họ đồng lòng vâng theo lệnh của vua và các quan chức đã truyền ra theo lời Đức Giê-hô-va.

13 Vào tháng hai, có nhiều người nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Bánh Không Men, thật là một hội chúng rất đông đảo!

14 Họ khởi sự dẹp bỏ các bàn thờ ở Giê-ru-sa-lem và tất cả những bàn thờ xông hương, rồi ném chúng xuống thung lũng Kít-rôn.

15 Ngày mười bốn tháng hai, người ta giết sinh tế làm lễ Vượt Qua. Còn các thầy tế lễ và người Lê-vi cảm thấy hổ thẹn nên thánh hóa chính mình và đem các tế lễ thiêu vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va.

16 Họ đứng vào vị trí của mình theo như đã quy định trong luật pháp của Môi-se, người của Đức Chúa Trời, và các thầy tế lễ nhận lấy máu nơi tay người Lê-vi mà rảy ra.

17 Trong hội chúng còn nhiều người chưa thánh hóa chính mình, vì vậy, người Lê-vi phải dâng một sinh tế làm lễ Vượt Qua cho mỗi người không thanh sạch để thánh hóa họ cho Đức Giê-hô-va.

18 Vì trong dân chúng, nhất là trong dân Ép-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn có nhiều người không thanh tẩy chính mình lại ăn lễ Vượt Qua không theo luật định, nên Ê-xê-chia cầu nguyện cho họ rằng:

19 “Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng nhân từ, tha tội cho những người đã hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, mặc dù họ không theo luật thanh tẩy của đền thánh để thánh hóa chính mình.”

20 Đức Giê-hô-va nghe lời cầu nguyện của Ê-xê-chia và chữa lành cho dân chúng.

21 Những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại Giê-ru-sa-lem giữ lễ Bánh Không Men trong bảy ngày một cách vui vẻ. Trong lúc đó, người Lê-vi và các thầy tế lễ ca ngợi Đức Giê-hô-va ngày nầy sang ngày khác với nhạc khí phụ họa.

22 Ê-xê-chia khích lệ tất cả người Lê-vi đã tỏ ra thành thạo trong việc thờ phượng Đức Giê-hô-va. Họ ăn mừng lễ trong bảy ngày, dâng các sinh tế của tế lễ bình an và cảm tạ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

23 Toàn thể hội chúng quyết định giữ lễ thêm bảy ngày, vậy họ vui vẻ giữ lễ thêm bảy ngày nữa.

24 Vì thế, Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã cho hội chúng một nghìn con bò đực và bảy nghìn con chiên; các quan chức cũng cho hội chúng một nghìn con bò đực và mười nghìn con chiên. Có rất nhiều thầy tế lễ thánh hóa chính mình.

25 Toàn thể hội chúng Giu-đa, các thầy tế lễ, người Lê-vi, và hội chúng đến từ Y-sơ-ra-ên cùng những người ngoại bang đến từ Y-sơ-ra-ên cũng như ngụ tại Giu-đa, đều vui mừng.

26 Như vậy, tại Giê-ru-sa-lem có sự vui mừng lớn, vì từ đời Sa-lô-môn, con của Đa-vít vua Y-sơ-ra-ên, đến nay, tại thành Giê-ru-sa-lem chưa bao giờ được vui vẻ như thế.

27 Bấy giờ, các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi đứng dậy chúc phước cho dân chúng. Lời chúc phước của họ được nhậm, và lời cầu nguyện thấu đến nơi ngự thánh của Chúa ở trên trời.

31

1 Khi mọi việc ấy đã xong, tất cả những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đi ra các thành của Giu-đa đập vỡ những trụ thờ, triệt hạ các tượng thần A-sê-ra, phá hủy những nơi cao và các bàn thờ trong toàn cõi Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im và Ma-na-se, cho đến khi đã phá hủy hoàn toàn. Sau đó, toàn dân Y-sơ-ra-ên ai nấy đều trở về thành mình, nơi sản nghiệp mình.

2 Vua Ê-xê-chia lập lại phiên thứ của các thầy tế lễ và người Lê-vi tùy theo công việc của mỗi người để dâng tế lễ thiêu, tế lễ bình an, và phụng sự, cảm tạ, ca ngợi Chúa nơi các cổng đền của Đức Giê-hô-va.

3 Vua cũng lấy một phần tài sản mình làm tế lễ thiêu buổi sáng và buổi chiều, cùng những tế lễ thiêu trong ngày sa-bát, ngày trăng mới và các ngày lễ đã quy định, đúng như đã chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va.

4 Vua truyền cho dân chúng tại Giê-ru-sa-lem phải cung cấp phần dành cho các thầy tế lễ và người Lê-vi để họ chuyên tâm phụng sự đúng như luật pháp của Đức Giê-hô-va ấn định.

5 Khi chỉ dụ của vua vừa truyền ra thì dân Y-sơ-ra-ên đem đến rất nhiều sản vật đầu mùa gồm ngũ cốc, rượu, dầu, mật và các nông thổ sản khác. Họ cũng nộp một phần mười mọi điều họ có, với số lượng thật nhiều.

6 Dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sống trong các thành của Giu-đa cũng đem đến nộp một phần mười về bò và chiên, cùng với một phần mười về các vật đã biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Các lễ vật được xếp thành từng đống.

7 Vào tháng ba, họ bắt đầu xếp các lễ vật thành từng đống và đến tháng bảy mới kết thúc.

8 Khi Ê-xê-chia cùng các thủ lĩnh đến và thấy các đống lễ vật thì ca ngợi Đức Giê-hô-va và chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

9 Ê-xê-chia hỏi thăm các thầy tế lễ và người Lê-vi về các đống lễ vật ấy.

10 A-xa-ria, thầy tế lễ cả thuộc dòng Xa-đốc, tâu với vua rằng: “Từ khi dân chúng bắt đầu đem lễ vật dâng vào đền thờ Đức Giê-hô-va thì chẳng những chúng tôi đủ ăn mà còn dư lại rất nhiều, vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho dân Ngài. Đây là đống lễ vật còn dư lại.”

11 Ê-xê-chia truyền dọn dẹp các phòng trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Khi đã dọn xong,

12 họ trung tín đem vào đó các lễ vật dâng hiến, thuế một phần mười và các vật thánh khác. Cô-na-nia, người Lê-vi, làm trưởng các kho lễ vật ấy; em của ông là Si-mê-i làm phó.

13 Theo lệnh của vua Ê-xê-chia và người cai quản đền thờ Đức Chúa Trời là A-xa-ria, các ông Giê-hi-ên, A-xa-xia, Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt, Giô-sa-bát, Ê-li-ên, Gít-ma-kia, Ma-hát và Bê-na-gia làm nhân viên quản lý dưới quyền của Cô-na-nia và em ông là Si-mê-i.

14 Cô-rê, con trai của Dim-na người Lê-vi, là người giữ cổng phía đông, được giao cho quản lý các lễ vật tự nguyện dâng cho Đức Chúa Trời và phân phát các lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va và các lễ vật chí thánh.

15 Dưới quyền Cô-ra có: Ê-đen, Min-gia-min, Giê-sua, Sê-ma-gia, A-ma-ria và Sê-ca-nia ở trong các thành của thầy tế lễ. Họ phân phối các phẩm vật ấy một cách công bằng cho anh em mình, lớn cũng như nhỏ tùy theo ban của họ.

16 Ngoài những người có tên trong gia phả, họ cũng phân phát cho những người nam từ ba tuổi trở lên, và cho những người theo phiên thứ mình hằng ngày vào đền thờ Đức Giê-hô-va để phụng sự theo chức vụ và ban thứ.

17 Họ cũng phân phát cho các thầy tế lễ đã ghi tên vào gia phả theo tông tộc mình, và cho người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên theo chức vụ và ban thứ.

18 Những người được phân phát gồm tất cả con nhỏ, vợ, con trai và con gái của họ, tức là cả cộng đồng đã được ghi tên vào gia phả, vì họ trung tín trong việc thánh hóa chính mình.

19 Còn về con cháu A-rôn, tức là những thầy tế lễ ở các đồng cỏ phụ cận các thành của họ, thì trong mỗi thành đều có những người được chỉ định đích danh để phân phát phẩm vật cho tất cả người nam trong số các thầy tế lễ và người Lê-vi đã ghi tên vào gia phả.

20 Vua Ê-xê-chia đã làm như thế trong toàn cõi Giu-đa. Vua làm những điều tốt lành, ngay thẳng và trung tín trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.

21 Trong mọi việc vua làm, từ việc phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời đến việc tuân giữ luật pháp hay điều răn, vua đều hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời của mình nên đều được thành công.

32

1 Sau các việc nầy và những hành động trung tín của Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, kéo quân đến xâm lăng xứ Giu-đa, đóng trại trước các thành kiên cố và ra lệnh đánh phá chúng.

2 Khi Ê-xê-chia thấy San-chê-ríp đến và chuẩn bị tấn công Giê-ru-sa-lem,

3 vua hội ý với các thủ lĩnh và những dũng sĩ để ngăn chặn các nguồn nước ở ngoài thành. Họ đều ủng hộ vua.

4 Đông đảo dân chúng tụ họp lại, ngăn các suối nước và các khe chảy qua vùng đất ấy. Họ bảo nhau: “Tại sao chúng ta lại để cho các vua A-si-ri đến đây và tìm được nhiều nước?”

5 Vua kiên quyết hành động, xây lại tất cả tường thành đổ nát, xây các tháp canh cao lên, và xây một tường thành khác ở bên ngoài. Vua còn củng cố Mi-lô trong thành Đa-vít, và chế tạo nhiều lao và khiên.

6 Vua bổ nhiệm các tướng chỉ huy quân đội, rồi triệu tập họ đến quảng trường nơi cổng thành phố và khích lệ họ:

7 “Hãy mạnh dạn và can đảm lên! Đừng sợ hãi, đừng kinh khiếp trước mặt vua A-si-ri và đám quân đông đảo theo vua ấy, vì Đấng ở cùng chúng ta mạnh hơn kẻ ở với vua ấy;

8 vua ấy chỉ có cánh tay phàm nhân, còn chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở với chúng ta để giúp đỡ và chiến đấu thay chúng ta.” Dân chúng được khích lệ nhờ lời của Ê-xê-chia, vua Giu-đa.

9 Sau việc ấy, San-chê-ríp, vua A-si-ri, cùng cả đạo quân của vua vẫn còn bao vây La-ki. Vua sai các thuộc hạ đến gặp Ê-xê-chia và dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem và nói:

10 “San-chê-ríp, vua A-si-ri, nói thế nầy: Các ngươi nương cậy điều gì mà cứ ở mãi trong thành Giê-ru-sa-lem bị bao vây như thế?

11 Chẳng phải Ê-xê-chia đã lừa dối các ngươi để các ngươi chết đói chết khát khi nói rằng: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay vua A-si-ri’ đó sao?

12 Chẳng phải chính Ê-xê-chia đã dẹp bỏ những nơi cao và bàn thờ của Ngài, rồi bảo dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Các ngươi chỉ thờ lạy trước một bàn thờ và chỉ xông hương trên đó mà thôi’ sao?

13 Các ngươi chẳng biết ta và tổ phụ ta đã từng làm gì cho các dân thiên hạ sao? Các thần của những dân tộc ấy có giải cứu xứ của chúng khỏi tay ta được chăng?

14 Trong số các thần của những dân tộc mà tổ phụ ta đã tận diệt, có thần nào giải cứu dân mình khỏi tay ta chăng? Thế thì thần của các ngươi có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta chăng?

15 Vậy bây giờ, đừng để Ê-xê-chia lừa dối và phỉnh gạt các ngươi như thế. Các ngươi đừng tin ông ta, vì chẳng có thần của dân tộc nào hay nước nào giải cứu dân mình khỏi tay ta hay tổ phụ ta, thì làm sao Đức Chúa Trời các ngươi có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta được!”

16 Các thuộc hạ của San-chê-ríp còn xúc phạm đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và xúc phạm Ê-xê-chia là đầy tớ Ngài.

17 San-chê-ríp cũng viết nhiều thư thóa mạ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và nói phạm đến Ngài rằng: “Thần của các dân thiên hạ chẳng giải cứu dân mình khỏi tay ta, thì thần của Ê-xê-chia cũng chẳng giải cứu dân mình khỏi tay ta được đâu!”

18 Chúng la lớn lên bằng tiếng Giu-đa cho dân Giê-ru-sa-lem ở trên vách thành nghe, làm cho họ hoảng sợ để chiếm lấy thành.

19 Chúng nói về Đức Chúa Trời của Giê-ru-sa-lem như nói về những thần của các dân thiên hạ, là sản phẩm do tay người làm ra.

20 Vua Ê-xê-chia và nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt, cầu nguyện về việc nầy và hướng lên trời mà kêu cầu.

21 Đức Giê-hô-va sai một thiên sứ diệt tất cả những dũng sĩ, quan tướng và thủ lĩnh trong trại quân của vua A-si-ri. Vua phải xấu hổ rút lui về nước. Khi vua vào đền thờ thần mình, có mấy người con của vua dùng gươm giết vua tại đó.

22 Như vậy, Đức Giê-hô-va cứu Ê-xê-chia và dân cư thành Giê-ru-sa-lem khỏi tay San-chê-ríp, vua A-si-ri, và khỏi tay mọi kẻ thù; Ngài cho họ được yên ổn mọi bề.

23 Có nhiều người đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, và nhiều tặng vật quý báu cho Ê-xê-chia, vua Giu-đa. Từ đó về sau, vua được các nước tôn trọng.

24 Trong những ngày ấy, Ê-xê-chia lâm bệnh sắp chết. Vua cầu nguyện với Đức Giê-hô-va, Ngài đáp lời và ban cho vua một dấu lạ.

25 Nhưng Ê-xê-chia không báo đáp ân huệ Chúa ban cho mình, vì vua sinh lòng kiêu ngạo nên cơn thịnh nộ của Chúa nổi lên cùng vua, cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

26 Tuy nhiên, cuối cùng Ê-xê-chia và dân cư Giê-ru-sa-lem hạ mình xuống, không còn kiêu ngạo nữa, nên trong đời Ê-xê-chia, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va không giáng trên họ.

27 Ê-xê-chia trở nên rất giàu có và được tôn trọng. Vua xây các kho để cất vàng bạc, đá quý, hương liệu, khiên và các loại vật dụng có giá trị.

28 Vua xây các vựa để chứa ngũ cốc, rượu và dầu. Vua cho làm chuồng để nhốt súc vật, bầy chiên và bầy bò.

29 Vua cũng xây nhiều thành, nuôi nhiều bầy chiên và bò, vì Đức Chúa Trời ban cho vua rất nhiều của cải.

30 Chính vua Ê-xê-chia đã lấp thượng nguồn của suối Ghi-hôn và dẫn nó chảy ngầm dưới đất qua phía tây của thành Đa-vít. Trong mọi việc, Ê-xê-chia đều được thành công.

31 Nhưng khi các sứ giả mà vua Ba-by-lôn sai đến để hỏi thăm về dấu lạ đã xảy ra trong xứ, thì Đức Chúa Trời tạm lìa vua để thử xem lòng dạ vua thế nào.

32 Các việc khác của Ê-xê-chia và những việc thiện mà vua đã làm đều được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên qua khải tượng của nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt.

33 Ê-xê-chia an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong khu lăng tẩm trên đồi của dòng dõi Đa-vít. Cả Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đều bày tỏ lòng tôn kính vua lúc băng hà. Ma-na-se, con vua, lên ngai kế vị.

33

1 Ma-na-se lên làm vua khi được mười hai tuổi, và cai trị năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem.

2 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, theo những thói tục ghê tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.

3 Ma-na-se xây lại các nơi cao mà vua cha là Ê-xê-chia đã phá hủy, lập các bàn thờ thần Ba-anh, làm các tượng nữ thần A-sê-ra, thờ lạy tất cả các ngôi sao trên trời và phục vụ chúng.

4 Vua xây những bàn thờ trong đền thờ Đức Giê-hô-va là nơi Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Danh Ta sẽ ngự tại Giê-ru-sa-lem đời đời.”

5 Trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, vua cũng lập những bàn thờ cho tất cả các ngôi sao trên trời.

6 Vua dâng con cái mình làm tế lễ thiêu trong thung lũng Bên Hi-nôm, xem bói toán, dùng phù phép và ma thuật, theo các đồng cốt và thầy phù thủy. Vua làm quá nhiều điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài.

7 Vua làm tượng chạm và đem đặt trong đền thờ Đức Chúa Trời là nơi Đức Chúa Trời đã phán với Đa-vít và Sa-lô-môn, con vua, rằng: “Tại đền thờ nầy và tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Ta đã chọn trong tất cả các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ đặt danh Ta đời đời.

8 Nếu Y-sơ-ra-ên tuân giữ toàn bộ luật pháp, điều răn và mệnh lệnh mà Ta đã dùng Môi-se phán dạy họ, thì Ta sẽ không để cho bàn chân của dân Y-sơ-ra-ên phải lìa khỏi đất mà Ta đã ban cho tổ phụ họ.”

9 Nhưng Ma-na-se đã quyến dụ Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, đến nỗi họ làm điều ác hơn các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã hủy diệt khỏi dân Y-sơ-ra-ên.

10 Đức Giê-hô-va đã phán với Ma-na-se và dân chúng, nhưng họ không quan tâm đến.

11 Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến các tướng chỉ huy quân đội của vua A-si-ri đến đánh họ, bắt Ma-na-se rồi dùng móc sắt móc vào mũi và lấy xích đồng trói lại giải về Ba-by-lôn.

12 Trong lúc gặp hoạn nạn, vua cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời và hết sức hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

13 Ma-na-se cầu nguyện cùng Chúa, Ngài động lòng và nhậm lời nài xin của vua, cho vua trở về Giê-ru-sa-lem để cai trị vương quốc. Lúc ấy, Ma-na-se nhận biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.

14 Sau việc ấy, vua xây một bức tường bên ngoài thành Đa-vít về phía tây Ghi-hôn, trong thung lũng, cho đến lối vào cổng Cá và bao quanh Ô-phên; vua xây bức tường nầy rất cao. Vua cũng chỉ định các tướng chỉ huy trong tất cả các thành kiên cố của Giu-đa.

15 Ma-na-se dẹp bỏ các thần ngoại bang và hình tượng ra khỏi đền thờ Đức Giê-hô-va; vua cũng dẹp tất cả các bàn thờ mà mình đã xây trên núi có đền thờ Đức Giê-hô-va và tại Giê-ru-sa-lem, rồi ném chúng ra ngoài thành.

16 Sau đó, vua cho sửa sang lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ bình an và tế lễ cảm tạ tại đó. Vua truyền dạy dân Giu-đa phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

17 Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng tế lễ trên các nơi cao, dù chỉ dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình mà thôi.

18 Các việc khác của Ma-na-se, lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời của vua, và lời của các nhà tiên kiến nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà phán với vua đều được chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên.

19 Lời cầu nguyện của vua và cách Đức Chúa Trời nhậm lời vua, tất cả tội lỗi vua đã phạm và sự bất trung của vua, những nơi cao mà vua dựng lên, tượng thần A-sê-ra và tượng chạm, trước khi vua hạ mình xuống; tất cả đều được chép trong sách của Hô-xai.

20 Ma-na-se an giấc cùng tổ phụ mình và được chôn trong cung điện của vua. A-môn, con vua, lên ngôi kế vị.

21 A-môn lên ngôi vua khi được hai mươi hai tuổi, và cai trị hai năm tại Giê-ru-sa-lem.

22 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như vua cha là Ma-na-se. A-môn dâng sinh tế cho tất cả các tượng chạm mà Ma-na-se, cha vua, đã làm, và phục vụ chúng.

23 Vua không hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va như vua cha Ma-na-se, nhưng vua càng phạm tội thêm.

24 Các đầy tớ vua mưu phản và giết vua trong cung điện.

25 Còn dân chúng trong xứ lại giết những kẻ đã mưu phản giết vua A-môn, rồi lập con vua là Giô-si-a lên ngôi kế vị.

34

1 Giô-si-a lên ngôi vua khi được tám tuổi, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.

2 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va và đi theo con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không quay qua bên phải hay bên trái.

3 Vào năm thứ tám đời trị vì, khi còn trẻ tuổi, vua bắt đầu tìm kiếm Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ mình. Vào năm thứ mười hai, vua bắt đầu dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trừ bỏ những nơi cao, tượng thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc.

4 Trước mặt vua, người ta triệt hạ các bàn thờ Ba-anh, và đánh đổ những bàn thờ xông hương phía trên các bàn thờ ấy. Còn tượng thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc thì bẻ gãy, nghiền nát ra bụi, rồi rải trên mồ mả của những kẻ đã cúng tế chúng.

5 Vua cũng thiêu hài cốt của những thầy tế lễ trên bàn thờ các thần ấy và dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

6 Trong các thành của bộ tộc Ma-na-se, Ép-ra-im và Si-mê-ôn cho đến Nép-ta-li, và các nơi đổ nát quanh chúng,

7 vua phá hủy các bàn thờ và nghiền nát ra bụi những tượng thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc, đánh đổ tất cả các bàn thờ xông hương trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên. Rồi vua trở về Giê-ru-sa-lem.

8 Vào năm thứ mười tám đời trị vì, sau khi đã dọn sạch xứ sở và đền thờ rồi, vua sai Sa-phan (con trai A-xa-lia), Ma-a-xê-gia (quan cai trị thành), và Giô-a (con trai Giô-a-cha, quan ngự sử) sửa sang đền thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

9 Các người ấy đến gặp thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, và giao cho người số bạc đã đem vào đền thờ Đức Chúa Trời, tức là số bạc mà người Lê-vi gác cổng đền thờ đã nhận từ tay người Ma-na-se, người Ép-ra-im và từ những người còn sót lại trong Y-sơ-ra-ên, cũng như từ Giu-đa, Bên-gia-min và dân cư thành Giê-ru-sa-lem.

10 Họ giao số bạc ấy cho những người coi sóc công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va. Những người nầy phát lại cho các thợ để tu bổ và sửa sang đền thờ;

11 tức là giao cho thợ mộc, thợ hồ để mua đá và gỗ làm kèo cột cho các gian nhà thuộc về đền thờ mà các vua Giu-đa đã để cho đổ nát.

12 Các thợ ấy đều làm công việc cách thành tâm. Những người Lê-vi quản đốc các thợ ấy là Gia-hát và Ô-ba-đia, thuộc dòng Mê-ra-ri; Xa-cha-ri và Mê-su-lam thuộc dòng Kê-hát cùng mấy người Lê-vi khác, tất cả đều sử dụng nhạc khí thành thạo.

13 Họ cũng quản đốc những phu khuân vác và chỉ huy mọi công nhân làm đủ thứ công việc. Trong số những người Lê-vi, có người làm thư ký, quan chức và người gác cổng.

14 Trong khi người ta đem ra số bạc đã dâng vào đền thờ Đức Giê-hô-va, thì thầy tế lễ Hinh-kia tìm được cuốn sách luật pháp của Đức Giê-hô-va do Môi-se truyền lại.

15 Hinh-kia nói với thư ký Sa-phan: “Tôi đã tìm được cuốn sách luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va.” Rồi Hinh-kia trao sách ấy cho Sa-phan.

16 Sa-phan đem cuốn sách trình cho vua và tâu: “Các đầy tớ bệ hạ đang thực hiện mọi việc được giao.

17 Họ đã lấy hết số bạc có trong đền thờ Đức Giê-hô-va giao cho các đốc công và công nhân.”

18 Thư ký Sa-phan lại tâu với vua: “Thầy tế lễ Hinh-kia có trao cho tôi một cuốn sách.” Rồi Sa-phan đọc sách ấy trước mặt vua.

19 Khi nghe các lời trong sách luật pháp, vua liền xé áo mình.

20 Vua truyền lệnh cho Hinh-kia, A-hi-cam con của Sa-phan, Áp-đôn con của Mi-ca, thư ký Sa-phan và quan cận thần của vua là A-sa-gia:

21 “Hãy vì ta và vì những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa mà đi cầu hỏi Đức Giê-hô-va về các lời trong sách đã tìm lại được. Vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đang giáng trên chúng ta thật lớn, bởi các tổ phụ chúng ta không tuân giữ lời phán của Đức Giê-hô-va và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách nầy.”

22 Hinh-kia và những người vua đã chỉ định, đến gặp nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con của Tô-cát, cháu Hát-ra. Bà ấy ở quận hai của thành Giê-ru-sa-lem. Họ nói cho bà những lời vua truyền.

23 Bà nói với họ: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Hãy nói với người đã sai các ngươi đến cùng Ta rằng

24 Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ khiến các tai họa giáng trên chỗ nầy và trên cư dân của nó theo như tất cả những lời nguyền rủa đã chép trong sách mà người ta đọc trước mặt vua Giu-đa.

25 Vì chúng đã lìa bỏ Ta mà xông hương cho các tà thần, lấy mọi thứ do tay chúng làm ra mà chọc giận Ta, nên cơn thịnh nộ của Ta sẽ đổ ra trên chỗ nầy không ngớt.’

26 Còn vua Giu-đa, người đã sai các ngươi cầu hỏi Đức Giê-hô-va, thì các ngươi hãy nói với người rằng, đây là lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán liên quan đến những gì người đã nghe:

27 ‘Khi con nghe lời Ta phán chống lại chỗ nầy và dân cư nó thì con có lòng mềm mại hạ mình xuống trước mặt Ta, xé áo và khóc lóc trước mặt Ta, nên Ta cũng đã nghe con; Đức Giê-hô-va phán vậy.

28 Nầy, Ta sẽ cho con sum họp cùng các tổ phụ; con sẽ qua đời bình an và mắt con sẽ không thấy các tai họa mà Ta sắp đổ xuống chỗ nầy cùng dân cư nó.’” Họ về tâu lại cho vua những lời ấy.

29 Vua sai người tập hợp tất cả các trưởng lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem lại.

30 Rồi vua cùng với tất cả người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ, người Lê-vi và toàn dân từ nhỏ đến lớn, đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va. Vua đọc cho họ nghe những lời của sách giao ước đã tìm được trong đền thờ Đức Giê-hô-va.

31 Vua đứng trên bục dành cho mình và lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa nguyện đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết ý tuân giữ các điều răn, chứng ước và luật lệ của Ngài, để làm trọn lời giao ước đã ghi chép trong sách ấy.

32 Vua cũng truyền cho những người ở Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min tuân theo giao ước ấy. Vậy, dân cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo giao ước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.

33 Giô-si-a loại bỏ tất cả những điều ghê tởm khỏi đất nước Y-sơ-ra-ên và khiến mọi người trong nước Y-sơ-ra-ên phải phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Trọn đời Giô-si-a, họ luôn theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, không lìa bỏ Ngài.

35

1 Giô-si-a giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem. Người ta giết sinh tế làm lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng giêng.

2 Vua phân công cho các thầy tế lễ và khích lệ họ phục vụ đền thờ Đức Giê-hô-va.

3 Vua bảo những người Lê-vi đang dạy dỗ toàn dân Y-sơ-ra-ên và đã biệt mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va rằng: “Hãy để Hòm Giao Ước Thánh trong đền thờ mà vua Y-sơ-ra-ên là Sa-lô-môn, con của Đa-vít, đã xây cất. Các ngươi không còn phải khiêng Hòm Giao Ước ấy trên vai nữa. Bây giờ, hãy phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

4 Các ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng theo từng tông tộc và phân ban của mình, chiếu theo chỉ thị của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, và con vua là Sa-lô-môn.

5 Rồi hãy đứng trong nơi thánh theo thứ tự tông tộc của anh em các ngươi là dân Y-sơ-ra-ên và theo thứ tự tông tộc của người Lê-vi.

6 Các ngươi hãy giết sinh tế làm lễ Vượt Qua, biệt mình ra thánh và chuẩn bị lễ Vượt Qua cho anh em các ngươi, để thực hiện đúng như lời của Đức Giê-hô-va dùng Môi-se truyền phán.”

7 Vua Giô-si-a bắt trong các bầy súc vật của mình cấp cho dân chúng ba mươi nghìn chiên con và dê con, cùng ba nghìn con bò đực dùng trong lễ Vượt Qua cho tất cả những người có mặt tại đó; các súc vật ấy đều lấy trong tài sản của vua.

8 Các quan chức của vua cũng tự nguyện cung cấp súc vật cho dân chúng, cho thầy tế lễ và người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri và Giê-hi-ên, là những người cai quản đền thờ Đức Chúa Trời, cấp cho các thầy tế lễ hai nghìn sáu trăm con chiên để dùng cho lễ Vượt Qua, và ba trăm con bò.

9 Cô-na-nia và các anh em ông là Sê-ma-gia và Na-tha-na-ên, cùng với Ha-sa-bia, Giê-i-ên và Giô-xa-bát, là các thủ lĩnh của người Lê-vi, cung cấp cho người Lê-vi năm nghìn con chiên để dùng cho lễ Vượt Qua, và năm trăm con bò.

10 Khi mọi việc được chuẩn bị xong, các thầy tế lễ đều đứng theo vị trí của mình, và người Lê-vi cứ theo phân ban của mình mà phục vụ, đúng theo lệnh của vua.

11 Người Lê-vi giết sinh tế làm lễ Vượt Qua, và các thầy tế lễ nhận lấy máu từ tay họ mà rảy, còn người Lê-vi thì lột da sinh tế.

12 Họ chia phần các tế lễ thiêu, phân phát cho dân chúng theo từng tông tộc để họ dâng cho Đức Giê-hô-va, đúng như điều đã chép trong sách của Môi-se. Họ cũng làm như vậy với các con bò đực.

13 Họ theo luật định mà quay thịt sinh tế làm lễ Vượt Qua, còn các vật thánh khác thì nấu trong nồi, vạc và chảo, rồi hối hả đem phân phát cho mọi người.

14 Sau đó, họ mới dọn phần cho mình và cho các thầy tế lễ, vì các thầy tế lễ là con cháu A-rôn đều bận dâng tế lễ thiêu và mỡ cho đến chiều tối. Như thế, người Lê-vi dọn cho mình và cho các thầy tế lễ là con cháu của A-rôn.

15 Những người ca hát là con cháu của A-sáp đều ở tại chỗ mình theo như Đa-vít, A-sáp, Hê-man và nhà tiên kiến của vua là Giê-đu-thun, đã quy định. Những người giữ cổng đều ở tại mỗi cổng, không cần rời khỏi công việc mình vì anh em của họ là người Lê-vi đã chuẩn bị phần cho họ.

16 Thế là hôm ấy, theo lệnh của Giô-si-a, tất cả mọi việc đều chuẩn bị xong cho sự thờ phượng Đức Giê-hô-va trong lễ Vượt Qua, và dâng các tế lễ thiêu trên bàn thờ Đức Giê-hô-va.

17 Trong dịp nầy, những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đều giữ lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men trong bảy ngày.

18 Từ thời nhà tiên tri Sa-mu-ên đến nay, trong Y-sơ-ra-ên chưa có lễ Vượt Qua nào được cử hành như thế, cũng chẳng có vua nào trong các vua Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt Qua giống như lễ Vượt Qua mà Giô-si-a cùng với các thầy tế lễ, người Lê-vi, toàn dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đã giữ.

19 Người ta giữ lễ Vượt Qua nầy nhằm năm thứ mười tám đời trị vì của vua Giô-si-a.

20 Sau khi Giô-si-a đã hoàn tất việc tái lập sự thờ phượng nơi đền thờ thì Nê-cô, vua Ai Cập, đem quân lên tấn công Cạt-kê-mít bên bờ sông Ơ-phơ-rát. Giô-si-a kéo quân ra chống cự.

21 Nê-cô sai sứ giả đến nói với Giô-si-a: “Nầy vua Giu-đa, tôi với vua có vấn đề gì đâu? Hôm nay tôi tiến quân chẳng phải để tấn công vua đâu, nhưng tấn công kẻ thù của tôi. Đức Chúa Trời đã phán bảo tôi nhanh chóng làm điều nầy. Vậy, đừng chống lại Đức Chúa Trời là Đấng đang ở cùng tôi, kẻo Ngài sẽ hủy diệt vua chăng!”

22 Nhưng Giô-si-a không chịu rút quân. Vua không chịu nghe lời Đức Chúa Trời dùng Nê-cô nói ra mà lại cải trang để nghênh chiến với vua Ai Cập tại thung lũng Mê-ghi-đô.

23 Các xạ thủ Ai Cập bắn tên trúng vua Giô-si-a. Vua nói với các thuộc hạ: “Hãy đem ta ra khỏi đây vì ta bị thương nặng.”

24 Các thuộc hạ đem vua khỏi chiến xa và chuyển qua một chiến xa khác rồi đưa vua về Giê-ru-sa-lem. Vua qua đời và được an táng trong phần mộ của tổ phụ vua. Cả xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem đều khóc thương Giô-si-a.

25 Giê-rê-mi viết bài ai ca về Giô-si-a. Cho đến ngày nay, các nam nữ ca sĩ vẫn còn hát bài ai ca về Giô-si-a, và nó trở thành một thông lệ trong Y-sơ-ra-ên; các việc ấy được chép trong sách Ai Ca.

26 Các việc khác của Giô-si-a, những việc thiện vua làm đúng như đã được chép trong sách luật pháp của Đức Giê-hô-va,

27 các việc ấy, từ đầu đến cuối, đã ghi chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.

36

1 Dân chúng trong xứ lập Giô-a-cha, con trai Giô-si-a, làm vua thay thế vua cha tại Giê-ru-sa-lem.

2 Giô-a-cha lên ngôi vua khi được hai mươi ba tuổi, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem.

3 Vua Ai Cập truất ngôi Giô-a-cha tại Giê-ru-sa-lem, và bắt xứ Giu-đa cống nạp ba tấn bạc và ba mươi ký vàng.

4 Sau đó, vua Ai Cập lập em Giô-a-cha là Ê-li-a-kim làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, rồi đổi tên là Giê-hô-gia-kim. Vua Nê-cô bắt Giô-a-cha, anh của Giê-hô-gia-kim, đem về Ai Cập.

5 Giê-hô-gia-kim lên ngôi vua khi được hai mươi lăm tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua.

6 Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, lên tấn công vua Giu-đa, xiềng vua bằng xích đồng và giải về Ba-by-lôn.

7 Nê-bu-cát-nết-sa cũng lấy những vật dụng của đền thờ Đức Giê-hô-va đem về Ba-by-lôn, rồi để vào miếu thờ tại Ba-by-lôn.

8 Các việc khác của Giê-hô-gia-kim, những việc ghê tởm mà vua đã làm, và các việc có liên quan đến vua, tất cả đều được chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Giê-hô-gia-kin, con vua, lên ngôi kế vị.

9 Giê-hô-gia-kin lên ngôi vua khi được mười tám tuổi, và cai trị ba tháng mười ngày tại Giê-ru-sa-lem. Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.

10 Vào đầu năm, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai người bắt giải Giê-hô-gia-kin về Ba-by-lôn cùng với các vật dụng quý giá của đền thờ Đức Giê-hô-va, rồi lập em của vua là Sê-đê-kia làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

11 Sê-đê-kia lên ngôi vua khi được hai mươi mốt tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem.

12 Vua làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua và không hạ mình xuống trước mặt Giê-rê-mi là nhà tiên tri đã nói lời Đức Giê-hô-va cho vua.

13 Vua cũng nổi lên chống lại vua Nê-bu-cát-nết-sa là người đã buộc vua nhân danh Đức Chúa Trời mà thề. Vua trở nên cứng cổ rắn lòng, không chịu quay về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

14 Hơn nữa, tất cả những người lãnh đạo của các thầy tế lễ và toàn dân ngày càng bất trung, làm mọi điều ghê tởm như các dân chung quanh đã làm. Họ làm ô uế đền thờ Đức Giê-hô-va mà Ngài đã biệt riêng ra thánh tại Giê-ru-sa-lem.

15 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ vì thương xót dân Ngài và nơi ngự của Ngài nên vẫn thường sai sứ giả đến với họ.

16 Nhưng họ nhạo báng sứ giả của Đức Chúa Trời, xem thường lời Chúa và chế nhạo các nhà tiên tri của Ngài, cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân Ngài, vô phương cứu chữa.

17 Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến vua Canh-đê lên tấn công họ, dùng gươm giết các thanh niên ngay tại đền thánh của họ, chẳng chút xót thương, bất kể thanh niên thiếu nữ, người già cả hay là kẻ yếu sức. Ngài phó tất cả vào tay vua Canh-đê.

18 Toàn bộ các vật dụng lớn nhỏ của đền thờ Đức Chúa Trời, các kho báu của đền thờ Đức Giê-hô-va, của vua và các quan chức, tất cả đều bị đem qua Ba-by-lôn.

19 Chúng đốt đền thờ Đức Chúa Trời, triệt hạ tường thành Giê-ru-sa-lem, lấy lửa đốt các cung điện và phá hủy các vật dụng quý giá trong thành.

20 Những ai còn sót lại không bị giết bằng gươm đều bị bắt đày sang Ba-by-lôn, và họ trở thành nô lệ cho vua và con cháu của vua, cho đến thời vương quốc Ba Tư cai trị.

21 Thế là ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng Giê-rê-mi rằng, đất được hưởng bù các năm sa-bát của nó. Suốt thời gian bị bỏ hoang, đất được nghỉ ngơi cho đến khi trọn bảy mươi năm.

22 Vào năm thứ nhất đời trị vì của Si-ru, vua Ba Tư, để làm ứng nghiệm lời Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng Giê-rê-mi, Đức Giê-hô-va tác động tâm trí Si-ru, vua Ba Tư, khiến vua ra chiếu chỉ và công bố khắp đế quốc rằng:

23 “Si-ru, vua Ba Tư tuyên bố như sau: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời trên trời đã ban cho ta tất cả các vương quốc trần gian; chính Ngài bảo ta xây cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, thuộc xứ Giu-đa. Vậy, ai trong các ngươi là dân của Ngài hãy trở lên Giê-ru-sa-lem. Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở cùng người ấy!’”