1

1 A-đam sinh Sết, Sết sinh Ê-nót;

2 Ê-nót sinh Kê-nan, Kê-nan sinh Ma-ha-la-le, Ma-ha-la-le sinh Giê-rệt;

3 Giê-rệt sinh Hê-nóc, Hê-nóc sinh Mê-tu-sê-la, Mê-tu-sê-la sinh Lê-méc;

4 Lê-méc sinh Nô-ê, Nô-ê sinh Sem, Cham và Gia-phết.

5 Các con của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra.

6 Các con của Gô-me là Ách-kê-na, Đi-phát, và Tô-ga-ma.

7 Các con của Gia-van là Ê-li-sa, Ta-rê-si, Kít-tim, và Rô-đa-nim.

8 Các con của Cham là Cút, Mích-ra-im, Phút, và Ca-na-an.

9 Các con của Cút là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma, và Sáp-tê-ca. Các con của Ra-ê-ma là Sê-ba, và Đê-đan.

10 Cút sinh Nim-rốt, người anh hùng đầu tiên trên mặt đất.

11 Mích-ra-im sinh ra dân Lu-đim, A-na-mim, Lê-ha-bim, Náp-tu-him,

12 Phát-ru-sim, Cách-lu-him (là tổ phụ của dân Phi-li-tin), và dân Cáp-tô-rim.

13 Ca-na-an sinh Si-đôn, là trưởng nam, rồi sinh Hếch,

14 và dân Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-rê-ga-sít,

15 Hê-vít, A-rê-kít, Si-nít,

16 A-va-đít, Xê-ma-rít, và Ha-ma-tít.

17 Các con của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-pác-sát, Lút, A-ram, Út-xơ, Hu-lơ, Ghê-te, và Mê-siếc.

18 A-pác-sát sinh Sê-lách; Sê-lách sinh Hê-be.

19 Hê-be sinh được hai người con: Người thứ nhất tên là Pê-léc; vì vào thời đó, đất đã bị phân chia; còn người em tên là Giốc-tan.

20 Giốc-tan sinh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết, Giê-rách,

21 Ha-đô-ram, U-xa, Điếc-la,

22 Ê-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,

23 Ô-phia, Ha-vi-la, và Giô-báp. Tất cả những người đó đều là con của Giốc-tan.

24 Sem sinh A-pác-sát, A-pác-sát sinh Sê-lách,

25 Sê-lách sinh Hê-be, Hê-be sinh Pê-léc, Pê-léc sinh Rê-hu,

26 Rê-hu sinh Sê-rúc, Sê-rúc sinh Na-cô, Na-cô sinh Tha-rê,

27 Tha-rê sinh Áp-ram, về sau gọi là Áp-ra-ham.

28 Các con của Áp-ra-ham là Y-sác và Ích-ma-ên.

29 Đây là dòng dõi của họ: Con trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-ba-giốt; kế đến là: Kê-đa, Át-bê-ên, Mi-bô-sam,

30 Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa, Ha-đát, Thê-ma,

31 Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma. Đó là các con trai của Ích-ma-ên.

32 Kê-tu-ra, vợ lẽ của Áp-ra-ham, sinh các con trai là Xim-ram, Giốc-san, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác, và Su-ách. Giốc-san sinh Sê-ba, và Đê-đan.

33 Các con của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa, và Ên-đa. Tất cả những người nầy đều là con cháu của Kê-tu-ra.

34 Áp-ra-ham sinh Y-sác. Các con của Y-sác là Ê-sau và Y-sơ-ra-ên.

35 Các con của Ê-sau là Ê-li-pha, Rê-u-ên, Giê-úc, Gia-lam, và Cô-ra.

36 Các con của Ê-li-pha là Thê-man, Ô-ma, Xê-phi, Ga-tham, Kê-na, Thim-na, và A-ma-léc.

37 Các con của Rê-u-ên là Na-hát, Xê-rách, Sam-ma, và Mích-xa.

38 Các con của Sê-i-rơ là Lô-than, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na, Đi-sôn, Ét-xe, và Đi-san.

39 Các con của Lô-than là Hô-ri và Hô-man; còn Thim-na là em gái của Lô-than.

40 Các con của Sô-banh là A-li-an, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phi, và Ô-nam. Các con của Xi-bê-ôn là Ai-gia và A-na.

41 Con của A-na là Đi-sôn. Các con của Đi-sôn là Ham-ran, Ếch-ban, Dít-ran, và Kê-ran.

42 Các con của Ét-xe là Binh-han, Xa-van, và Gia-a-can. Các con của Đi-san là Út-xơ, và A-ran.

43 Trước khi dân Y-sơ-ra-ên có vua cai trị, đây là các vua trị vì xứ Ê-đôm: Bê-la, con của Bê-ô; kinh đô là Đin-ha-ba.

44 Khi Bê-la chết, Giô-báp, con của Xê-rách, người Bốt-ra, lên kế vị.

45 Khi Giô-báp chết, Hu-sam, người xứ Thê-man, lên kế vị.

46 Khi Hu-sam chết, Ha-đát, con của Bê-đát, lên kế vị; chính vua nầy đã đánh bại dân Ma-đi-an trong cánh đồng xứ Mô-áp; kinh đô là A-vít.

47 Khi Ha-đát chết, Sam-la, người Ma-rê-ca, lên kế vị.

48 Khi Sam-la chết, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt thuộc vùng sông Ơ-phơ-rát, lên kế vị.

49 Khi Sau-lơ chết, Ba-anh Ha-nan, con của Ạc-bồ, lên kế vị.

50 Khi Ba-anh Ha-nan chết, Ha-đát lên kế vị; kinh đô là Pha-i; vợ vua tên là Mê-hê-ta-bê-ên, con gái của Mát-rết, cháu ngoại Mê-xa-háp.

51 Sau đó, Ha-đát cũng chết. Ê-đôm có các tộc trưởng là: Thim-na, A-li-a, Giê-tết,

52 Ô-hô-li-ba-ma, Ê-la, Phi-nôn,

53 Kê-na, Thê-man, Mép-xa,

54 Mác-đi-ên, và Y-ram. Đó là các tộc trưởng của Ê-đôm.

2

1 Đây là các con trai của Y-sơ-ra-ên: Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn,

2 Đan, Giô-sép, Bên-gia-min, Nép-ta-li, Gát, và A-se.

3 Các con của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, và Sê-la. Cả ba người nầy đều do Bát Su-a, người Ca-na-an, sinh cho Giu-đa. Ê-rơ, con trưởng nam của Giu-đa, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, nên Ngài khiến cho Ê-rơ chết.

4 Ta-ma, là dâu của Giu-đa, sinh cho ông: Phê-rết và Xê-rách. Như vậy, Giu-đa có tất cả năm người con.

5 Các con của Phê-rết là Hết-rôn và Ha-mun.

6 Các con của Xê-rách là Xim-ri, Ê-than, Hê-man, Canh-côn, và Đa-ra; tất cả là năm người.

7 Con của Cạt-mi là A-ca, là kẻ gây tai họa cho Y-sơ-ra-ên, vì đã lấy vật nghiêm cấm.

8 Con của Ê-than là A-xa-ria.

9 Các con sinh cho Hết-rôn là: Giê-rác-mê-ên, Ram, và Kê-lu-bai.

10 Ram sinh A-mi-na-đáp, A-mi-na-đáp sinh Na-ha-sôn, là một thủ lĩnh của người Giu-đa.

11 Na-ha-sôn sinh Sanh-ma, Sanh-ma sinh Bô-ô,

12 Bô-ô sinh Ô-bết, Ô-bết sinh Gie-sê.

13 Gie-sê sinh con đầu lòng là Ê-li-áp, con thứ nhì là A-bi-na-đáp, con thứ ba là Si-mê-a,

14 con thứ tư là Na-tha-na-ên, con thứ năm là Ra-đai,

15 con thứ sáu là Ô-xem, con thứ bảy là Đa-vít.

16 Còn Xê-ru-gia và A-bi-ga-in là chị em của những người ấy. Xê-ru-gia có ba người con là A-bi-sai, Giô-áp, và A-sa-ên.

17 A-bi-ga-in sinh A-ma-sa; cha của A-ma-sa là Giê-the, người Ích-ma-ên.

18 Ca-lép, con của Hết-rôn, lấy vợ là A-xu-ba và Giê-ri-ốt; sinh các con là Giê-se, Sô-báp, và Ạt-đôn.

19 Khi A-xu-ba qua đời, Ca-lép lấy Ê-phơ-rát; bà nầy sinh cho ông một người con tên Hu-rơ.

20 Hu-rơ sinh U-ri, U-ri sinh Bết-sa-lê-ên.

21 Sau đó, khi Hết-rôn đã được sáu mươi tuổi thì cưới con gái của Ma-ki là cha của Ga-la-át; ông ăn ở với nàng và sinh được Sê-gúp.

22 Sê-gúp sinh Giai-rơ, là người có hai mươi ba thành trong xứ Ga-la-át.

23 Dân Ghê-su-rơ và dân Sy-ri chiếm các thành Giai-rơ và Kê-nát, cùng với các vùng phụ cận gồm sáu mươi thành. Tất cả những người ấy đều là con cháu Ma-ki, cha của Ga-la-át.

24 Sau khi Hết-rôn qua đời tại Ca-lép Ép-ra-ta, vợ của Hết-rôn là A-bi-gia sinh cho ông một người con là A-su-rơ, cha của Thê-cô-a.

25 Giê-rác-mê-ên, con trưởng nam của Hết-rôn, sinh Ram là con đầu lòng, kế đến là Bu-na, Ô-ren, Ô-xem, và A-hi-gia.

26 Giê-rác-mê-ên lại lấy vợ khác, tên là A-ta-ra, mẹ của Ô-nam.

27 Các con của Ram, con trưởng nam của Giê-rác-mê-ên, là Ma-ách, Gia-min, và Ê-ke.

28 Các con của Ô-nam là Sa-mai và Gia-đa. Các con của Sa-mai, là Na-đáp và A-bi-su.

29 Vợ của A-bi-su tên là A-bi-hai, nàng sinh cho ông ấy hai con trai là Ạc-ban và Mô-lít.

30 Các con của Na-đáp là Sê-le và Áp-pa-im. Nhưng Sê-le qua đời, không có con.

31 Con của Áp-pa-im là Di-si. Con của Di-si là Sê-san. Con của Sê-san là Ạc-lai.

32 Các con của Gia-đa, em Sa-mai, là Giê-the và Giô-na-than; Giê-the qua đời, không có con.

33 Các con của Giô-na-than là Phê-lết và Xa-xa. Đó là con cháu của Giê-rác-mê-ên.

34 Sê-san không có con trai, chỉ có con gái; ông cũng có một người đầy tớ Ai Cập, tên là Gia-ra.

35 Sê-san gả con gái mình cho người đầy tớ ấy, và nàng sinh Ạt-tai.

36 Ạt-tai sinh Na-than, Na-than sinh Xa-bát,

37 Xa-bát sinh Ép-la, Ép-la sinh Ô-bết,

38 Ô-bết sinh Giê-hu, Giê-hu sinh A-xa-ria,

39 A-xa-ria sinh Hê-lết, Hê-lết sinh Ê-la-xa,

40 Ê-la-xa sinh Sít-mai, Sít-mai sinh Sa-lum,

41 Sa-lum sinh Giê-ca-mia, Giê-ca-mia sinh Ê-li-sa-ma.

42 Các con của Ca-lép, em của Giê-rác-mê-ên, là Mê-sa, con trưởng nam, tổ phụ của Xíp, và Ma-rê-sa, tổ phụ của Hếp-rôn.

43 Các con của Hếp-rôn là Cô-ra, Táp-bua, Rê-kem, và Sê-ma.

44 Sê-ma sinh Ra-cham, tổ phụ của Giô-kê-am; còn Rê-kem sinh Sa-mai.

45 Con của Sa-mai là Ma-ôn; Ma-ôn là tổ phụ của Bết-sua.

46 Ê-pha, nàng hầu của Ca-lép, sinh Ha-ran, Một-sa, và Ga-xe. Ha-ran sinh và đặt tên con trai theo tên em mình là Ga-xe.

47 Các con của Gia-đai là Rê-ghem, Giô-than, Ghê-san, Phê-lết, Ê-pha, và Sa-áp.

48 Một nàng hầu khác của Ca-lép là Ma-a-ca sinh Sê-be và Ti-ra-na.

49 Nàng cũng sinh Sa-áp là tổ phụ của Mát-ma-na, và Sê-va là tổ phụ của Mác-bê-na và Ghi-bê-a. Con gái Ca-lép là Ạc-sa.

50 Đây là những con cháu của Ca-lép: Hu-rơ, con trưởng nam của Ê-phơ-rát, sinh các con trai: Sô-banh là người sáng lập Ki-ri-át Giê-a-rim,

51 Sanh-ma là người sáng lập Bết-lê-hem, Ha-rép là người sáng lập Bết Ga-đe.

52 Sô-banh là người sáng lập Ki-ri-át Giê-a-rim có con cháu là Ha-rô-ê và một nửa dân Mê-nu-hốt.

53 Các dòng dõi tại Ki-ri-át Giê-a-rim là dân Dít-rít, Phu-tít, Su-ma-tít, và Mích-ra-ít; cũng bởi những dòng dõi ấy mà có các dân Xô-ra-tít và Ếch-tao-lít.

54 Con cháu của Sanh-ma tại Bết-lê-hem là dân Nê-tô-pha-tít, dân Ạt-rốt Bết Giô-áp, một nửa dân Ma-na-ha-tít, và dân Xô-rít.

55 Các gia tộc của những người chép kinh ở Gia-bết là gia tộc Ti-ra-tít, gia tộc Si-ma-tít, và gia tộc Su-ca-tít. Đó là dân Kê-nít, dòng dõi của Ha-mát, tổ tiên của nhà Rê-cáp.

3

1 Đây là các con của vua Đa-vít sinh tại Hếp-rôn: Con trưởng nam là Am-nôn con của A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên; con thứ nhì là Đa-ni-ên con của A-bi-ga-in, người Cạt-mên;

2 con thứ ba là Áp-sa-lôm, con của Ma-a-ca, con gái của Thanh-mai, vua xứ Ghê-su-rơ; con thứ tư là A-đô-ni-gia, con của Ha-ghít;

3 con thứ năm là Sê-pha-tia, con của A-bi-tanh; con thứ sáu là Dít-rê-am, con của Éc-la, vợ Đa-vít.

4 Sáu người con nầy sinh tại Hếp-rôn, nơi Đa-vít trị vì bảy năm sáu tháng. Còn tại Giê-ru-sa-lem, Đa-vít trị vì ba mươi ba năm.

5 Đây là các con của Đa-vít sinh tại Giê-ru-sa-lem: Si-mê-a, Sô-báp, Na-than, và Sa-lô-môn; bốn người con nầy đều do bà Bát Sê-ba, con gái của A-mi-ên, sinh cho Đa-vít.

6 Ngoài ra Đa-vít còn có các con trai khác là Díp-kha, Ê-li-sua, Ê-li-phê-lết,

7 Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia,

8 Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa, và Ê-li-phê-lết; tất cả là chín người.

9 Đó là các con trai của Đa-vít, chưa kể các con trai của những cung phi; và Ta-ma là chị em của họ.

10 Con của Sa-lô-môn là Rô-bô-am, con của Rô-bô-am là A-bi-gia, con của A-bi-gia là A-sa, con của A-sa là Giô-sa-phát,

11 con của Giô-sa-phát là Giô-ram, con của Giô-ram là A-cha-xia, con của A-cha-xia là Giô-ách,

12 con của Giô-ách là A-ma-xia, con của A-ma-xia là A-xa-ria, con của A-xa-ria là Giô-tham,

13 con của Giô-tham là A-cha, con của A-cha là Ê-xê-chia, con của Ê-xê-chia là Ma-na-se,

14 con của Ma-na-se là A-môn, con của A-môn là Giô-si-a.

15 Các con của Giô-si-a: Con trưởng nam là Giô-ha-nan, con thứ nhì là Giê-hô-gia-kim, con thứ ba là Sê-đê-kia, con thứ tư là Sa-lum.

16 Các con của Giê-hô-gia-kim là Giê-chô-nia và Sê-đê-kia.

17 Các con của Giê-chô-nia, người bị lưu đày, là: Sa-anh-thi-ên,

18 Manh-ki-ram, Phê-đa-gia, Sê-na-xa, Giê-ca-mia, Hô-sa-ma, và Nê-đa-bia.

19 Các con của Phê-đa-gia là Xô-rô-ba-bên và Si-mê-i. Các con của Xô-rô-ba-bên là Mê-su-lam và Ha-na-nia; còn Sê-lô-mít là chị em của họ.

20 Cũng có các người con khác là Ha-su-ba, Ô-hên, Bê-rê-kia, Ha-sa-đia, Du-sáp Hê-sết; tất cả là năm người.

21 Các con của Ha-na-nia là Phê-la-tia và Ê-sai; cũng có các con của Rê-pha-gia, Ạc-nan, Ô-ba-đia, và Sê-ca-nia.

22 Con của Sê-ca-nia là Sê-ma-gia. Các con của Sê-ma-gia là: Hát-túc, Di-ganh, Ba-ria, Nê-a-ria, và Sa-phát; tất cả là sáu người.

23 Các con của Nê-a-ria là: Ê-li-ô-ê-nai, Ê-xê-chia, và A-ri-kham; tất cả là ba người.

24 Các con của Ê-li-ô-ê-nai là: Hô-đa-via, Ê-li-a-síp, Phê-la-gia, A-cúp, Giô-ha-nan, Đê-la-gia, và A-na-ni; tất cả là bảy người.

4

1 Các con của Giu-đa là: Phê-rết, Hết-rôn, Cạt-mi, Hu-rơ và Sô-banh.

2 Rê-a-gia, con trai Sô-banh, sinh Gia-hát; Gia-hát sinh A-hu-mai và La-hát. Đó là các gia tộc của dân Xô-ra-tít.

3 Đây là những người sáng lập Ê-tam: Gít-rê-ên, Dít-ma và Dít-bát; em gái của họ là Ha-sê-lê-pô-ni.

4 Lại có Phê-nu-ên, người sáng lập Ghê-đô, và Ê-xe, người sáng lập Hu-sa. Đó là con cháu của Hu-rơ, con trưởng nam của Ê-phơ-rát, người sáng lập Bết-lê-hem.

5 A-su-rơ, người sáng lập Thê-cô-a, lấy hai vợ là Hê-lê-a và Na-a-ra.

6 Na-a-ra sinh A-hu-xam, Hê-phe, Thê-mê-ni, và A-hách-tha-ri. Đó là các con của Na-a-ra.

7 Các con của Hê-lê-a là: Xê-rết, Dít-sê-ha, và Ết-nan.

8 Cốt sinh A-núp, Hát-xô-bê-ba, và gia-tộc A-ha-hên, con Ha-rum.

9 Gia-bê được tôn trọng hơn anh em mình; mẹ ông đặt tên là Gia-bê, vì nói rằng: “Ta sinh nó trong sự đau đớn.”

10 Gia-bê khấn nguyện với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên rằng: “Ôi, xin Chúa ban phước dồi dào cho con, mở rộng bờ cõi con. Nguyện tay Chúa phù hộ con, giữ con khỏi mọi điều ác, để con thoát cơn khốn khổ!” Đức Chúa Trời ban cho đúng như điều ông cầu xin.

11 Kê-lúp, anh em của Su-ha, sinh Mê-hia, tổ phụ của Ê-tôn.

12 Ê-tôn sinh Bết Ra-pha, Pha-sê-a, và Tê-hi-na, tổ tiên của dân thành Na-hách. Đó là những người sống trong thành Rê-ca.

13 Các con của Kê-na là Ốt-ni-ên và Sê-ra-gia. Con trai của Ốt-ni-ên là Ha-thát.

14 Mê-ô-nô-thai sinh Óp-ra; Sê-ra-gia sinh Giô-áp là người sáng lập Ghê Kha-ra-sim vì dân ở đây đều là thợ thủ công.

15 Các con của Ca-lép, cháu của Giê-phu-nê, là: Y-ru, Ê-la, và Na-am, cùng những con trai của Ê-la và Kê-na.

16 Các con của Giê-ha-lê-le là Xíp, Xi-pha, Thi-ria, và A-sa-rên.

17 Các con của E-xơ-ra là Giê-the, Mê-rết, Ê-phe, và Gia-lôn. Vợ của Mê-rết sinh Mi-ri-am, Sa-mai, và Dít-bác, người sáng lập Ếch-tê-mô-a.

18 Vợ khác của ông là người Giu-đa sinh Giê-rệt, người sáng lập Ghê-đô, Hê-be, người sáng lập Sô-cô, và Giê-cu-ti-ên, người sáng lập Xa-nô-a. Đó là con cháu của Bi-thia, con gái của Pha-ra-ôn, mà Mê-rết đã cưới.

19 Các con của vợ Hô-đia, em gái Na-ham, là người sáng lập Kê-hi-la của người Gạc-mít, và Ếch-tê-mô-a của người Ma-ca-thít.

20 Các con của Si-môn là Am-nôn, Ri-na, Bên Ha-nan, và Ti-lôn. Các con của Di-si là Xô-hết và Bên Xô-hết.

21 Dòng dõi của Sê-la, một trong các con trai Giu-đa, là: Ê-rơ, người sáng lập Lê-ca; La-ê-đa, người sáng lập Ma-rê-sa; và các gia tộc của nhà Ách-bê-a, là những thợ dệt vải gai;

22 Giô-kim, dân Cô-xê-ba, Giô-ách, Sa-ráp là người cai trị ở Mô-áp, và Gia-su-bi Lê-hem. Đó là điều ghi chép từ xưa.

23 Những người nầy là thợ gốm ở Nê-ta-im và Ghê-đê-ra; họ ở đó để làm việc cho vua.

24 Các con của Si-mê-ôn là Nê-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, Xê-rách, và Sau-lơ.

25 Con của Sau-lơ là Sa-lum, con của Sa-lum là Míp-sam, và con của Míp-sam là Mích-ma,

26 con của Mích-ma là Ham-mu-ên, con của Ham-mu-ên là Xa-cu, con của Xa-cu là Si-mê-i.

27 Si-mê-i có mười sáu con trai và sáu con gái, nhưng anh em của ông không có nhiều con; cả gia tộc của họ không đông bằng người Giu-đa.

28 Họ ở tại Bê-e Sê-ba, Mô-la-đa, Ha-xa Su-anh,

29 Bi-la, Ê-xem, Tô-lát,

30 Bê-tu-ên, Họt-ma, Xiếc-lác,

31 Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sim, Bết Bi-rê, và Sa-a-ra-im. Đó là các thành của họ cho đến đời vua Đa-vít.

32 Họ cũng có năm thị trấn là: Ê-tam, A-in, Rim-môn, Tô-ken, và A-san,

33 cùng các vùng phụ cận của năm thị trấn nầy cho đến thành Ba-anh. Đó là chỗ ở và gia phả của họ.

34 Mê-sô-báp, Giam-léc, Giô-sa, con của A-ma-xia;

35 Giô-ên và Giê-hu, con của Giô-xơ-bia, cháu Sê-ra-gia, chắt A-si-ên;

36 Ê-li-ô-ê-nai, Gia-cô-ba, Giê-sô-hai-gia, A-sa-gia, A-đi-ên, Giê-si-mi-ên, Bê-na-gia,

37 Xi-xa, con của Si-phi, cháu của A-lôn, chắt của Giê-đa-gia, chít của Sim-ri, là con trai của Sê-ma-gia.

38 Những người được kể đích danh ở trên là các trưởng gia tộc. Tông tộc của họ đã gia tăng rất nhiều.

39 Họ sang Ghê-đô, đến bên phía đông của thung lũng, để tìm đồng cỏ cho bầy súc vật của mình.

40 Họ tìm được đồng cỏ xanh tươi, đất đai rộng rãi, yên tịnh và an toàn; trước kia dòng dõi Cham sinh sống ở đó.

41 Trong đời Ê-xê-chia, vua nước Giu-đa, những người kể trên đã kéo đến đánh các trại quân của dòng dõi Cham và những người Ma-ô-nít ở đó, tận diệt chúng, chiếm lấy đất, và định cư thay vào đó cho đến ngày nay; vì tại đó có đồng cỏ để nuôi bầy súc vật của họ.

42 Về sau, trong dòng dõi Si-mê-ôn có năm trăm người tiến đến núi Sê-i-rơ; các người lãnh đạo họ là Phê-la-tia, Nê-a-ria, Rê-pha-gia, và U-xi-ên; đó là các con trai của Di-si.

43 Họ tiêu diệt những người A-ma-léc còn sót lại, rồi ở đó cho đến ngày nay.

5

1 Vì Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, làm ô uế giường của cha mình nên quyền con trưởng được trao cho các con của Giô-sép, là con trai Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông không được ghi vào gia phả như là con trưởng nam.

2 Dù Giu-đa trổi hơn anh em mình, và một nhà lãnh đạo sẽ từ nơi ông mà ra, nhưng quyền con trưởng vẫn thuộc về Giô-sép.

3 Đây là các con của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.

4 Con của Giô-ên là Sê-ma-gia, con của Sê-ma-gia là Gót, con của Gót là Si-mê-i,

5 con của Si-mê-i là Mi-ca, con của Mi-ca là Rê-a-gia, con của Rê-a-gia là Ba-anh,

6 con của Ba-anh là Bê-ê-ra, người bị Tiếc-lát Phin-nê-se, vua nước A-si-ri, bắt lưu đày. Bê-ê-ra là thủ lĩnh của người Ru-bên.

7 Anh em của Bê-ê-ra được chép vào gia phả theo gia tộc mình: Đứng đầu là Giê-i-ên, rồi đến Xa-cha-ri,

8 Bê-la, con của A-xa, cháu Sê-ma, chắt của Giô-ên; Bê-la ở tại A-rô-e cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn.

9 Về phía đông, ông chiếm đất từ lối vào hoang mạc đến tận sông Ơ-phơ-rát, vì trong xứ Ga-la-át bầy súc vật của họ gia tăng rất nhiều.

10 Trong thời vua Sau-lơ, họ đánh nhau với dân Ha-ga-rít, chiến thắng chúng, và chiếm các lều trại chúng trong khắp vùng phía đông xứ Ga-la-át.

11 Con cháu của Gát ở đối diện họ trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca.

12 Đứng đầu là Giô-ên, thứ đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát ở Ba-san.

13 Anh em theo gia tộc của họ có bảy người: Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be.

14 Đó là con cháu của A-bi-hai, A-bi-hai con của Hu-ri, Hu-ri con của Gia-rô-a, Gia-rô-a con của Ga-la-át, Ga-la-át con của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con của Giê-si-sai, Giê-si-sai con của Giác-đô, Giác-đô con của Bu-xơ.

15 A-hi con của Áp-đi-ên, Áp-đi-ên con của Gu-ni; A-hi làm trưởng gia tộc.

16 Họ ở Ga-la-át, Ba-san cùng các vùng phụ cận xứ ấy, và tất cả các đồng cỏ Sa-rôn cho đến ranh giới cuối cùng của nó.

17 Những người nầy đã được ghi vào gia phả trong thời vua Giô-tham nước Giu-đa, và trong thời vua Giê-rô-bô-am nước Y-sơ-ra-ên.

18 Trong con cháu bộ tộc Ru-bên, Gát và nửa bộ tộc Ma-na-se, số người khỏe mạnh, có thể cầm khiên, cầm gươm, giương cung, và thạo việc chiến đấu là bốn mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi người sẵn sàng ra trận.

19 Họ giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi, và dân Nô-đáp.

20 Trong khi giao chiến, họ kêu cầu Đức Chúa Trời, và vì họ có lòng tin cậy Ngài nên Ngài giúp đỡ họ, phó dân Ha-ga-rít và liên minh của chúng vào tay họ.

21 Họ bắt các bầy súc vật của chúng gồm: năm mươi nghìn lạc đà, hai trăm năm mươi nghìn chiên, hai nghìn lừa; họ cũng bắt một trăm nghìn tù binh.

22 Có nhiều người ngã chết, vì trận chiến nầy là do Đức Chúa Trời. Họ chiếm cứ đất dân ấy và ở đó cho đến khi bị bắt lưu đày.

23 Con cháu của nửa bộ tộc Ma-na-se ở trong vùng đất từ Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia, và núi Hẹt-môn; dân số họ rất đông.

24 Đây là các trưởng gia tộc trong dòng dõi họ: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Át-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via, và Giắc-đi-ên; họ là những dũng sĩ can trường và nổi danh.

25 Nhưng họ phạm tội với Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, và bán mình cho các thần của những dân tộc trong xứ mà Đức Chúa Trời đã hủy diệt trước mặt họ.

26 Vì thế, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã giục lòng Phun, vua nước A-si-ri, và Tiếc-la Phi-lê-se, cũng vua nước A-si-ri, đến bắt người của bộ tộc Ru-bên, Gát, và nửa bộ tộc Ma-na-se, đem họ đến Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, và miền gần sông Gô-xan, là nơi họ còn ở cho đến nay.

6

1 Các con của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.

2 Các con của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.

3 Các con của Am-ram là A-rôn, Môi-se và Mi-ri-am. Các con của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.

4 Ê-lê-a-sa sinh Phi-nê-a; Phi-nê-a sinh A-bi-sua;

5 A-bi-sua sinh Bu-ki, Bu-ki sinh U-xi;

6 U-xi sinh Xê-ra-hi-gia; Xê-ra-hi-gia sinh Mê-ra-giốt;

7 Mê-ra-giốt sinh A-ma-ria; A-ma-ria sinh A-hi-túp;

8 A-hi-túp sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-hi-ma-ách;

9 A-hi-ma-ách sinh A-xa-ria; A-xa-ria sinh Giô-ha-nan;

10 Giô-ha-nan sinh A-xa-ria, là người giữ chức tế lễ trong đền thờ mà vua Sa-lô-môn đã xây dựng tại Giê-ru-sa-lem.

11 A-xa-ria sinh A-ma-ria; A-ma-ria sinh A-hi-túp;

12 A-hi-túp sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh Sa-lum;

13 Sa-lum sinh Hinh-kia; Hinh-kia sinh A-xa-ria;

14 A-xa-ria sinh Sê-ta-gia; Sê-ra-gia sinh Giê-hô-xa-đác;

15 Giê-hô-xa-đác bị bắt lưu đày khi Đức Giê-hô-va dùng tay Nê-bu-cát-nết-sa bắt Giu-đa và Giê-ru-sa-lem dẫn đi.

16 Các con của Lê vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.

17 Đây là tên của các con trai Ghẹt-sôn: Líp-ni và Si-mê-i.

18 Các con của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.

19 Các con của Mê-ra-ri là Mách-li và Mu-si. Đó là các gia tộc người Lê-vi theo tổ phụ họ.

20 Con của Ghẹt-sôn là Líp-ni; con của Líp-ni là Gia-hát; con của Gia-hát là Xim-ma; con Xim-ma là Giô-a;

21 con của Giô-a là Y-đô; con của Y-đô là Xê-ra; con của Xê-ra là Giê-a-trai.

22 Con của Kê-hát là A-mi-na-đáp; con của A-mi-na-đáp là Cô-ra; con của Cô-ra là Át-si; con của Át-si là Ên-ca-na;

23 con của Ên-ca-na là Ê-bi-a-sáp; con của Ê-bi-a-sáp là Át-si;

24 con của Át-si là Ta-hát; con của Ta-hát là U-ri-ên; con của U-ri-ên là U-xi-gia; con của U-xi-gia là Sau-lơ.

25 Các con của Ên-ca-na là A-ma-xai và A-hi-mốt.

26 Con của A-hi-mốt là Ên-ca-na, Xô-phai, và Na-hát.

27 Con của Na-hát là Ê-li-áp; con của Ê-li-áp là Giê-rô-ham; con của Giê-rô-ham là Ên-ca-na.

28 Các con của Sa-mu-ên: Con trưởng nam là Va-sê-ni, con thứ hai là A-bi-gia.

29 Con của Mê-ra-ri là Mách-li; con của Mách-li là Líp-ni; con của Líp-ni là Si-mê-i; con của Si-mê-i là U-xa;

30 con của U-xa là Si-mê-a; con của Si-mê-a là Ha-ghi-gia; con của Ha-ghi-gia là A-sai-gia.

31 Vua Đa-vít chỉ định người lo việc ca hát trong đền thờ Đức Giê-hô-va, sau khi Hòm Giao Ước đã để yên tại đó.

32 Họ phục vụ việc ca hát trước Đền Tạm cho đến khi vua Sa-lô-môn xây cất xong đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem; họ cứ theo phiên thứ mình mà làm việc.

33 Đây là những người phục vụ cùng với con cháu của họ: Trong con cháu Kê-hát có Hê-man là ca sĩ, con của Giô-ên, Giô-ên con của Sa-mu-ên,

34 Sa-mu-ên con của Ên-ca-na, Ên-ca-na con của Giê-rô-ham, Giê-rô-ham con của Ê-li-ên, Ê-li-ên con của Thô-a,

35 Thô-a con của Xu-phơ, Xu-phơ con của Ên-ca-na, Ên-ca-na con của Ma-hát, Ma-hát con của A-ma-sai,

36 A-ma-sai con của Ên-ca-na, Ên-ca-na con của Giô-ên, Giô-ên con của A-xa-ria, A-xa-ria con của Sô-phô-ni,

37 Sô-phô-ni con của Ta-hát, Ta-hát con của Át-si, Át-si con của Ê-bi-a-sáp, Ê-bi-a-sáp con của Cô-ra,

38 Cô-ra con của Dít-sê-ha, Dít-sê-ha con của Kê-hát, Kê-hát con của Lê-vi, Lê-vi con của Y-sơ-ra-ên.

39 Em của Hê-man là A-sáp phục vụ bên phải ông. A-sáp là con của Bê-rê-kia, Bê-rê-kia con trai Si-mê-a,

40 Si-mê-a con của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con của Ba-sê-gia, Ba-sê-gia con của Manh-ki-gia,

41 Manh-ki-gia con của Ét-ni, Ét-ni con của Xê-ra, Xê-ra con của A-đa-gia,

42 A-đa-gia con của Ê-than, Ê-than con của Xim-ma, Xim-ma con của Si-mê-i,

43 Si-mê-i con của Gia-hát, Gia-hát con của Ghẹt-sôn, Ghẹt-sôn con của Lê-vi.

44 Các con cháu của Mê-ra-ri, anh em của họ, đều phục vụ bên trái, đó là Ê-than con của Ki-si, Ki-si con của Áp-đi, Áp-đi con của Ma-lúc,

45 Ma-lúc con của Ha-sa-bia, Ha-sa-bia con của A-ma-xia, A-ma-xia con của Hinh-kia,

46 Hinh-kia con của Am-si, Am-si con của Ba-ni, Ba-ni con của Sê-me,

47 Sê-me con của Mách-li, Mách-li con của Mu-si, Mu-si con của Mê-ra-ri, Mê-ra-ri con của Lê-vi.

48 Các anh em của họ là những người Lê-vi khác đều được chỉ định làm mọi việc trong Đền Tạm của Đức Chúa Trời.

49 A-rôn và các con trai ông đều dâng tế lễ hoặc trên bàn thờ về tế lễ thiêu hoặc trên bàn thờ xông hương, làm mọi việc ở Nơi Chí Thánh, và làm lễ chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên, theo như mọi điều Môi-se, đầy tớ Đức Chúa Trời, đã truyền dạy.

50 Đây là dòng dõi của A-rôn: Ê-lê-a-sa con của A-rôn, Phi-nê-a con của Ê-lê-a-sa, A-bi-sua con của Phi-nê-a,

51 Bu-ki con của A-bi-sua, U-xi con của Bu-ki, Xê-ra-hi-gia con của U-xi,

52 Mê-ra-giốt con của Xê-ra-hi-gia, A-ma-ria con của Mê-ra-giốt, A-hi-túp con của A-ma-ria,

53 Xa-đốc con của A-hi-túp, A-hi-ma-ách con của Xa-đốc.

54 Đây là nơi ở của con cháu A-rôn, tùy theo nơi đóng trại trong địa phận của họ. Gia tộc Kê-hát bắt thăm trước nhất.

55 Họ nhận được thành Hếp-rôn thuộc đất Giu-đa và các đồng cỏ chung quanh.

56 Nhưng đồng ruộng và làng mạc chung quanh thành thì được cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê.

57 Con cháu A-rôn được cấp cho những thành ẩn náu là Hếp-rôn, Líp-na, và các đồng cỏ chung quanh; Gia-tia, Ếch-tê-mô-a, và các đồng cỏ chung quanh;

58 Hi-lên, và các đồng cỏ chung quanh; Đê-bia, và các đồng cỏ chung quanh;

59 A-san, và các đồng cỏ chung quanh; Bết Sê-mết, và các đồng cỏ chung quanh.

60 Từ bộ tộc Bên-gia-min, họ được cấp Ghê-ba, và các đồng cỏ chung quanh; A-lê-mết, và các đồng cỏ chung quanh; A-na-tốt, và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả các thành họ nhận được là mười ba thành tùy theo gia tộc họ.

61 Số còn lại của con cháu Kê-hát bắt thăm và được mười thành trong nửa bộ tộc Ma-na-se.

62 Con cháu Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc, nhận được mười ba thành trong các bộ tộc Y-sa-ca, A-se, Nép-ta-li, và Ma-na-se trong đất Ba-san.

63 Con cháu Mê-ra-ri, theo từng gia tộc, bắt thăm và được mười hai thành trong các bộ tộc Ru-bên, Gát và Sa-bu-lôn.

64 Dân Y-sơ-ra-ên cấp cho người Lê-vi các thành ấy và các đồng cỏ chung quanh.

65 Họ bắt thăm mà cấp cho người Lê-vi các thành từ trong địa phận các bộ tộc Giu-đa, Si-mê-ôn, và Bên-gia-min đã kể ở trên.

66 Một số gia tộc thuộc họ Kê-hát đã nhận được các thành từ trong bộ tộc Ép-ra-im;

67 họ được những thành ẩn náu là Si-chem và các đồng cỏ trong vùng đồi núi Ép-ra-im, Ghê-xe và các đồng cỏ chung quanh,

68 Giốc-mê-am và các đồng cỏ, Bết Hô-rôn và các đồng cỏ chung quanh,

69 A-gia-lôn và các đồng cỏ chung quanh, Gát Rim-môn và các đồng cỏ chung quanh;

70 và từ trong nửa bộ tộc Ma-na-se, họ nhận được A-ne và các đồng cỏ chung quanh, Bi-lê-am và các đồng cỏ chung quanh. Người ta cấp các thành ấy cho những người còn sót lại của gia tộc Kê-hát.

71 Từ trong các gia tộc của nửa bộ tộc Ma-na-se, con cháu Ghẹt-sôn nhận được Gô-lan ở đất Ba-san và các đồng cỏ chung quanh, Ách-ta-rốt và các đồng cỏ chung quanh.

72 Từ bộ tộc Y-sa-ca, họ nhận được Kê-đe và các đồng cỏ chung quanh, Đáp-bê-rát và các đồng cỏ chung quanh,

73 Ra-mốt và các đồng cỏ chung quanh, A-nem và các đồng cỏ chung quanh.

74 Từ bộ tộc A-se, họ nhận được Ma-sanh và các đồng cỏ chung quanh, Áp-đôn và các đồng cỏ chung quanh,

75 Hu-cô và các đồng cỏ chung quanh, Rê-hốp và các đồng cỏ chung quanh.

76 Từ bộ tộc Nép-ta-li, họ nhận được Kê-đe trong Ga-li-lê và các đồng cỏ chung quanh, Ham-môn và các đồng cỏ chung quanh, Ki-ri-a-ta-im và các đồng cỏ chung quanh.

77 Từ bộ tộc Sa-bu-lôn, số còn lại của con cháu Mê-ra-ri nhận được Ri-mô-nô và các đồng cỏ chung quanh, Tha-bô và các đồng cỏ chung quanh.

78 Từ bộ tộc Ru-bên ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông, đối diện Giê-ri-cô, họ nhận được Bết-se trong hoang mạc và các đồng cỏ chung quanh, Gia-xa và các đồng cỏ chung quanh,

79 Kê-đê-mốt và các đồng cỏ chung quanh, Mê-phát và các đồng cỏ chung quanh.

80 Từ bộ tộc Gát, họ nhận được Ra-mốt ở đất Ga-la-át và các đồng cỏ chung quanh, Ma-ha-na-im và các đồng cỏ chung quanh,

81 Hết-bôn và các đồng cỏ chung quanh, Gia-ê-xe và các đồng cỏ chung quanh.

7

1 Các con của Y-sa-ca là: Thô-la, Phu-va, Gia-súp, và Sim-rôn; tất cả là bốn người.

2 Các con của Thô-la là: U-xi, Rê-pha-gia, Giê-ri-ên, Giác-mai, Díp-sam, và Sa-mu-ên. Họ đều là trưởng gia tộc của dòng họ Thô-la, và là những chiến sĩ dũng cảm trong gia phả của họ. Trong thời vua Đa-vít, tổng số con cháu họ là hai mươi hai nghìn sáu trăm người.

3 Con của U-xi là Dít-ra-hia. Các con của Dít-ra-hia là Mi-ca-ên, Ô-ba-đia, Giô-ên, và Di-si-gia; cả năm cha con đều là trưởng gia tộc.

4 Theo gia phả, họ có tất cả ba mươi sáu nghìn quân sẵn sàng ra trận, vì họ có nhiều vợ, đông con.

5 Anh em của họ trong tất cả các gia tộc thuộc bộ tộc Y-sa-ca là những chiến sĩ dũng cảm, có tám mươi bảy nghìn quân.

6 Các con của Bên-gia-min là Bê-la, Bê-ke, và Giê-đi-a-ên; tất cả là ba người.

7 Các con của Bê-la là Ét-bôn, U-xi, U-xi-ên, Giê-ri-mốt, và Y-ri; tất cả là năm người, đều là trưởng gia tộc và là dũng sĩ. Theo gia phả, tổng số con cháu họ được hai mươi hai nghìn không trăm ba mươi bốn người.

8 Các con của Bê-ke là Xê-mi-ra, Giô-ách, Ê-li-ê-se, Ê-li-ô-ê-nai, Ôm-ri, Giê-rê-mốt, A-bi-gia, A-na-tốt, và A-lê-mết. Tất cả những người nầy đều là con của Bê-ke,

9 họ đều là trưởng gia tộc và là dũng sĩ. Theo gia phả, tổng số con cháu họ được hai mươi nghìn hai trăm người.

10 Con của Giê-đi-a-ên là Binh-han; các con của Binh-han là Giê-úc, Bên-gia-min, Ê-hút, Kê-na-na, Xê-than, Ta-rê-si, và A-hi-sa-ha.

11 Tất cả những người nầy là con cháu của Giê-đi-a-ên; họ đều là trưởng gia tộc và dũng sĩ. Tổng số con cháu của họ sẵn sàng ứng chiến là mười bảy nghìn hai trăm người.

12 Ngoài ra còn có Súp-bim và Hốp-bim là con của Y-rơ; Hu-sim là con của A-he.

13 Các con của Nép-ta-li là Gia-si-ên, Gu-ni, Giê-xe, và Sa-lum; họ đều là cháu của bà Bi-la.

14 Con của Ma-na-se là Ách-ri-ên, do vợ lẽ người A-ram sinh ra; bà cũng sinh Ma-ki, là cha của Ga-la-át.

15 Ma-ki cưới vợ cho Hốp-bim và Súp-bim. Em gái của Ma-ki là Ma-a-ca. Tên của người con thứ là Xê-lô-phát; Xê-lô-phát chỉ sinh được con gái.

16 Ma-a-ca, vợ của Ma-ki, sinh được một đứa con trai, đặt tên là Phê-rết; tên của người em là Sê-rết. Sê-rết sinh U-lam và Ra-kem.

17 Con của U-lam là Bê-đan. Đó là con cháu của Ga-la-át, con của Ma-ki, cháu của Ma-na-se.

18 Em gái của Ga-la-át là Ha-mô-lê-kết sinh Y-sốt, A-bi-ê-xe, và Mác-la.

19 Các con của Sê-mi-đa là A-hi-an, Sê-kem, Li-khi, và A-ni-am.

20 Con của Ép-ra-im là Su-tê-la; con của Su-tê-la là Bê-re, con của Bê-re là Ta-hát, con của Ta-hát là Ê-lê-a-đa, con của Ê-lê-a-đa là Ta-hát,

21 con của Ta-hát là Xa-bát, con của Xa-bát là Su-tê-la, Ê-xe, và Ê-lê-át; họ bị người địa phương ở đất Gát giết chết vì họ xuống Gát cướp bầy súc vật của chúng.

22 Ép-ra-im, cha của họ, để tang lâu ngày, và anh em ông đều đến an ủi ông.

23 Sau đó, ông ăn ở với vợ. Bà mang thai và sinh được một đứa trai, đặt tên là Bê-ri-a, vì gia đình ông lúc ấy gặp điều bất hạnh.

24 Con gái ông là Sê-ê-ra; người đã xây thành Bết Hô-rôn Thượng, Bết Hô-rôn Hạ, và thành U-xên Sê-ê-ra.

25 Ông còn có một người con nữa là Rê-pha; Rê-pha sinh Rê-sép và Tê-la; Tê-la sinh Tha-han;

26 Ta-han sinh La-ê-đan; La-ê-đan sinh Am-mi-hút; Am-mi-hút sinh Ê-li-sa-ma;

27 Ê-li-sa-ma sinh Nun; và Nun sinh Giô-suê.

28 Sản nghiệp và nơi ở của họ là Bê-tên và các vùng phụ cận; về phía đông là Na-a-ran, và về phía tây là Ghê-xe và các vùng phụ cận; cũng có Si-chem và các vùng phụ cận, cho đến A-da và các vùng phụ cận.

29 Dọc theo biên giới bộ tộc Ma-na-se có Bết Sê-an và các vùng phụ cận, Ta-nác và các vùng phụ cận, Mê-ghi-đô và các vùng phụ cận, Đô-rơ và các vùng phụ cận. Con cháu Giô-sép, con trai Y-sơ-ra-ên, cư ngụ tại những nơi ấy.

30 Các con của A-se là Dim-na, Dích-va, Dích-vi, Bê-ri-a và Sê-ra, là em gái của họ.

31 Các con của Bê-ri-a là Hê-be và Manh-ki-ên; Manh-ki-ên là người sáng lập Biếc-xa-vít.

32 Hê-be sinh Giáp-phơ-lết, Sê-me, Hô-tham, và Su-a là em gái của họ.

33 Các con của Giáp-phơ-lết là Pha-sác, Bim-hanh, và A-vát. Đó là những con trai của Giáp-phơ-lết.

34 Các con của Sê-me là A-hi, Rô-hê-ga, Hu-ba, và A-ram.

35 Các con của Hê-lem, em Sê-me, là Xô-pha, Dim-na, Sê-lết, và A-manh.

36 Các con của Xô-pha là Su-a, Hạt-nê-phê, Su-anh, Bê-ri, Dim-ra,

37 Bết-se, Hốt, Sa-ma, Sinh-sa, Dít-ran, và Bê-ê-ra.

38 Các con của Giê-the là Giê-phu-nê, Phít-ba, và A-ra.

39 Các con của U-la là A-ra, Ha-ni-ên, và Ri-xi-a.

40 Tất cả những người nầy đều là con cháu của A-se, làm trưởng gia tộc, vốn là những chiến sĩ dũng cảm được tuyển chọn, đứng đầu các quan tướng. Theo gia phả, tổng số người sẵn sàng chiến đấu là hai mươi sáu nghìn người.

8

1 Bên-gia-min sinh con đầu lòng là Bê-la, con thứ nhì là Ách-bên, con thứ ba là Ạc-ra,

2 con thứ tư là Nô-ha, và con thứ năm là Ra-pha.

3 Các con của Bê-la là Át-đa, Ghê-ra, A-bi-hút,

4 A-bi-sua, Na-a-man, A-hoa,

5 Ghê-ra, Sê-phu-phan, và Hu-ram.

6 Các con của Ê-hút đều là trưởng gia tộc của dân sống ở Ghê-ba, và bắt dân ấy đày sang ở đất Ma-na-hát.

7 Các con của Ê-hút đó là Na-a-man, A-hi-gia, và Ghê-ra; chính Ghê-ra, cha của U-xa và A-hi-hút, là người bắt dân Ghê-ba sang ở đất Ma-na-hát.

8 Sa-ha-ra-im sinh các con trong xứ Mô-áp sau khi bỏ hai người vợ là Hu-sim và Ba-ra.

9 Ông cưới bà Hô-đe và sinh được Giô-báp, Xi-bia, Mê-sa, Manh-cam,

10 Giê-út, Sô-kia, và Mịt-ma. Những người con nầy của ông đều làm trưởng gia tộc.

11 Bà Hu-sim cũng sinh cho ông: A-bi-túp và Ên-ba-anh.

12 Các con của Ên-ba-anh là Ê-be, Mi-sê-am, Sê-mết (ông nầy xây thành Ô-nô và Lót cùng các làng chung quanh),

13 Bê-ri-a và Sê-ma (hai người nầy làm trưởng gia tộc của dân A-gia-lôn, và đã đuổi dân thành Gát).

14 Các con của Bê-ri-a là A-hi-ô, Sa-sác, Giê-rê-mốt,

15 Xê-ba-đia, A-rát, Ê-đe,

16 Mi-ca-ên, Dít-pha, và Giô-ha.

17 Các con của Ên-pa-anh là Xê-ba-đia, Mê-su-lam, Hi-ki, Hê-be,

18 Gít-mê-rai, Gít-lia, và Giô-báp.

19 Các con của Si-mê-i là Gia-kim, Xiếc-ri, Xáp-đi,

20 Ê-li-ê-nai, Xi-lê-tai, Ê-li-ên,

21 A-đa-gia, Bê-ra-gia, và Sim-rát.

22 Các con của Sa-sác là Gít-pan, Ê-be, Ê-li-ên,

23 Áp-đôn, Xiếc-ri, Ha-nan,

24 Ha-na-nia, Ê-lam, An-tô-ti-gia,

25 Gíp-đê-gia, và Phê-nu-ên.

26 Các con của Giê-rô-ham là Sam-sê-rai, Sê-ha-ria, A-ta-lia,

27 Gia-rê-sia, Ê-li-gia, và Xiếc-ri.

28 Những người nầy làm trưởng gia tộc, đứng đầu trong dòng dõi họ, và ở tại thành Giê-ru-sa-lem.

29 Giê-i-ên, người sáng lập thành Ga-ba-ôn, ở tại Ga-ba-ôn, có vợ tên là Ma-a-ca.

30 Con trưởng nam của ông là Áp-đôn. Ngoài ra, ông còn sinh Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Na-đáp,

31 Ghê-đô, A-hi-ô, và Xê-ke.

32 Mích-lô sinh Si-mê-a; họ cùng sinh sống với anh em mình tại Giê-ru-sa-lem.

33 Nê-rơ sinh Kích; Kích sinh Sau-lơ; Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh.

34 Con của Giô-na-than là Mê-ri Ba-anh; Mê-ri Ba-anh sinh Mi-ca.

35 Các con của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.

36 A-cha sinh Giê-hô-a-đa; Giê-hô-a-đa sinh A-lê-mết, Ách-ma-vết, và Xim-ri; Xim-ri sinh Một-sa;

37 Một-sa sinh Bi-nê-a; con của Bi-nê-a là Ra-pha; Ra-pha sinh Ê-lê-a-sa; Ê-lê-a-sa sinh A-xên.

38 A-xên có sáu con trai tên là: A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan. Tất cả những người nầy đều là con trai của A-xên.

39 Con trưởng nam của Ê-sết, em của A-xên, là U-lam, con thứ nhì là Giê-úc, và con thứ ba là Ê-li-phê-lết.

40 Các con của U-lam đều là những chiến sĩ can đảm, có tài bắn cung. Họ có con cháu rất đông, tổng số là một trăm năm mươi người. Tất cả những người nầy đều là con cháu của Bên-gia-min.

9

1 Như thế, tất cả người Y-sơ-ra-ên đều được liệt kê vào gia phả, và đã được ghi chép trong sách của các vua Y-sơ-ra-ên. Dân Giu-đa bị bắt đày sang Ba-by-lôn vì tội bất trung của họ.

2 Những người đầu tiên trở về tái định cư trong các sản nghiệp, trong các thành của họ, là người Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, người Lê-vi, và những người phục vụ trong đền thờ.

3 Những người thuộc các bộ tộc Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im, và Ma-na-se cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem gồm có:

4 Về dòng tộc Phê-rết, con của Giu-đa, có U-thai, con của A-mi-hút; A-mi-hút con của Ôm-ri, Ôm-ri con của Im-ri, và Im-ri con của Ba-ni.

5 Về người Si-lô-ni có A-sai-gia, con trưởng nam, và các con của ông.

6 Về dòng tộc Xê-rách có Giê-u-ên và anh em ông, tất cả sáu trăm chín mươi người.

7 Về dòng tộc Bên-gia-min có Sa-lu, con của Mê-su-lam (Mê-su-lam con của Hô-đa-via; Hô-đa-via con của A-sê-nu-a);

8 cũng có Gíp-nê-gia, con Giê-rô-ham; Ê-la con của U-xi (U-xi là con của Mi-cơ-ri); và Mê-su-lam, con của Sê-pha-tia (Sê-pha-tia con của Rê-u-ên; Rê-u-ên con của Gíp-nê-gia).

9 Anh em của họ kể theo phả hệ được chín trăm năm mươi sáu người. Tất cả những người nầy đều làm trưởng các gia tộc của họ.

10 Về các thầy tế lễ có Giê-đa-gia, Giê-hô-gia-ríp, Gia-kin,

11 và A-xa-ria, con của Hinh-kia (Hinh-kia con của Mê-su-lam; Mê-su-lam con của Xa-đốc; Xa-đốc con của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt con của A-hi-túp, là người quản lý đền thờ của Đức Chúa Trời);

12 cũng có A-đa-gia, con của Giê-rô-ham (Giê-rô-ham con của Pha-sua; Pha-sua con của Manh-ki-gia; Manh-ki-gia con của Ma-ê-sai; Ma-ê-sai con của A-đi-ên; A-đi-ên con của Gia-xê-ra; Gia-xê-ra con của Mê-su-lam; Mê-su-lam con của Mê-si-lê-mít; Mê-si-lê-mít con của Y-mê).

13 Anh em của họ, tất cả là một nghìn bảy trăm sáu mươi người, đều làm trưởng gia tộc, có khả năng phục vụ trong đền thờ của Đức Chúa Trời.

14 Trong số những người Lê-vi có Sê-ma-gia, con của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia; tất cả đều thuộc về dòng Mê-ra-ri;

15 cũng có Bác-ba-cát, Hê-re, Ga-la, Ma-tha-nia, đều là con của Mi-ca, cháu của Xiếc-ri, chắt của A-sáp;

16 Ô-ba-đia, con của Sê-ma-gia, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun; Bê-rê-kia, con của A-sa, cháu của Ên-ca-na, là người ở trong các làng của người Nê-tô-pha-tít.

17 Những người canh cửa gồm có: Sa-lum, A-cúp, Tanh-môn, A-hi-man, và anh em của họ; Sa-lum là người đứng đầu.

18 Cho đến bây giờ họ canh cửa phía đông của vua; còn trước kia, tổ tiên họ đều giữ cửa trại người Lê-vi.

19 Sa-lum con của Cô-rê, cháu của Ê-bi-a-sáp, chắt của Cô-ra, và anh em cùng họ hàng của ông thuộc dòng Cô-ra, lo việc phục dịch và canh giữ các cửa Lều Tạm; cũng như trước kia, tổ phụ họ chịu trách nhiệm canh giữ cửa trại của Đức Giê-hô-va.

20 Xưa kia Phi-nê-a, con của Ê-lê-a-sa, đã từng là quản đốc của họ; và Đức Giê-hô-va ở với ông.

21 Xa-cha-ri, con của Mê-sê-lê-mia, là người giữ cửa Lều Hội Kiến.

22 Tổng số những người được lựa chọn để canh cửa là hai trăm mười hai người. Họ được ghi vào gia phả theo làng xóm của họ. Vua Đa-vít và nhà tiên kiến Sa-mu-ên đã tín nhiệm giao cho họ trách nhiệm nầy.

23 Như thế, họ và con cháu họ đều có nhiệm vụ canh giữ các cửa của nhà Đức Giê-hô-va, tức là Đền Tạm.

24 Những người canh cửa giữ ở bốn phía: đông, tây, nam, bắc.

25 Các anh em của họ ở trong các làng, theo phiên thứ, phải đến giúp họ một tuần.

26 Bốn người Lê-vi, đứng đầu những người canh cửa, còn có trách nhiệm coi sóc các phòng và kho tàng trong nhà của Đức Chúa Trời.

27 Ban đêm, họ ở chung quanh nhà của Đức Chúa Trời, vì họ có trách nhiệm canh giữ; mỗi buổi sáng, họ phải mở cửa.

28 Trong số họ, có một số người được chỉ định trông coi các vật dụng trong đền thờ; họ phải đếm những vật dụng nầy lúc đem ra, cũng như lúc đem vào.

29 Lại cũng có người được chỉ định coi sóc đồ đạc và các vật dụng trong nơi thánh, cùng với tinh bột, rượu, dầu, trầm hương, và hương liệu.

30 Trong số các con của những thầy tế lễ có người pha chế các hương liệu.

31 Còn Ma-ti-thia, người Lê-vi, con trưởng nam của Sa-lum, thuộc về dòng Cô-ra, lo việc nướng bánh tế lễ.

32 Trong số anh em của họ thuộc dòng Kê-hát, có người được chỉ định lo việc làm bánh cung hiến, chuẩn bị sẵn cho mỗi ngày Sa-bát.

33 Đây là những người có nhiệm vụ ca hát; họ đều là trưởng gia tộc người Lê-vi, vẫn ở trong các phòng ốc, và được miễn các công việc khác vì họ phục vụ ngày đêm.

34 Theo gia phả, những người ấy đều làm trưởng gia tộc của người Lê-vi, và ở tại thành Giê-ru-sa-lem.

35 Giê-i-ên, người sáng lập thành Ga-ba-ôn, ở tại Ga-ba-ôn, có vợ tên là Ma-a-ca.

36 Con trưởng nam của ông là Áp-đôn; thứ đến là Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Nê-rơ, Na-đáp,

37 Ghê-đô, A-hi-ô, Xa-cha-ri, và Mích-lô.

38 Mích-lô sinh Si-mê-am. Họ cùng với anh em mình sống gần anh em họ hàng tại thành Giê-ru-sa-lem.

39 Nê-rơ sinh Kích; Kích sinh Sau-lơ; Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh.

40 Con của Giô-na-than là Mê-ri Ba-anh; Mê-ri Ba-anh sinh Mi-ca.

41 Các con của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.

42 A-cha sinh Gia-ê-ra; Gia-ê-ra sinh A-lê-mết, Ách-ma-vết và Xim-ri; Xim-ri sinh Một-sa;

43 Một-sa sinh Bi-nê-a, con của Bi-nê-a là Rê-pha-gia; Rê-pha-gia sinh Ê-lê-a-sa; và Ê-lê-a-sa sinh A-xên.

44 A-xên có sáu người con trai tên là A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan; đó là các con của A-xên.

10

1 Lúc bấy giờ, người Phi-li-tin giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Người Y-sơ-ra-ên bỏ chạy trước mặt người Phi-li-tin; họ ngã chết trên núi Ghinh-bô-a.

2 Người Phi-li-tin bám sát vua Sau-lơ và các con. Chúng giết các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, A-bi-na-đáp, và Manh-ki-sua.

3 Trận chiến trở nên ác liệt đối với Sau-lơ. Khi nhận ra Sau-lơ, lính cầm cung bắn vua bị trọng thương.

4 Sau-lơ bảo người mang khí giới mình rằng: “Hãy tuốt gươm ngươi và đâm chết ta đi kẻo bọn chẳng chịu cắt bì kia đến lăng nhục ta.” Nhưng người mang khí giới của vua không dám làm vì quá sợ hãi. Vì vậy, Sau-lơ lấy gươm ra rồi ngã sấp vào mũi gươm.

5 Khi người mang khí giới thấy Sau-lơ đã chết thì cũng lấy gươm rồi ngã sấp vào mũi gươm mà chết.

6 Thế là vua Sau-lơ cùng ba con trai và tất cả người nhà của vua đều chết.

7 Khi người Y-sơ-ra-ên ở dưới thung lũng thấy quân mình thua chạy và Sau-lơ cùng các con đã chết thì bỏ thành chạy trốn. Người Phi-li-tin đến chiếm và ở trong các thành ấy.

8 Ngày hôm sau, khi người Phi-li-tin đến vơ vét đồ đạc của những kẻ tử trận thì thấy Sau-lơ và các con ngã chết trên núi Ghinh-bô-a.

9 Chúng lột hết đồ đạc của Sau-lơ, chém đầu và lấy vũ khí của vua, rồi sai người đi khắp đất Phi-li-tin, để báo tin mừng cho các thần tượng và dân chúng.

10 Chúng để vũ khí của Sau-lơ trong miếu các thần của chúng, còn đầu vua thì treo trong đền Đa-gôn.

11 Khi dân ở Gia-be Ga-la-át nghe mọi điều người Phi-li-tin đã đối xử với Sau-lơ

12 thì tất cả các dũng sĩ đều lên đường, lấy xác vua Sau-lơ và các con đem về Gia-be. Họ chôn các xác ấy dưới cây thông tại Gia-be, rồi kiêng ăn bảy ngày.

13 Như thế, vua Sau-lơ đã chết vì tội bất trung với Đức Giê-hô-va, không tuân giữ mạng lệnh của Ngài. Ngoài ra, vua còn đi cầu hỏi đồng bóng,

14 không cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Vì thế, Ngài khiến vua phải chết, và chuyển giao vương quyền cho Đa-vít, con của Gie-sê.

11

1 Lúc ấy, toàn thể Y-sơ-ra-ên cùng nhau đến với Đa-vít tại Hếp-rôn mà nói rằng: “Kìa, chúng tôi vốn là cốt nhục của ông.

2 Trước kia, ngay khi Sau-lơ còn làm vua, chính ông đã dẫn Y-sơ-ra-ên vào ra; và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã phán với ông rằng: ‘Ngươi sẽ chăn dắt dân Ta là Y-sơ-ra-ên, làm lãnh tụ của họ.’”

3 Vậy, tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều đến cùng vua ở Hếp-rôn. Đa-vít lập giao ước với họ tại Hếp-rôn trước mặt Đức Giê-hô-va; rồi họ xức dầu tôn Đa-vít làm vua trên Y-sơ-ra-ên, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua Sa-mu-ên.

4 Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên kéo đến thành Giê-ru-sa-lem, lúc ấy gọi là Giê-bu. Dân bản địa là người Giê-bu-sít đang ở đó.

5 Dân cư Giê-bu nói với Đa-vít: “Ông không thể vào đây được đâu.” Nhưng Đa-vít đã chiếm được đồn lũy Si-ôn, tức là thành Đa-vít.

6 Đa-vít nói: “Ai là người đầu tiên đánh giết dân Giê-bu-sít sẽ được làm chỉ huy trưởng và làm thủ lĩnh.” Giô-áp, con của Xê-ru-gia, đi lên đánh trước nhất nên được làm chỉ huy trưởng.

7 Đa-vít đóng trong đồn lũy ấy nên nơi đó được gọi là thành Đa-vít.

8 Vua cho xây tường thành bao quanh, từ Mi-lô cho đến khắp chung quanh; phần còn lại của thành thì Giô-áp sửa sang.

9 Thế lực của Đa-vít ngày càng gia tăng, vì Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng vua.

10 Đây là những người chỉ huy các dũng sĩ của Đa-vít; họ đã giúp vua chiếm được vương quốc, và đã cùng với toàn dân Y-sơ-ra-ên lập Đa-vít lên làm vua, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán về Y-sơ-ra-ên.

11 Dưới đây là danh sách các dũng sĩ của Đa-vít: Gia-sô-bê-am, con của Hác-mô-ni, đứng đầu “Bộ Ba”; chính ông là người đã vung giáo giết ba trăm người cùng một lúc.

12 Sau ông có Ê-lê-a-sa, con của Đô-đô, ở A-hô-hi, là một trong ba dũng sĩ.

13 Ông nầy ở với Đa-vít tại Pha-đa-mim, lúc quân Phi-li-tin tập hợp tại đó để giao chiến. Khi ấy, cánh đồng đầy lúa mạch, và quân lính Y-sơ-ra-ên đều bỏ chạy trước quân Phi-li-tin.

14 Nhưng họ đứng giữa cánh đồng chống cự và đánh giết quân Phi-li-tin. Đức Giê-hô-va giúp họ đại thắng.

15 Trong nhóm “Ba Mươi” có ba người đi xuống hang đá A-đu-lam, đến cùng Đa-vít trong lúc quân Phi-li-tin đang đóng trại tại thung lũng Rê-pha-im.

16 Lúc ấy, Đa-vít ở trong đồn lũy và quân đồn trú của người Phi-li-tin thì ở Bết-lê-hem.

17 Đa-vít ước ao và nói: “Ước gì có ai cho ta uống nước giếng bên cổng thành Bết-lê-hem!”

18 Ba người nầy băng ngang qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng bên cổng thành Bết-lê-hem, đem về cho Đa-vít. Nhưng Đa-vít không chịu uống mà đổ nước ấy ra trước mặt Đức Giê-hô-va,

19 và nói: “Xin Đức Chúa Trời giữ tôi để tôi không làm điều nầy! Tôi sẽ uống máu của những người nầy sao? Vì họ đã liều mạng sống mình để đem nước nầy về.” Vì thế, vua không chịu uống. Đó là việc ba dũng sĩ nầy đã làm.

20 A-bi-sai, em của Giô-áp, đứng đầu trong ba dũng sĩ; ông đã vung giáo giết chết ba trăm người, nên nổi danh trong số ba người ấy.

21 Trong số ba dũng sĩ ấy, ông nổi danh hơn và được làm chỉ huy trưởng của họ, nhưng không bằng “Bộ Ba” kia.

22 Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa ở Cáp-xê-ên, là một người dũng cảm đã lập được nhiều kỳ công. Chính ông đã giết hai dũng sĩ người Mô-áp. Ông cũng đã đi xuống và đánh chết một con sư tử ở dưới hố vào một ngày có tuyết rơi.

23 Chính ông đã đánh giết một người Ai Cập cao gần hai mét rưỡi; người Ai Cập nầy cầm trong tay một cây giáo lớn bằng cây trục cửi của thợ dệt, còn Bê-na-gia xuống đón hắn với một cây gậy. Ông giật cây giáo khỏi tay người Ai Cập, rồi dùng cây giáo của hắn mà giết hắn.

24 Đó là những việc Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, đã làm; ông được nổi tiếng so với ba dũng sĩ.

25 Trong số ba mươi dũng sĩ, Bê-na-gia được tôn trọng hơn hết nhưng ông không ở trong số ba người kia. Đa-vít đặt ông chỉ huy các cận vệ của vua.

26 Sau đây là các dũng sĩ khác của quân đội: A-sa-ên, em của Giô-áp; Ên-ca-nan, con của Đô-đô ở Bết-lê-hem;

27 Sa-mốt, người Ha-rôn; Hê-lết, người Pha-lôn;

28 Y-ra, con của Y-kết ở Thê-kô-a; A-bi-ê-xe ở A-na-tốt;

29 Si-bê-cai ở Hu-sa; Y-lai ở A-hô-hi;

30 Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; Hê-lết, con của Ba-a-na ở Nê-tô-pha;

31 Y-tai, con của Ri-bai ở Ghi-bê-a, là thành của con cháu Bên-gia-min; Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn;

32 Hu-rai ở suối Ga-ách; A-bi-ên ở A-ra-ba;

33 Ách-ma-vết ở Ba-hu-rim; Ê-li-ác-ba ở Sa-anh-bôn;

34 Bê-ne-ha-sem ở Ghi-xôn; Giô-na-than, con của Sa-ghê ở Ha-ra;

35 A-hi-am, con của Sa-ca ở Ha-ra; Ê-li-pha, con của U-rơ;

36 Hê-phe ở Mê-kê-ra; A-hi-gia ở Pha-lôn;

37 Hết-rô ở Cạt-mên; Na-a-rai, con của E-bai;

38 Giô-ên em của Na-than; Mi-bê-ha, con của Ha-gơ-ri;

39 Xê-léc là người Am-môn; Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là người mang khí giới của Giô-áp, con của Xê-ru-gia;

40 Y-ra ở Giê-the; Ga-rép cũng ở Giê-the;

41 U-ri người Hê-tít; Xa-bát, con của Ạc-lai;

42 A-đi-na, con của Si-xa, người Ru-bên, một nhà lãnh đạo của người Ru-bên, chỉ huy ba mươi người;

43 Ha-nan, con của Ma-a-ca; Giô-sa-phát ở Mê-then;

44 U-xia ở Ách-ta-rốt; Sa-ma và Giê-hi-ên, con của Hô-tam ở A-rô-e;

45 Giê-đi-a-ên, con của Sim-ri, và em là Giô-ha, người Thi-sít;

46 Ê-li-ên ở Ma-ha-vim; Giê-ri-bai và Giô-sa-via, con của Ên-na-am; Gít-ma là người Mô-áp;

47 Ê-li-ên, Ô-bết, và Gia-a-si-ên, là người Mết-sô-ba.

12

1 Đây là những người đã đến với Đa-vít tại Xiếc-lác trong lúc ông phải tránh mặt Sau-lơ, con của Kích; họ thuộc trong số những dũng sĩ đã giúp Đa-vít trong cuộc chiến.

2 Họ đều có tài sử dụng cung, có thể bắn tên hay dùng ná ném đá bằng tay trái cũng giỏi như tay phải. Trong số họ hàng của Sau-lơ, thuộc bộ tộc Bên-gia-min,

3 đứng đầu là A-hi-ê-xe; rồi đến Giô-ách, con của Sê-ma ở Ghi-bê-a; Giê-xi-ên và Phê-lết, con của Ách-ma-vết; Bê-ra-ca, Giê-hu ở A-na-tốt;

4 Gít-mai-gia ở Ga-ba-ôn là một trong ba mươi dũng sĩ và là chỉ huy trưởng của họ; Giê-rê-mi; Gia-ha-xi-ên; Giô-ba-nan; Giô-xa-bát ở Ghê-đê-ra;

5 Ê-lu-xai; Giê-ri-mốt; Bê-a-lia; Sê-ma-ria; Sê-pha-tia ở Ha-rốp;

6 Ên-ca-na, Di-si-gia, A-xa-rên, Giô-ê-xe, và Gia-sô-bê-am, người Cô-ra;

7 Giô-ê-la và Xê-ba-đia, con của Giê-rô-ham ở Ghê-đô.

8 Trong bộ tộc Gát, có những người đến gặp Đa-vít tại đồn lũy trong hoang mạc. Họ là những người dũng cảm, thiện chiến, sử dụng thành thạo khiên và giáo; diện mạo họ như sư tử, họ nhanh nhẹn như hoàng dương trên núi.

9 Đứng đầu là Ê-xe, thứ nhì là Ô-ba-đia, thứ ba là Ê-li-áp,

10 thứ tư là Mích-ma-na, thứ năm là Giê-rê-mi,

11 thứ sáu là Ạt-tai, thứ bảy là Ê-li-ên,

12 thứ tám là Giô-ha-nan, thứ chín là Ên-xa-bát,

13 thứ mười là Giê-rê-mi, thứ mười một là Mác-ba-nai.

14 Họ đều là con cháu của Gát, và làm chỉ huy trưởng quân đội; cấp thấp nhất chỉ huy một trăm quân, cấp cao nhất chỉ huy một nghìn quân.

15 Đây là những người đã vượt sông Giô-đanh vào tháng giêng, lúc nước ngập hai bên bờ; họ đuổi tất cả các dân trong thung lũng về phía đông và phía tây.

16 Một số người Bên-gia-min và Giu-đa cũng đến gặp Đa-vít tại đồn lũy.

17 Đa-vít ra đón họ và nói rằng: “Nếu anh em đến với tôi trong tinh thần hòa hiếu để giúp tôi thì tôi sẵn sàng hiệp một lòng với anh em. Nhưng nếu anh em âm mưu lừa dối tôi để nộp tôi cho kẻ thù, dù tay tôi không làm điều ác nào, thì nguyện Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta chứng giám và trừng phạt anh em.”

18 Lúc ấy, Thánh Linh bao phủ A-ma-xai, người đứng đầu nhóm ba mươi người ấy, khiến ông nói: “Thưa Đa-vít, chúng tôi thuộc về ông; Thưa con trai của Gie-sê, chúng tôi đứng về phía ông! Nguyện ông được bình an, bình an; Nguyện những người giúp ông cũng được bình an! Vì Đức Chúa Trời giúp đỡ ông!” Vậy Đa-vít kết nạp họ và cho họ chỉ huy quân đội.

19 Cũng có một số người Ma-na-se đến theo Đa-vít lúc ông cùng quân Phi-li-tin đi đánh Sau-lơ. Nhưng thật ra họ không tiếp tay quân Phi-li-tin, vì các lãnh chúa Phi-li-tin đã cho Đa-vít về, sau khi bàn với nhau rằng: “Coi chừng hắn sẽ lấy đầu chúng ta rồi quay về với Sau-lơ, chủ hắn.”

20 Khi Đa-vít trở về Xiếc-lác, những người Ma-na-se đến theo ông gồm có: Át-na, Giô-xa-bát, Giê-đi-a-ên, Mi-ca-ên, Giô-xa-bát, Ê-li-hu, và Xi-lê-thai, đều là chỉ huy trưởng nghìn quân Ma-na-se.

21 Những người nầy đã giúp Đa-vít đối đầu với quân cướp bóc, vì họ đều là những chiến sĩ dũng cảm, và là những người chỉ huy quân đội.

22 Ngày nào cũng có người đến theo và giúp Đa-vít cho đến khi ông có một quân đội lớn mạnh như đạo quân của Đức Chúa Trời.

23 Đây là số các đơn vị quân chiến đấu đã đến với Đa-vít tại Hếp-rôn, để chuyển giao vương quốc của Sau-lơ cho Đa-vít đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

24 Về con cháu Giu-đa, có sáu nghìn tám trăm người cầm khiên và giáo, sẵn sàng chiến đấu.

25 Trong con cháu Si-mê-ôn, có bảy nghìn một trăm chiến sĩ dũng cảm, sẵn sàng ra trận.

26 Trong con cháu Lê-vi, có bốn nghìn sáu trăm.

27 Giê-hô-gia-đa lãnh đạo nhà A-rôn với ba nghìn bảy trăm người.

28 Xa-đốc, một dũng sĩ trẻ, và hai mươi hai người khác trong gia tộc ông đều là người chỉ huy.

29 Trong số con cháu Bên-gia-min, họ hàng của Sau-lơ, có ba nghìn người; vì cho đến lúc ấy, phần lớn trong số họ vẫn giữ lòng trung thành với nhà Sau-lơ.

30 Trong con cháu Ép-ra-im, có hai mươi nghìn tám trăm người, đều là những dũng sĩ, có danh tiếng trong gia tộc mình.

31 Trong nửa bộ tộc Ma-na-se, có mười tám nghìn người, được chỉ định đích danh đến tôn Đa-vít làm vua.

32 Trong con cháu Y-sa-ca, có hai trăm nhà lãnh đạo am hiểu thời cơ và biết điều gì dân Y-sơ-ra-ên phải làm. Tất cả anh em họ hàng đặt dưới sự lãnh đạo của họ.

33 Trong bộ tộc Sa-bu-lôn, có năm mươi nghìn người sẵn sàng ra trận, được trang bị mọi thứ vũ khí để chiến đấu; họ có đội ngũ chỉnh tề và một lòng một dạ với Đa-vít.

34 Trong bộ tộc Nép-ta-li, có một nghìn chỉ huy trưởng với ba mươi bảy nghìn người cầm khiên và giáo.

35 Trong bộ tộc Đan, có hai mươi tám nghìn sáu trăm người được trang bị sẵn sàng để ra trận.

36 Trong bộ tộc A-se, có bốn mươi nghìn người sẵn sàng ra trận.

37 Trong bộ tộc Ru-bên, Gát, và nửa bộ tộc Ma-na-se ở bên kia sông Giô-đanh, có một trăm hai mươi nghìn người được trang bị mọi thứ vũ khí để chiến đấu.

38 Tất cả những người nầy đều là quân thiện chiến. Họ kéo đến Hếp-rôn theo đội ngũ, một lòng tôn Đa-vít lên làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên. Tất cả phần còn lại của Y-sơ-ra-ên cũng một lòng một dạ muốn tôn Đa-vít lên làm vua.

39 Họ ở lại đó với vua Đa-vít ba ngày và ăn uống, vì anh em của họ đã cung cấp thực phẩm cho họ.

40 Từ những miền lân cận cho đến đất Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Nép-ta-li, mọi người đều đem lương thực đến; họ dùng lừa, lạc đà, la, và bò để chở bánh mì, bột miến, bánh trái vả, bánh nho khô, rượu, dầu, và rất nhiều bò và chiên. Niềm vui lan khắp Y-sơ-ra-ên.

13

1 Đa-vít hội ý với các cấp chỉ huy đơn vị nghìn quân và trăm quân, cùng tất cả các nhà lãnh đạo.

2 Đa-vít nói với toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên: “Nếu các ngươi thấy điều nầy là tốt và đến từ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta thì ta sẽ sai người đến với anh em chúng ta còn lại ở khắp xứ Y-sơ-ra-ên, cùng với các thầy tế lễ và người Lê-vi ở trong các thành có đồng cỏ chung quanh, để mời họ họp lại với chúng ta.

3 Rồi chúng ta sẽ rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trở về với chúng ta, vì trong thời Sau-lơ, chúng ta đã không đến trước Hòm Giao Ước mà cầu vấn Đức Chúa Trời.”

4 Toàn thể hội chúng tán thành làm như thế, vì mọi người đều thấy điều đó là phải.

5 Đa-vít tập hợp toàn dân Y-sơ-ra-ên lại, từ Si-ho ở Ai Cập đến lối vào Ha-mát, để rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim về.

6 Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên cùng đi lên Ba-a-la, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim thuộc Giu-đa, để rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời về, là Hòm mang danh Đức Giê-hô-va, Đấng ngự giữa các chê-ru-bim.

7 Từ nhà A-bi-na-đáp, họ chở Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trên một cỗ xe mới; có U-xa và A-hi-ô dẫn xe.

8 Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên hết sức vui mừng, nhảy múa trước mặt Đức Chúa Trời trong tiếng hát, tiếng đàn hạc, đàn lia, tiếng trống, chập chõa, và kèn.

9 Khi họ đến sân đập lúa của Ki-đôn, U-xa đưa tay ra nắm giữ Hòm Giao Ước vì bò bị trượt chân.

10 Đức Giê-hô-va nổi cơn thịnh nộ cùng U-xa và đánh phạt ông, vì ông đã đưa tay chạm đến Hòm Giao Ước. Vì vậy, ông chết ngay tại đó trước mặt Đức Chúa Trời.

11 Đa-vít buồn giận vì Đức Giê-hô-va đã trừng phạt U-xa; vua gọi nơi ấy là Pê-rết U-xa cho đến ngày nay.

12 Hôm ấy, Đa-vít sợ hãi Đức Chúa Trời và nói: “Làm sao ta dám rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời vào nhà ta?”

13 Thế là, Đa-vít không rước Hòm Giao Ước về nhà mình trong thành Đa-vít, nhưng cho đưa vào nhà Ô-bết Ê-đôm, người Gát.

14 Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời ở lại trong nhà Ô-bết Ê-đôm và gia đình ông trong ba tháng; Đức Giê-hô-va ban phước cho gia đình Ô-bết Ê-đôm và mọi vật thuộc về ông.

14

1 Hi-ram, vua Ty-rơ, sai sứ giả đem thợ nề, thợ mộc, cùng với nhiều gỗ bá hương đến để xây cất cho vua Đa-vít một cung điện.

2 Đa-vít nhận biết rằng Đức Giê-hô-va đã lập ông vững vàng trên ngai vua Y-sơ-ra-ên. Vương quốc của vua được hưng thịnh là vì dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

3 Tại Giê-ru-sa-lem, Đa-vít còn lấy thêm nhiều vợ, và sinh thêm con trai, con gái.

4 Đây là tên các con đã sinh cho vua tại Giê-ru-sa-lem: Sa-mua, Sô-báp, Na-than, Sa-lô-môn,

5 Díp-kha, Ê-li-sua, Ên-pê-lết,

6 Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia,

7 Ê-li-sa-ma, Bê-ên-gia-đa, và Ê-li-phê-lết.

8 Khi người Phi-li-tin nghe tin Đa-vít đã được xức dầu làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thì toàn quân Phi-li-tin kéo lên đánh Đa-vít. Nghe tin đó, Đa-vít kéo quân ra nghênh chiến với chúng.

9 Quân Phi-li-tin đã đến cướp phá trong thung lũng Rê-pha-im.

10 Đa-vít cầu hỏi Đức Chúa Trời: “Con có nên tiến đánh quân Phi-li-tin không? Chúa sẽ phó chúng vào tay con chăng?” Đức Giê-hô-va trả lời: “Hãy tiến đánh, Ta sẽ phó chúng vào tay con.”

11 Quân Phi-li-tin kéo lên Ba-anh Phê-rát-sim, và Đa-vít đánh bại chúng tại đó. Đa-vít nói: “Đức Chúa Trời đã dùng tay ta đánh tan kẻ thù như nước vỡ bờ!” Vì thế, người ta gọi chỗ đó là Ba-anh Phê-rát-sim.

12 Quân Phi-li-tin bỏ lại các tượng thần của chúng tại đó và Đa-vít truyền đem thiêu đốt hết.

13 Một lần nữa, quân Phi-li-tin lại cướp phá thung lũng.

14 Đa-vít lại cầu hỏi Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời phán bảo vua: “Con đừng kéo lên đuổi theo chúng. Hãy đi vòng và tấn công chúng chỗ đối diện cây dâu.

15 Vừa khi nghe tiếng chân bước trên ngọn cây dâu thì con hãy kéo ra tấn công, vì Đức Chúa Trời sẽ đi ra trước mặt con để đánh quân Phi-li-tin.”

16 Đa-vít làm đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán, và họ đã đánh bại quân đội Phi-li-tin từ Ga-ba-ôn cho đến Ghê-xe.

17 Danh tiếng của Đa-vít đồn ra khắp nơi, và Đức Giê-hô-va khiến cho tất cả các dân tộc đều khiếp sợ Đa-vít.

15

1 Khi Đa-vít xây cất cung điện cho mình trong thành Đa-vít xong, vua chuẩn bị một chỗ và dựng lều cho Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.

2 Bấy giờ, Đa-vít nói: “Ngoại trừ người Lê-vi, không ai được khiêng Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời, vì Đức Giê-hô-va đã chọn họ để khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, và phục vụ Ngài mãi mãi.”

3 Đa-vít triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem để rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào chỗ vua đã chuẩn bị sẵn.

4 Đa-vít cũng tập hợp các con cháu A-rôn và người Lê-vi:

5 về dòng Kê-hát có U-ri-ên là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được một trăm hai mươi người;

6 về dòng Mê-ra-ri có A-sa-gia là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được hai trăm hai mươi người;

7 về dòng Ghẹt-sôn có Giô-ên là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được một trăm ba mươi người;

8 về dòng Ê-li-sa-phan có Sê-ma-gia là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được hai trăm người;

9 về dòng Hếp-rôn có Ê-li-ên là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được tám mươi người;

10 về dòng U-xi-ên có A-mi-na-đáp là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được một trăm mười hai người.

11 Đa-vít cho mời các thầy tế lễ Xa-đốc, A-bia-tha, và những người Lê-vi là U-ri-ên, A-sa-gia, Giô-ên, Sê-ma-gia, Ê-li-ên, và A-mi-na-đáp.

12 Vua nói với họ: “Các ngươi là trưởng các gia tộc Lê-vi. Vậy, hãy cùng anh em các ngươi thanh tẩy chính mình để khiêng Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến nơi ta đã chuẩn bị sẵn.

13 Vì trong lần trước, các ngươi không khiêng Hòm Giao Ước, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã trừng phạt chúng ta, vì chúng ta không cầu hỏi Ngài để biết cách làm cho đúng quy định.”

14 Vậy, các thầy tế lễ và người Lê-vi thanh tẩy chính mình để khiêng Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

15 Các người Lê-vi dùng đòn khiêng Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trên vai mình, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã truyền dạy qua Môi-se.

16 Đa-vít truyền cho các nhà lãnh đạo người Lê-vi cử trong anh em của họ những người ca hát để cất tiếng hát vui vẻ, hòa theo các nhạc khí như đàn lia, đàn hạc, và chập chõa.

17 Người Lê-vi cử Hê-man, con của Giô-ên, và từ trong anh em của ông có A-sáp, con của Bê-rê-kia; về dòng Mê-ra-ri, là anh em của họ, thì có Ê-than, con của Cu-sa-gia;

18 cùng với họ, có các anh em phụ tá của họ là Xa-cha-ri, Bên, Gia-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Ma-ti-thia, Ê-li-phê-lê, Mích-nê-gia; và những người gác cửa là Ô-bết Ê-đôm và Giê-i-ên.

19 Những người ca hát là Hê-man, A-sáp, và Ê-than đánh chập chõa bằng đồng;

20 Xa-cha-ri, A-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Ma-a-xê-gia, và Bê-na-gia, đánh đàn lia theo điệu A-la-mốt;

21 còn Ma-ti-thia, Ê-li-phê-lê, Mích-nê-gia, Ô-bết Ê-đôm, Giê-i-ên, và A-xa-xia, đánh đàn hạc theo điệu Sê-mi-nít để hướng dẫn.

22 Kê-na-nia lãnh đạo người Lê-vi về việc ca hát; ông điều khiển việc ca hát vì thành thạo âm nhạc.

23 Còn Bê-rê-kia và Ên-ca-na gác cửa trước Hòm Giao Ước.

24 Các thầy tế lễ Sê-ba-nia, Giô-sa-phát, Nê-tha-nê-ên, A-ma-xai, Xa-cha-ri, Bê-na-gia, và Ê-li-ê-se thổi kèn trước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời; còn Ô-bết Ê-đôm và Giê-hi-gia cũng gác cửa trước Hòm Giao Ước.

25 Vậy, Đa-vít cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên và các cấp chỉ huy nghìn quân đi lên nhà Ô-bết Ê-đôm, rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va về cách vui mừng.

26 Đức Chúa Trời phù hộ người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va nên họ dâng bảy con bò đực và bảy con chiên đực làm sinh tế.

27 Đa-vít và tất cả những người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước, những người ca hát và nhạc trưởng Kê-na-nia đều mặc áo choàng vải gai mịn. Đa-vít còn mặc thêm một ê-phót bằng vải gai.

28 Như vậy, toàn thể Y-sơ-ra-ên rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va trong tiếng reo hò, tiếng tù và, tiếng kèn, chập chõa vang dậy với tiếng đàn lia và đàn hạc.

29 Khi Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va về đến thành Đa-vít, hoàng hậu Mi-canh, con gái của Sau-lơ, nhìn qua cửa sổ thấy vua Đa-vít nhảy múa vui mừng thì trong lòng khinh bỉ vua.

16

1 Họ đem Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời vào đặt giữa lều mà Đa-vít đã dựng sẵn. Rồi họ dâng các tế lễ thiêu và tế lễ bình an trước mặt Đức Chúa Trời.

2 Khi đã dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an xong, Đa-vít nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho dân chúng.

3 Vua phân phát cho tất cả người Y-sơ-ra-ên, cả nam lẫn nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một cái bánh nho khô.

4 Vua cử một số người Lê-vi phục vụ trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va để cầu khẩn, cảm tạ, và ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:

5 Đứng đầu là A-sáp, thứ đến là Xa-cha-ri, rồi Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Ma-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết Ê-đôm, và Giê-i-ên; họ sử dụng các nhạc khí như đàn lia và đàn hạc, còn A-sáp thì đánh chập chõa vang lên.

6 Các thầy tế lễ Bê-na-gia và Gia-ha-xi-ên thường xuyên thổi kèn trước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.

7 Trong ngày đó, lần đầu tiên, Đa-vít trao vào tay A-sáp và các anh em ông ấy bài hát ca ngợi Đức Giê-hô-va:

8 Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va, và cầu khẩn danh Ngài, Hãy rao truyền công việc Ngài giữa các dân!

9 Hãy hát cho Ngài, hãy ca ngợi Ngài! Hãy suy ngẫm tất cả công việc kỳ diệu của Ngài!

10 Hãy tôn vinh danh thánh Ngài; Hỡi tấm lòng của những ai tìm kiếm Đức Giê-hô-va, hãy vui mừng!

11 Hãy tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài, Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn!

12 Hãy nhớ lại những việc kỳ diệu Ngài đã làm, Các phép lạ và phán quyết từ miệng Ngài,

13 Hỡi dòng dõi Y-sơ-ra-ên là đầy tớ Ngài! Hỡi con cháu Gia-cốp là những người Ngài tuyển chọn!

14 Chính Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; Sự phán xét của Ngài thực thi cho toàn thế gian.

15 Hãy nhớ giao ước Ngài mãi mãi, Nghìn đời chớ quên lời Ngài truyền dạy;

16 Tức là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Đã thề cùng Y-sác,

17 Đã định cho Gia-cốp làm luật lệ, Và cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,

18 Khi Ngài phán rằng: “Ta sẽ ban cho con đất Ca-na-an, Làm phần sản nghiệp.”

19 Lúc ấy, anh em chỉ là một số ít người, Là những khách lạ trong xứ;

20 Lưu lạc từ quốc gia nầy đến quốc gia khác, Từ vương quốc nọ sang dân tộc kia.

21 Ngài không cho ai áp bức họ; Vì cớ họ, Ngài quở trách các vua:

22 “Đừng đụng đến những người được xức dầu của Ta, Chớ làm hại các nhà tiên tri Ta.”

23 Hỡi cả trái đất, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va; Từng ngày hãy rao truyền sự cứu rỗi của Ngài!

24 Hãy thuật lại vinh quang Ngài giữa các nước, Công bố những việc diệu kỳ của Ngài cho muôn dân!

25 Vì Đức Giê-hô-va thật vĩ đại, đáng được ca ngợi, Ngài đáng kính sợ hơn tất cả các thần.

26 Vì tất cả thần của các dân tộc đều là hình tượng, Còn Đức Giê-hô-va đã dựng nên các tầng trời.

27 Uy nghiêm và rực rỡ ở trước mặt Ngài; Sức mạnh và sự vui vẻ ở nơi ngự của Ngài.

28 Hỡi dòng giống các dân tộc, hãy chúc tôn Đức Giê-hô-va, Hãy quy vinh quang và quyền năng về Đức Giê-hô-va;

29 Hãy quy vinh quang về Đức Giê-hô-va xứng đáng với danh Ngài, Hãy đem lễ vật dâng lên trước mặt Ngài; Hãy trang sức bằng sự thánh khiết mà thờ phượng Đức Giê-hô-va.

30 Hỡi cả trái đất, hãy run sợ trước mặt Ngài! Thế giới được thiết lập vững bền, không bao giờ rúng động.

31 Nguyện các tầng trời vui vẻ và đất mừng rỡ! Trong các nước, người ta tung hô: “Đức Giê-hô-va cai trị!”

32 Nguyện biển và mọi vật trong biển gầm vang; Đồng ruộng và mọi vật trong nó đều hớn hở!

33 Bấy giờ, cây cối trong rừng sẽ reo mừng trước mặt Đức Giê-hô-va, Vì Ngài đến để phán xét thế gian.

34 Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.

35 Hãy nói: “Lạy Đức Chúa Trời, Đấng cứu rỗi chúng con! Xin cứu chúng con, Nhóm họp và giải cứu chúng con từ giữa các nước, Để chúng con cảm tạ danh thánh Chúa, Và được vinh hạnh ca ngợi Ngài.

36 Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời!” Toàn dân đồng thanh đáp: “A-men!” Và ca ngợi Đức Giê-hô-va.

37 Vậy, Đa-vít chỉ định A-sáp và anh em ông ấy ở lại trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va để túc trực phục vụ Hòm Giao Ước hằng ngày.

38 Vua cũng chỉ định Ô-bết Ê-đôm và sáu mươi tám anh em ông ấy phục vụ tại đó. Ô-bết Ê-đôm, con trai của Giê-đu-thun, và Hô-sa làm người gác cổng.

39 Vua chỉ định thầy tế lễ Xa-đốc và các thầy tế lễ anh em ông ấy phục vụ trước Đền Tạm của Đức Giê-hô-va tại nơi cao ở Ga-ba-ôn;

40 mỗi buổi sáng và chiều, họ dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ tế lễ thiêu, theo đúng mọi điều đã chép trong luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy cho dân Y-sơ-ra-ên.

41 Cùng với họ có Hê-man, Giê-đu-thun và những người đã được chọn đích danh khác để chúc tụng Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.

42 Hê-man và Giê-đu-thun sử dụng kèn, chập chõa và các nhạc cụ khác để ca tụng Đức Chúa Trời. Còn các con trai của Giê-đu-thun lo việc gác cổng.

43 Mọi người ai về nhà nấy; còn Đa-vít cũng trở về nhà để chúc phước cho gia đình mình.

17

1 Khi đã ở yên ổn trong cung điện, Đa-vít nói với nhà tiên tri Na-than: “Nầy, ta ở trong nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va lại ở dưới những bức màn trại.”

2 Na-than tâu với Đa-vít: “Xin vua cứ làm những gì lòng mình muốn, vì Đức Chúa Trời ở với vua.”

3 Nhưng ngay trong đêm ấy, có lời của Đức Chúa Trời phán với Na-than:

4 “Hãy đi nói với đầy tớ Ta là Đa-vít rằng, Đức Giê-hô-va phán: ‘Con không phải là người xây cất đền thờ cho Ta ngự đâu!’

5 Vì từ khi Ta đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, Ta không ngự trong đền thờ nào cả, nhưng Ta ở từ lều nầy đến lều kia, từ nơi nầy đến nơi nọ.

6 Bất cứ nơi nào Ta đi cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên, có bao giờ Ta bảo một người nào trong các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, tức người mà Ta truyền bảo chăn dân Ta, rằng: ‘Sao các ngươi không xây cất cho Ta một đền thờ bằng gỗ bá hương?’

7 Bây giờ, con hãy nói với đầy tớ Ta là Đa-vít rằng, Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Ta đã bắt con từ đồng cỏ, từ một kẻ chăn chiên, lập con lên làm nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên Ta.

8 Bất cứ nơi nào con đi, Ta vẫn ở với con, tiêu diệt các kẻ thù khỏi mặt con; Ta sẽ làm cho con được nổi danh như các vĩ nhân trên đất.

9 Ta sẽ lập một chỗ ở cho dân Y-sơ-ra-ên Ta và trồng họ để họ an cư lạc nghiệp tại đó, và họ sẽ không còn bị khuấy rối. Những kẻ gian ác sẽ không còn tiếp tục áp bức họ như trước nữa,

10 như thời Ta lập các quan xét trên dân Y-sơ-ra-ên Ta. Ta sẽ khiến tất cả kẻ thù của con phục dưới con. Ta cũng báo cho con biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ xây dựng cho con một triều đại.

11 Rồi khi con được mãn phần để trở về cùng tổ phụ mình, hẳn Ta sẽ lập dòng dõi con, là một trong số các con trai của con, lên kế vị con; Ta sẽ làm cho vương quốc nó vững chắc.

12 Chính nó sẽ xây cất cho Ta một đền thờ, và Ta sẽ làm cho ngôi nước nó vững bền đến đời đời.

13 Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con Ta; sự nhân từ Ta sẽ chẳng cất khỏi nó như Ta đã cất khỏi kẻ tiền nhiệm con.

14 Ta sẽ lập nó đời đời trong nhà Ta và trong vương quốc Ta; ngôi nước nó sẽ được vững lập mãi mãi.’”

15 Na-than trình tất cả các lời và sự mặc khải nầy lên vua Đa-vít.

16 Vua Đa-vít bước vào, ngồi trước mặt Đức Giê-hô-va, và thưa rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, con là ai và gia đình con là gì mà Ngài đem con đến đây?

17 Lạy Đức Chúa Trời! Ơn đó Chúa cho là quá nhỏ mọn nên Ngài còn hứa ban ơn cho nhà của đầy tớ Ngài trong tương lai lâu dài, và xem con như một người được tôn trọng! Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời,

18 Chúa làm cho đầy tớ Ngài được sang trọng như thế, thì Đa-vít còn nói gì được nữa? Vì Chúa biết đầy tớ Ngài.

19 Lạy Đức Giê-hô-va! Chính vì đầy tớ Ngài và theo ý Ngài muốn mà Ngài thực hiện tất cả việc lớn lao nầy để bày tỏ mọi điều kỳ diệu đó.

20 Lạy Đức Giê-hô-va, chẳng có ai như Ngài, và theo mọi điều tai chúng con đã nghe, ngoài Ngài chẳng có ai là Đức Chúa Trời.

21 Có dân tộc nào trên đất được như dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, một dân tộc mà Đức Chúa Trời cứu chuộc làm dân riêng của Ngài? Chúa đã được uy danh rất lớn bởi những việc vĩ đại đáng sợ khi đuổi các dân tộc khỏi dân Ngài, là dân mà Ngài đã cứu chuộc ra khỏi Ai Cập.

22 Chúa đã khiến dân Y-sơ-ra-ên trở thành dân thuộc riêng về Ngài đến đời đời. Còn Ngài, Đức Giê-hô-va ôi, Ngài là Đức Chúa Trời của họ.

23 Bây giờ, lạy Đức Giê-hô-va! Nguyện lời Ngài đã phán hứa về đầy tớ Ngài và về nhà của người được vững lập mãi mãi. Cầu xin Chúa làm đúng như Ngài đã phán.

24 Nguyện điều ấy được vững chắc, và danh Chúa được tán dương đến đời đời rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tức là Đức Chúa Trời mà Y-sơ-ra-ên thờ phượng; còn nhà Đa-vít là đầy tớ Ngài được đứng vững trước mặt Ngài!

25 Lạy Đức Chúa Trời của con! Chúa có bày tỏ cho đầy tớ Chúa biết rằng Ngài sẽ lập cho người một triều đại. Vì vậy, đầy tớ Chúa dám cầu nguyện trước mặt Ngài.

26 Lạy Đức Giê-hô-va! Chính Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng đã phán hứa những điều tốt đẹp nầy với đầy tớ Ngài.

27 Giờ đây, cầu xin Chúa ban phước cho triều đại của đầy tớ Ngài được tồn tại mãi trước mặt Ngài; vì, lạy Đức Giê-hô-va, khi nào Ngài ban phước thì phước lành đó còn đến đời đời.”

18

1 Sau việc ấy, Đa-vít đánh bại dân Phi-li-tin, bắt chúng phục tùng, chiếm thành Gát và các vùng phụ cận từ tay chúng.

2 Vua cũng đánh bại dân Mô-áp; người Mô-áp phải phục dịch và triều cống Đa-vít.

3 Đa-vít đánh bại Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba, về hướng Ha-mát, khi vua nầy đang giành quyền kiểm soát khu vực sông Ơ-phơ-rát.

4 Đa-vít bắt được của vua Xô-ba một nghìn cỗ xe, bảy nghìn kỵ binh, và hai mươi nghìn bộ binh. Đa-vít cắt nhượng của tất cả ngựa kéo xe, chỉ chừa lại một trăm con.

5 Khi dân A-ram ở Đa-mách đến tiếp viện cho Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba, Đa-vít giết hai mươi hai nghìn người trong bọn chúng.

6 Đa-vít đặt quân đồn trú tại A-ram thuộc Đa-mách; dân A-ram phải phục dịch và triều cống Đa-vít. Đức Giê-hô-va giúp Đa-vít đi đến đâu thắng đến đó.

7 Đa-vít lấy những khiên bằng vàng của các đầy tớ Ha-đa-rê-xe, và đem về Giê-ru-sa-lem.

8 Từ hai thành Ti-bát và Cun của Ha-đa-rê-xe, Đa-vít lấy được rất nhiều đồng, mà sau nầy Sa-lô-môn dùng làm bể nước, các trụ và chậu bằng đồng.

9 Khi Tô-hu, vua Ha-mát, hay tin Đa-vít đã đánh bại toàn bộ quân đội của Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba,

10 thì sai Ha-đô-ram, con trai vua, đến thăm hỏi và chúc mừng Đa-vít đã chiến đấu và đánh bại Ha-đa-rê-xe, vì Ha-đa-rê-xe và Tô-hu thường có chiến tranh với nhau. Tô-hu cũng gửi tặng Đa-vít đủ thứ vật dụng bằng vàng, bạc, và đồng.

11 Đa-vít biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va các vật dụng ấy cùng với bạc vàng mà vua đã lấy được của các dân tộc Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Phi-li-tin, và A-ma-léc.

12 A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, đánh người Ê-đôm trong thung lũng Muối, và giết chết mười tám nghìn người.

13 Ông đặt quân đồn trú tại Ê-đôm, và tất cả người Ê-đôm đều phải phục dịch Đa-vít. Đức Giê-hô-va giúp Đa-vít đi đến đâu thắng đến đó.

14 Đa-vít làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thực thi công lý và sự công chính cho toàn dân.

15 Giô-áp, con của Xê-ru-gia, thống lĩnh quân đội; Giô-sa-phát, con của A-hi-lút, làm quan ngự sử;

16 Xa-đốc, con của A-hi-túp, và A-bi-mê-léc, con của A-bia-tha, làm thầy tế lễ; Sa-vê-sa làm thư ký.

17 Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, cai quản người Kê-rê-thít và người Phê-lê-thít, còn các con trai Đa-vít đều làm cận thần của vua.

19

1 Sau các việc đó, vua dân Am-môn là Na-hách băng hà, và con trai vua lên kế vị.

2 Đa-vít nói: “Ta muốn bày tỏ tình thân thiện với Ha-nun, con của Na-hách, như cha vua ấy đã đối xử với ta.” Đa-vít sai sứ giả đến an ủi Ha-nun về việc thân phụ vua ấy băng hà. Vậy, các đầy tớ của Đa-vít đến gặp Ha-nun trong xứ dân Am-môn để phân ưu.

3 Nhưng các quan trưởng dân Am-môn tâu với Ha-nun: “Vua tưởng rằng Đa-vít sai sứ giả đến an ủi vua là vì tôn kính thân phụ vua sao? Các đầy tớ hắn đến với vua chẳng phải là để xem xét và do thám xứ để hủy diệt đó sao?”

4 Ha-nun bắt các sứ giả của Đa-vít cạo râu và cắt một nửa áo của họ cho đến mông, rồi đuổi về.

5 Vậy họ ra đi. Có người đến trình cho Đa-vít biết mọi việc. Vua sai người đi đón họ, vì họ rất xấu hổ. Vua bảo: “Hãy ở tại Giê-ri-cô cho đến khi râu các ngươi mọc lại rồi hãy trở về.”

6 Khi dân Am-môn thấy Đa-vít ghê tởm chúng thì Ha-nun và dân Am-môn sai người đem ba mươi tấn bạc đi đến Mê-sô-pô-ta-mi, A-ram Ma-a-ca, và Xô-ba, để thuê chiến xa và kỵ binh.

7 Chúng thuê ba mươi hai nghìn cỗ xe và thuê cả vua xứ Ma-a-ca cùng với quân lính của vua nữa. Chúng kéo đến đóng tại trước Mê-đê-ba. Dân Am-môn từ các thành của chúng tập hợp lại để ra trận.

8 Hay tin đó, Đa-vít sai Giô-áp ra trận cùng với một đạo quân toàn là những dũng sĩ.

9 Dân Am-môn kéo ra, dàn trận nơi cổng thành; còn các vua đồng minh thì đóng ở ngoài cánh đồng.

10 Khi Giô-áp thấy quân thù đã dàn trận phía trước và phía sau mình, ông chọn một số dũng sĩ trong đạo quân Y-sơ-ra-ên và dàn trận đối diện quân A-ram.

11 Số quân còn lại, ông giao cho em của ông là A-bi-sai; họ dàn trận đối diện với dân Am-môn.

12 Ông nói: “Nếu quân A-ram mạnh hơn anh, em sẽ tiếp viện anh; còn nếu quân Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ tiếp viện em.

13 Hãy mạnh dạn, can đảm lên! Hãy vì dân tộc chúng ta, vì các thành của Đức Chúa Trời chúng ta mà chiến đấu. Nguyện Đức Giê-hô-va làm theo ý Ngài lấy làm tốt.”

14 Vậy, Giô-áp và quân lính theo ông đều đến gần đối đầu với quân A-ram để giao chiến; quân A-ram chạy trốn khỏi ông.

15 Khi quân Am-môn thấy quân A-ram đã chạy trốn thì cũng chạy trốn khỏi A-bi-sai, em Giô-áp, mà trở vào thành. Sau đó, Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem.

16 Khi quân A-ram thấy mình bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại thì sai sứ giả đến cầu viện với quân Sy-ri ở bên kia Sông do Sô-phác, quan tướng của đạo binh Ha-đa-rê-xe, chỉ huy.

17 Đa-vít hay tin đó, liền tập hợp toàn quân Y-sơ-ra-ên vượt sông Giô-đanh, đến dàn trận và đánh quân A-ram. Khi Đa-vít đã dàn trận đối diện quân A-ram thì chúng giao chiến với vua.

18 Quân A-ram chạy trốn trước mặt Y-sơ-ra-ên. Đa-vít giết bảy nghìn kỵ binh, bốn mươi nghìn bộ binh của quân A-ram, và cũng giết Sô-phác, tướng chỉ huy quân đội.

19 Khi các đầy tớ của Ha-đa-rê-xe thấy chúng bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại thì cầu hòa với Đa-vít và phục dịch vua. Về sau, dân A-ram không còn muốn tiếp viện dân Am-môn nữa.

20

1 Vào mùa xuân, lúc các vua thường kéo quân đi chinh chiến, Giô-áp đem quân tàn phá đất Am-môn và đến bao vây thành Ráp-ba, còn Đa-vít ở tại Giê-ru-sa-lem. Giô-áp tấn công và phá hủy thành Ráp-ba.

2 Đa-vít lấy vương miện trên đầu của tượng thần Minh-côm; vương miện ấy cân nặng khoảng ba mươi ký vàng, có cẩn một viên đá quý. Vương miện nầy được đặt trên đầu Đa-vít. Ngoài ra, Đa-vít cũng thu được rất nhiều chiến lợi phẩm trong thành.

3 Còn dân trong thành, vua đem ra bắt phải lao dịch, sử dụng cưa, hoặc bừa sắt, hoặc rìu. Đa-vít xử như thế với tất cả các thành của dân Am-môn. Rồi Đa-vít và toàn quân trở về Giê-ru-sa-lem.

4 Sau đó, chiến tranh với người Phi-li-tin bùng nổ tại Ghê-xe. Lúc ấy, Si-bê-cai là người Hu-sa-tít đánh giết Síp-bai, thuộc dòng dõi người khổng lồ, và người Phi-li-tin phải chịu thần phục.

5 Trong một trận chiến khác với người Phi-li-tin, Ên-ha-nan, con của Giai-rơ, đánh giết Lác-mi, em của Gô-li-át, người Gát; cán giáo của hắn như cây trục cửi của thợ dệt.

6 Lại trong một trận chiến khác nữa tại Gát, có một người vóc dáng cao lớn, mỗi bàn tay có sáu ngón và mỗi bàn chân cũng có sáu ngón, tất cả là hai mươi bốn ngón; hắn cũng thuộc về dòng dõi khổng lồ.

7 Hắn nhục mạ Y-sơ-ra-ên nên Giô-na-than, con của Si-mê-a, em của Đa-vít, đánh giết hắn.

8 Những người nầy đều thuộc dòng dõi người khổng lồ tại Gát; chúng đều bị giết bởi tay Đa-vít và các thuộc hạ của vua.

21

1 Sa-tan nổi lên chống lại Y-sơ-ra-ên nên xúi giục Đa-vít kiểm tra dân số.

2 Đa-vít nói với Giô-áp và các viên chỉ huy quân đội rằng: “Hãy đi kiểm tra dân số, từ Bê-e Sê-ba cho đến Đan, rồi trình cho ta biết tổng số là bao nhiêu.”

3 Giô-áp tâu: “Nguyện Đức Giê-hô-va gia tăng dân số của Ngài nhiều gấp trăm lần! Tâu bệ hạ là chúa tôi, chẳng phải tất cả dân chúng đều là thần dân của chúa tôi sao? Tại sao chúa tôi lại bảo làm điều nầy? Tại sao chúa tôi làm cho Y-sơ-ra-ên phải mắc tội?”

4 Nhưng lời của vua thắng hơn lời của Giô-áp. Vì vậy, Giô-áp đi khắp Y-sơ-ra-ên rồi trở về Giê-ru-sa-lem.

5 Giô-áp phúc trình cho vua Đa-vít tổng số dân như sau: Trong cả Y-sơ-ra-ên có một triệu một trăm nghìn người có thể cầm gươm; trong Giu-đa có bốn trăm bảy mươi nghìn người có thể cầm gươm.

6 Nhưng Giô-áp không kiểm tra số người Lê-vi và người Bên-gia-min vì lệnh của vua đáng ghê tởm đối với ông.

7 Việc kiểm tra dân số nầy là một điều ác dưới mắt Đức Chúa Trời nên Ngài trừng phạt Y-sơ-ra-ên.

8 Đa-vít thưa với Đức Chúa Trời: “Con đã phạm tội nặng quá khi làm điều nầy. Nhưng bây giờ, xin Chúa bỏ qua tội ác của con là đầy tớ Ngài vì con đã hành động một cách rất dại dột.”

9 Đức Giê-hô-va phán với Gát là nhà tiên kiến của Đa-vít rằng:

10 “Hãy đi nói với Đa-vít: Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta đưa ra cho con ba tai họa; hãy chọn một để ta giáng tai họa đó trên con.’”

11 Gát đến gặp và nói với Đa-vít: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy chọn cho con:

12 hoặc ba năm đói kém, hoặc ba tháng bị địch quân đánh bại và gươm của kẻ thù đuổi kịp, hoặc ba ngày chịu gươm của Đức Giê-hô-va trừng phạt, tức là ôn dịch trong xứ và thiên sứ của Đức Giê-hô-va hủy diệt toàn cõi Y-sơ-ra-ên.’ Vậy bây giờ, bệ hạ quyết định xem tôi phải thưa lại thế nào cùng Đấng đã sai tôi.”

13 Đa-vít nói với Gát: “Ta gặp hoạn nạn lớn. Thà ta sa vào tay Đức Giê-hô-va thì hơn, vì sự thương xót của Ngài rất lớn; đừng để ta sa vào tay loài người.”

14 Đức Giê-hô-va giáng ôn dịch xuống Y-sơ-ra-ên làm bảy mươi nghìn người Y-sơ-ra-ên ngã chết.

15 Đức Chúa Trời sai một thiên sứ đến để hủy diệt Giê-ru-sa-lem. Nhưng khi thấy thiên sứ đang hủy diệt thì Đức Giê-hô-va liền đổi ý về tai họa nầy, và truyền cho thiên sứ đang hủy diệt: “Đủ rồi! Hãy dừng tay lại.” Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng gần sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.

16 Đa-vít ngước mắt lên, thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng giữa không trung, tay cầm gươm đưa ra trên Giê-ru-sa-lem. Đa-vít và các trưởng lão đang mặc áo vải sô, liền sấp mình xuống đất.

17 Đa-vít thưa với Đức Chúa Trời: “Chẳng phải con đã truyền kiểm tra dân số sao? Vâng, chính con đã phạm tội và làm điều ác, nhưng bầy chiên nầy có làm gì nên tội? Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin tay Chúa đánh phạt con và nhà cha con, nhưng đừng giáng họa trên dân Ngài.”

18 Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va bảo Gát nói với Đa-vít rằng vua phải đi lên dựng một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.

19 Đa-vít đi lên theo lời của Gát đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói ra.

20 Ọt-nan xây lại, thấy thiên sứ; bốn con trai ông đang ở với ông đều đi trốn. Lúc ấy, Ọt-nan đang đập lúa mì.

21 Đa-vít đi đến Ọt-nan. Nhìn thấy Đa-vít, Ọt-nan liền ra khỏi sân đập lúa, sấp mình xuống trước mặt Đa-vít mà lạy.

22 Đa-vít bảo Ọt-nan: “Hãy nhượng cho ta sân đập lúa nầy. Hãy nhượng nó cho ta đúng giá để ta cất tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va hầu cho tai họa ngưng lại, không còn giáng trên dân chúng nữa.”

23 Ọt-nan thưa với Đa-vít: “Xin bệ hạ cứ lấy sân đập lúa! Xin chúa tôi cứ làm điều gì ngài thấy là tốt. Kìa, tôi dâng bò cho bệ hạ dùng làm tế lễ thiêu, bàn đập lúa dùng làm củi, còn lúa mì dùng làm tế lễ chay; tôi xin dâng tất cả.”

24 Vua Đa-vít nói với Ọt-nan: “Không, ta thật sự muốn mua nó đúng giá; vì ta không muốn lấy vật gì của ngươi mà dâng cho Đức Giê-hô-va, cũng không muốn dâng tế lễ thiêu chẳng tốn gì cả.”

25 Vậy, Đa-vít mua khu sân đập lúa ấy, trả cho Ọt-nan bằng siếc-lơ vàng, cân nặng khoảng bảy ký

26 Tại đó, Đa-vít xây một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, dâng các tế lễ thiêu, tế lễ bình an, và cầu khẩn Đức Giê-hô-va. Ngài đáp lời người bằng lửa từ trời giáng trên bàn thờ dâng tế lễ thiêu.

27 Đức Giê-hô-va truyền cho thiên sứ tra gươm vào vỏ.

28 Khi thấy Đức Giê-hô-va đã nhậm lời mình tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít, thì Đa-vít dâng sinh tế tại đó.

29 Vì bấy giờ Đền Tạm của Đức Giê-hô-va mà Môi-se đã dựng trong hoang mạc và bàn thờ dâng tế lễ thiêu vẫn còn ở nơi cao tại Ga-ba-ôn.

30 Đa-vít không dám đến trước bàn thờ ấy để cầu hỏi Đức Chúa Trời vì vua khiếp sợ gươm của thiên sứ Đức Giê-hô-va.

22

1 Đa vít nói: “Đây là đền thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và đây là bàn thờ để dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ thiêu.”

2 Đa-vít truyền lệnh tập hợp các người nước ngoài đang ở trong đất Y-sơ-ra-ên, rồi chỉ định họ làm thợ đá để chẻ đá xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời.

3 Đa-vít cũng dự bị nhiều sắt để làm đinh, bản lề cửa; còn đồng thì rất nhiều, không ai cân hết được.

4 Gỗ bá hương nhiều vô số, vì dân Si-đôn và Ty-rơ chở rất nhiều gỗ bá hương đến cho vua Đa-vít.

5 Đa-vít nói: “Sa-lô-môn, con trai ta, hãy còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, mà đền thờ sẽ xây cất cho Đức Giê-hô-va thì phải rất nguy nga, lộng lẫy và nổi tiếng khắp nơi. Vậy, ta phải chuẩn bị cho nó.” Vì thế, Đa-vít chuẩn bị rất nhiều vật liệu trước khi qua đời.

6 Bấy giờ, Đa-vít gọi con trai mình là Sa-lô-môn đến và truyền phải xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

7 Đa-vít nói với Sa-lô-môn: “Con ơi, cha có ý định xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha.

8 Nhưng lời của Đức Giê-hô-va phán với cha rằng: ‘Con đã làm đổ máu quá nhiều, đã đánh nhiều trận chiến lớn nên con sẽ không được xây cất đền thờ cho danh Ta, vì con đã làm đổ máu quá nhiều trên đất trước mặt Ta,

9 Kìa, con trai mà con sẽ sinh ra, nó sẽ là người của hòa bình. Ta sẽ ban hòa bình cho nó, các kẻ thù chung quanh sẽ không còn quấy nhiễu nó; vì thế, tên nó là Sa-lô-môn. Trong đời nó, Ta sẽ ban hòa bình an ổn cho Y-sơ-ra-ên.

10 Nó sẽ xây cất đền thờ cho danh Ta; nó sẽ làm con trai Ta và Ta sẽ làm cha nó. Ta sẽ lập ngôi nước nó vững bền đời đời trên Y-sơ-ra-ên.’

11 Nầy con trai ta, giờ đây, xin Đức Giê-hô-va ở với con và giúp con thành công trong việc xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, đúng như lời Ngài đã phán về con.

12 Xin Đức Giê-hô-va ban cho con sự khôn ngoan thông sáng để con cai trị trên Y-sơ-ra-ên và tuân giữ luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con.

13 Nếu con cẩn thận làm theo các lề luật và mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán bảo Môi-se truyền cho Y-sơ-ra-ên thì con sẽ được thành công. Hãy mạnh dạn và can đảm! Đừng sợ hãi, đừng nao núng!

14 Nầy, cha đã chịu bao gian khổ để chuẩn bị cho đền thờ của Đức Giê-hô-va ba nghìn tấn vàng, ba mươi nghìn tấn bạc; còn đồng và sắt thì không thể cân hết được, vì nhiều quá. Cha cũng chuẩn bị gỗ và đá nữa, nhưng con phải thêm vào nữa.

15 Hơn nữa, con có nhiều nhân công, thợ đá, thợ nề, thợ mộc, đủ người thành thạo các thứ công việc;

16 thợ vàng, bạc, đồng, và sắt thì nhiều vô số. Nào, hãy bắt tay vào việc! Đức Giê-hô-va sẽ ở với con.”

17 Đa-vít cũng truyền dặn tất cả các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên giúp đỡ Sa-lô-môn, con mình:

18 “Chẳng phải Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ở với các ngươi sao? Ngài đã ban cho các ngươi được an ổn tứ phía. Vì Ngài đã phó dân cư trong xứ vào tay ta, và xứ sở nầy phải khuất phục trước mặt Đức Giê-hô-va và dân Ngài.

19 Vậy bây giờ, hãy hết lòng hết ý tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Hãy bắt đầu xây cất đền thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời, để rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va và các dụng cụ thánh của Đức Chúa Trời vào trong đền thờ được xây cất cho danh của Đức Giê-hô-va.”

23

1 Khi vua Đa-vít đã già và cao tuổi, thì vua lập Sa-lô-môn, con trai mình, làm vua Y-sơ-ra-ên.

2 Vua tập hợp các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên cùng các thầy tế lễ và người Lê-vi.

3 Người ta kiểm tra số người Lê-vi từ ba mươi tuổi trở lên, tổng số người đếm được là ba mươi tám nghìn.

4 Trong số họ, có hai mươi bốn nghìn người được chỉ định cai quản công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va, sáu nghìn người làm quan chức và thẩm phán,

5 bốn nghìn người làm người gác cổng, và bốn nghìn người ca ngợi Đức Giê-hô-va với nhạc khí mà Đa-vít đã làm để dùng vào việc ca ngợi Chúa.

6 Đa-vít phân chia họ thành từng ban theo ba con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.

7 Về con cháu Ghẹt-sôn có La-ê-đan và Si-mê-i.

8 Các con của La-ê-đan: đứng đầu là Giê-hi-ên, kế đến Xê-tham và Giô-ên, tất cả là ba người.

9 Các con của Si-mê-i là Sê-lô-mốt, Ha-xi-ên, và Ha-ran, tất cả là ba người. Đó là các trưởng gia tộc của dòng tộc La-ê-đan.

10 Các con của Si-mê-i là Gia-hát, Xi-na, Giê-úc, và Bê-ri-a. Đó là bốn con trai của Si-mê-i.

11 Đứng đầu là Gia-hát, và thứ nhì là Xi-xa; nhưng Giê-úc và Bê-ri-a không có con cháu nhiều nên họ được kể chung như một gia tộc.

12 Các con của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, U-xi-ên, tất cả là bốn người.

13 Các con của Am-ram là A-rôn và Môi-se; A-rôn và con cháu ông được biệt riêng ra để dâng các vật chí thánh, và vĩnh viễn xông hương, phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va, và nhân danh Ngài mà chúc phước cho dân chúng đến đời đời.

14 Còn về Môi-se, người của Đức Chúa Trời, các con trai ông đều được kể vào bộ tộc Lê-vi.

15 Các con của Môi-se là Ghẹt-sôm và Ê-li-ê-xe.

16 Trong các con của Ghẹt-sôm thì Sê-bu-ên đứng đầu.

17 Trong các con của Ê-li-ê-xe thì Rê-ha-bia đứng đầu; Ê-li-ê-xe không có con trai nào khác, nhưng Rê-ha-bia thì có rất nhiều con trai.

18 Trong các con của Dít-sê-ha thì Sê-lô-mít đứng đầu.

19 Trong các con của Hếp-rôn thì Giê-ri-gia đứng đầu, thứ nhì là A-ma-ria, thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và thứ tư là Giê-ca-mê-am.

20 Trong các con của U-xi-ên thì Mi-ca đứng đầu, và thứ nhì là Di-si-gia.

21 Các con của Mê-ra-ri là Mác-li và Mu-si. Các con của Mác-li là Ê-lê-a-sa và Kích.

22 Ê-lê-a-sa chết, không có con trai, chỉ có các con gái mà thôi; các con trai của Kích là anh em bà con của họ cưới họ làm vợ.

23 Các con của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-rê-mốt, tất cả là ba người.

24 Đó là các con cháu của Lê-vi theo dòng tộc của họ, tức là trưởng gia tộc của những người được đăng ký theo tên từng người, từ hai mươi tuổi trở lên; họ phục vụ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.

25 Vì Đa-vít nói rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban cho dân Ngài được an cư, và Ngài ngự tại Giê-ru-sa-lem đời đời,

26 nên người Lê-vi sẽ không còn phải khiêng vác Đền Tạm hay là các dụng cụ phục vụ Đền Tạm nữa.”

27 Theo di chúc của Đa-vít, người ta kiểm tra dân số người Lê-vi, từ hai mươi tuổi trở lên.

28 Nhiệm vụ của họ là ở bên cạnh con cháu A-rôn để làm công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va, canh giữ hành lang và các phòng, giữ tinh sạch các vật thánh, và làm bất cứ công việc nào liên quan đến đền thờ Đức Chúa Trời như:

29 chuẩn bị bánh cung hiến, bột lọc dùng làm tế lễ chay, bánh tráng không men, các thức nướng trên vỉ, tế lễ trộn với dầu, và các dụng cụ đo lường.

30 Mỗi buổi sáng và buổi chiều, họ phải đứng tại đó cảm tạ và ca ngợi Đức Giê-hô-va.

31 Còn mỗi ngày sa-bát, ngày lễ trăng mới, và những ngày lễ lớn, thì họ phải liên tục giúp dâng trước mặt Đức Giê-hô-va những tế lễ thiêu thường xuyên dâng lên Đức Giê-hô-va theo luật định về tế lễ ấy.

32 Họ cũng lo coi sóc Lều Hội Kiến và Nơi Thánh, cùng giúp đỡ con cháu A-rôn, là anh em mình, để phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va.

24

1 Con cháu của A-rôn được phân chia thành nhiều ban. Các con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.

2 Na-đáp và A-bi-hu chết trước cha mình và không có con nên Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma giữ chức tế lễ.

3 Đa-vít cùng với Xa-đốc, con cháu Ê-lê-a-sa, và A-hi-mê-léc, con cháu Y-tha-ma, phân chia con cháu A-rôn thành nhiều ban theo nhiệm vụ của họ.

4 Vì trong con cháu Ê-lê-a-sa có nhiều trưởng gia tộc hơn con cháu Y-tha-ma nên họ phân chia như sau: Con cháu Ê-lê-a-sa có mười sáu trưởng gia tộc, và con cháu Y-tha-ma có tám trưởng gia tộc.

5 Họ phân chia bằng cách bắt thăm từng ban, hết ban nầy đến ban kia; vì các viên chức của nơi thánh và các viên chức của Đức Chúa Trời đều thuộc trong số con cháu Ê-lê-a-sa và con cháu Y-tha-ma.

6 Thư ký Sê-ma-gia, con của Na-tha-na-ên, thuộc bộ tộc Lê-vi, ghi tên của họ vào sổ trước mặt vua và các nhà lãnh đạo, trước mặt thầy tế lễ Xa-đốc, A-hi-mê-léc con của A-bia-tha, và trước mặt các trưởng gia tộc của những thầy tế lễ và người Lê-vi. Họ bắt thăm cứ mỗi gia tộc thuộc con cháu Ê-lê-a-sa thì đến một gia tộc thuộc con cháu Y-tha-ma.

7 Thăm thứ nhất trúng nhằm Giê-hô-gia-ríp, thăm thứ nhì trúng Giê-đa-ê-gia,

8 thăm thứ ba trúng Ha-rim, thăm thứ tư trúng Sê-ô-rim,

9 thăm thứ năm trúng Manh-kia, thăm thứ sáu trúng Mia-min,

10 thăm thứ bảy trúng Ha-cốt, thăm thứ tám trúng A-bi-gia,

11 thăm thứ chín trúng Giê-sua, thăm thứ mười trúng Sê-ca-nia,

12 thăm thứ mười một trúng Ê-li-a-síp, thăm thứ mười hai trúng Gia-kim,

13 thăm thứ mười ba trúng Húp-pa, thăm thứ mười bốn trúng Giê-sê-báp,

14 thăm thứ mười lăm trúng Binh-ga, thăm thứ mười sáu trúng Y-mê,

15 thăm thứ mười bảy trúng Hê-xia, thăm thứ mười tám trúng Phi-xết,

16 thăm thứ mười chín trúng Phê-ta-hia, thăm thứ hai mươi trúng Ê-xê-chi-ên,

17 thăm thứ hai mươi mốt trúng Gia-kin, thăm thứ hai mươi hai trúng Ga-mun,

18 thăm thứ hai mươi ba trúng Đê-la-gia, thăm thứ hai mươi bốn trúng Ma-a-xia.

19 Trên đây là các phân ban của họ để vào phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va theo quy định của A-rôn, tổ phụ họ, đã thiết lập, đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền.

20 Các con cháu còn lại của Lê-vi gồm có: Trong con cháu Am-ram có Su-ba-ên; trong con cháu Su-ba-ên có Giê-đia;

21 trong con cháu Rê-ha-bia có Di-si-gia đứng đầu;

22 trong con cháu Dít-sê-ha có Sê-lô-mít; trong con cháu Sê-lô-mốt có Gia-hát;

23 trong con cháu Hếp-rôn có Giê-ri-gia đứng đầu, thứ nhì là A-ma-ria, thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và thứ tư là Gia-ca-mê-am;

24 trong con cháu U-xi-ên có Mi-ca; trong con cháu Mi-ca có Sa-mia.

25 Anh em của Mi-ca là Di-si-gia; trong con cháu Di-si-gia có Xa-cha-ri.

26 Các con của Mê-ra-ri là Mác-li, Mu-si và Gia-a-xi-gia.

27 Gia-a-xi-gia, con của Mê-ra-ri, có ba người con là Sô-ham, Xác-cua, và Y-bê-ri.

28 Con của Mác-li là Ê-lê-a-sa, là người không có con trai.

29 Trong con cháu Kích có Giê-rác-mê-ên.

30 Các con của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-ri-mốt. Đó là con cháu Lê-vi, theo dòng tộc của họ.

31 Cũng như anh em mình, là con cháu A-rôn, họ được bắt thăm trước mặt vua Đa-vít, Xa-đốc, A-hi-mê-léc, và trước mặt các trưởng gia tộc của những thầy tế lễ và người Lê-vi. Trưởng gia tộc cũng như người em út mình đều được bắt thăm.

25

1 Đa-vít và các viên chức phục vụ đền thờ cũng để riêng ra một số người trong con cháu của A-sáp, Hê-man và Giê-đu-thun để nói tiên tri theo tiếng đàn hạc, đàn lia, và chập chõa. Số người phục vụ theo trách nhiệm của họ như sau:

2 Trong số các con của A-sáp có Xác-cua, Giô-sép, Nê-tha-nia, và A-sa-rê-la; những người con nầy của A-sáp ở dưới quyền cai quản của A-sáp, còn ông thì nói tiên tri dưới quyền của vua.

3 Trong các con của Giê-đu-thun có Ghê-đa-lia, Xê-ri, Ê-sai, Ha-sa-bia, Ma-ti-thia, và Si-mê-i; tất cả là sáu người đều ở dưới quyền cai quản của cha họ là Giê-đu-thun, dùng đàn hạc mà nói tiên tri, cảm tạ và ca ngợi Đức Giê-hô-va.

4 Trong các con của Hê-man có Búc-ki-gia, Ma-tha-nia, U-xi-ên, Sê-bu-ên, Giê-ri-mốt, Ha-na-nia, Ha-na-ni, Ê-li-a-tha, Ghi-đanh-thi, Rô-mam-ti Ê-xe, Giốt-bê-ca-sa, Ma-lô-thi, Hô-thia, và Ma-ha-xi-ốt.

5 Tất cả những người nầy đều là con của Hê-man, nhà tiên kiến của vua, được ban cho theo lời của Đức Chúa Trời để tôn cao Ngài. Đức Chúa Trời ban cho Hê-man mười bốn con trai và ba con gái.

6 Tất cả những người nầy đều ở dưới quyền cai quản của cha họ để lo việc ca hát trong đền thờ Đức Giê-hô-va với chập chõa, đàn lia và đàn hạc, để phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời. A-sáp, Giê-đu-thun, và Hê-man đều ở dưới quyền của vua.

7 Họ luôn cùng với anh em mình tập luyện ca ngợi Đức Giê-hô-va, tổng số người thông thạo việc ca hát là hai trăm tám mươi tám người.

8 Họ đều bắt thăm chia phiên phục vụ, người lớn cũng như kẻ nhỏ, người thông thạo cũng như kẻ học việc.

9 Thăm thứ nhất trúng nhằm Giô-sép thuộc dòng A-sáp; thăm thứ nhì trúng Ghê-đa-lia, cùng với anh em và các con của ông, tất cả là mười hai người;

10 thăm thứ ba trúng Xác-cua, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

11 thăm thứ tư trúng Dít-sê-ri, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

12 thăm thứ năm trúng Nê-tha-nia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

13 thăm thứ sáu trúng Búc-ki-gia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

14 thăm thứ bảy trúng Giê-sa-rê-la, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

15 thăm thứ tám trúng Ê-sai, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

16 thăm thứ chín trúng Ma-tha-nia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

17 thăm thứ mười trúng Si-mê-i, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

18 thăm thứ mười một trúng A-xa-rên, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

19 thăm thứ mười hai trúng Ha-sa-bia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

20 thăm thứ mười ba trúng Su-ba-ên, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

21 thăm thứ mười bốn trúng Ma-ti-thia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

22 thăm thứ mười lăm trúng Giê-rê-mốt, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

23 thăm thứ mười sáu trúng Ha-na-nia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

24 thăm thứ mười bảy trúng Giốt-bê-ca-sa, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

25 thăm thứ mười tám trúng Ha-na-ni, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

26 thăm thứ mười chín trúng Ma-lô-thi, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

27 thăm thứ hai mươi trúng Ê-li-gia-ta, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

28 thăm thứ hai mươi mốt trúng Hô-thia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

29 thăm thứ hai mươi hai trúng Ghi-đanh-thi, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

30 thăm thứ hai mươi ba trúng Ma-ha-xi-ốt, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;

31 thăm thứ hai mươi bốn trúng Rô-mam-ti Ê-xe, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người.

26

1 Những người gác cổng được chia nhóm như sau: Dòng Cô-ra có Mê-sê-lê-mia, con của Cô-rê, cháu của A-sáp.

2 Các con trai của Mê-sê-lê-mia: Con trưởng là Xa-cha-ri, con thứ nhì là Giê-đi-a-ên, con thứ ba là Xê-ba-đia, con thứ tư là Giát-ni-ên,

3 con thứ năm là Ê-lam, con thứ sáu là Giô-ha-nan, và con thứ bảy là Ê-li-ô-ê-nai.

4 Các con trai của Ô-bết Ê-đôm: Con trưởng là Sê-ma-gia, con thứ nhì là Giê-hô-xa-bát, con thứ ba là Giô-a, con thứ tư là Sa-ca, con thứ năm là Nê-ta-nên,

5 con thứ sáu là A-mi-ên, con thứ bảy là Y-sa-ca, và con thứ tám là Phê-u-lê-tai; vì Đức Chúa Trời đã ban phước cho Ô-bết Ê-đôm.

6 Sê-ma-gia, con trai Ô-bết Ê-đôm, cũng sinh những người con có uy thế đối với gia tộc của họ vì họ là những dũng sĩ.

7 Các con của Sê-ma-gia là Ốt-ni, Rê-pha-ên, Ô-bết, Ên-xa-bát, và anh em họ là Ê-li-hu và Sê-ma-kia, đều là những người dũng cảm.

8 Tất cả những người nầy là con cháu của Ô-bết Ê-đôm; họ cùng với các con và anh em của họ đều là người dũng cảm và có khả năng làm việc, cộng sáu mươi hai người thuộc về dòng Ô-bết Ê-đôm.

9 Mê-sê-lê-mia có những người con và anh em đều là người dũng cảm, cộng mười tám người.

10 Hô-sa, thuộc dòng Mê-ra-ri, cũng có những người con: Đứng đầu là Sim-ri dù ông không phải là con đầu lòng vì cha của ông lập ông làm con trưởng;

11 con thứ nhì là Hinh-kia, con thứ ba là Tê-ba-lia, và con thứ tư là Xa-cha-ri. Tất cả các con và anh em của Hô-sa được mười ba người.

12 Những nhóm gác cổng nầy cùng với các trưởng nhóm theo phiên thứ mà phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va như anh em mình.

13 Họ theo gia tộc mình mà bắt thăm gác cổng, kẻ nhỏ cũng như người lớn.

14 Thăm giữ cổng đông trúng nhằm Sê-lê-mia. Rồi người ta bắt thăm giữ cổng bắc trúng nhằm con trai Sê-lê-mia là Xa-cha-ri, một cố vấn khôn ngoan.

15 Thăm giữ cổng nam trúng nhằm Ô-bết Ê-đôm; còn các con trai ông, canh giữ kho tàng.

16 Súp-pim và Hô-sa bắt thăm giữ cổng tây gần cổng Sa-lê-kết, cạnh con đường lên dốc. Trạm gác nầy đối diện trạm gác kia.

17 Mỗi ngày có sáu người Lê-vi gác cổng đông, bốn người ở cổng bắc, bốn người ở cổng nam, còn các kho tàng thì mỗi cổng hai người.

18 Tại Pạt-ba về phía tây cũng có người canh gác: trên đường có bốn người, và ngay tại Pạt-ba có hai người.

19 Đó là các nhóm gác cổng thuộc con cháu của Cô-ra và Mê-ra-ri.

20 Trong số những người Lê-vi, A-hi-gia phụ trách các kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời và kho tàng các vật thánh.

21 Con cháu La-ê-đan, thuộc dòng dõi Ghẹt-sôn, làm trưởng các gia tộc của La-ê-đan, con cháu Ghẹt-sôn, là Giê-hi-ê-li.

22 Các con của Giê-hi-ê-li là Xê-tham và em là Giô-ên, chịu trách nhiệm quản lý các kho tàng của đền thờ Đức Giê-hô-va.

23 Trong các dòng Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên,

24 có Sê-bu-ên, con cháu Ghẹt-sôm, con của Môi-se, là viên chức phụ trách các kho tàng.

25 Các anh em của Sê-bu-ên, là con cháu của Ê-li-ê-xe, có Rê-ha-bia, con của Ê-li-ê-xe; Ê-sai, con của Rê-ha-bia; Giô-ram, con của Ê-sai; Xiếc-ri, con của Giô-ram, và Sê-lô-mít, con của Xiếc-ri.

26 Chính Sê-lô-mít và anh em của ông chịu trách nhiệm quản lý các vật thánh mà vua Đa-vít, các trưởng tộc, chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, cùng các tướng lãnh quân đội đã biệt riêng ra thánh.

27 Họ biệt riêng ra thánh những chiến lợi phẩm đã đoạt được trong chiến trận, để dùng vào việc tu bổ đền thờ Đức Giê-hô-va.

28 Tất cả các phẩm vật mà nhà tiên kiến Sa-mu-ên, Sau-lơ (con của Kích), Áp-ne (con của Nê-rơ), và Giô-áp (con của Xê-ru-gia), đã biệt riêng ra thánh, cùng tất cả các vật thánh khác đều ở dưới quyền quản lý của Sê-lô-mít và các anh em ông.

29 Trong dòng Dít-sê-ha, Kê-na-nia và các con của ông được lập lên làm các viên chức và thẩm phán để phụ trách các công tác bên ngoài của Y-sơ-ra-ên.

30 Trong dòng Hếp-rôn, Ha-sa-bia và anh em ông đều là dũng sĩ, tất cả được một nghìn bảy trăm người; họ quản lý dân Y-sơ-ra-ên bên kia sông Giô-đanh về phía tây, coi sóc các công việc của Đức Giê-hô-va và phục vụ vua.

31 Trong dòng Hếp-rôn có Giê-ri-gia làm trưởng gia tộc. Vào năm thứ bốn mươi đời trị vì của Đa-vít, người ta kiểm tra dân số của dòng Hếp-rôn, theo từng gia tộc của họ, và thấy giữa vòng họ có những người mạnh dạn tại Gia-ê-xe trong xứ Ga-la-át.

32 Các anh em của Giê-ri-gia đều là những dũng sĩ, gồm hai nghìn bảy trăm người, làm trưởng gia tộc. Vua Đa-vít lập họ cai quản người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se, để đặc trách các công việc của Đức Chúa Trời và công việc của vua.

27

1 Quân Y-sơ-ra-ên được thống kê gồm các trưởng gia tộc, các chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, các quan chức phục vụ vua trong tất cả công tác có liên quan đến các binh đoàn. Các binh đoàn luân phiên phục vụ mỗi năm một tháng. Mỗi binh đoàn có hai mươi bốn nghìn quân.

2 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ nhất phụ trách tháng giêng là Gia-sô-bê-am, con của Xáp-đi-ên. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

3 Ông thuộc về dòng Phê-rết, đứng đầu các vị chỉ huy quân đội trong tháng giêng.

4 Chỉ huy trưởng binh đoàn phụ trách tháng hai là Đô-đai người A-hô-hi, có Mích-lô làm chỉ huy phó. Binh đoàn nầy có hai mươi bốn nghìn quân.

5 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ ba phụ trách tháng ba là Bê-na-gia, con của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

6 Bê-na-gia là một dũng sĩ trong Nhóm Ba Mươi và đứng đầu nhóm nầy. Am-mi-xa-bát, con trai của ông cũng ở trong binh đoàn nầy.

7 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ tư phụ trách tháng tư là A-sa-ên, em của Giô-áp, và sau ông có con ông là Xê-ba-đia thay thế. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

8 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ năm phụ trách tháng năm là Sa-mê-hút, người Gít-ra. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

9 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ sáu phụ trách tháng sáu là Y-ra, con của Y-ke ở Thê-cô-a. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

10 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ bảy phụ trách tháng bảy là Hê-lết, thuộc bộ tộc Ép-ra-im ở Pha-lôn. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

11 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ tám phụ trách tháng tám là Si-bê-cai ở Hu-sa, thuộc về dòng Xê-rách. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

12 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ chín phụ trách tháng chín là A-bi-ê-xe, thuộc bộ tộc Bên-gia-min ở A-na-tốt. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

13 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ mười phụ trách tháng mười là Ma-ha-rai, thuộc dòng Xê-rách ở Nê-tô-pha. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

14 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ mười một phụ trách tháng mười một là Bê-na-gia, thuộc bộ tộc Ép-ra-im ở Phi-ra-thôn. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

15 Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ mười hai phụ trách tháng chạp là Hiên-đai, thuộc dòng Ốt-ni-ên ở Nê-tô-pha. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.

16 Đây là trưởng các bộ tộc Y-sơ-ra-ên: Ê-li-ê-xe, con của Xiếc-ri, trưởng bộ tộc Ru-bên; Sê-pha-tia, con của Ma-a-ca, trưởng bộ tộc Si-mê-ôn;

17 Ha-sa-bia, con của Kê-mu-ên, trưởng bộ tộc Lê-vi; còn Xa-đốc lãnh đạo con cháu A-rôn;

18 Ê-li-hu, anh em của Đa-vít, trưởng bộ tộc Giu-đa; Ôm-ri, con của Mi-ca-ên, trưởng bộ tộc Y-sa-ca;

19 Dít-ma-hia, con của Ô-ba-đia, trưởng bộ tộc Sa-bu-lôn; Giê-ri-mốt, con của Át-ri-ên, trưởng bộ tộc Nép-ta-li;

20 Ô-sê, con của A-xa-xia, trưởng bộ tộc Ép-ra-im; Giô-ên, con của Phê-đa-gia, lãnh đạo nửa bộ tộc Ma-na-se;

21 Gi-đô, con của Xa-cha-ri, lãnh đạo nửa bộ tộc Ma-na-se tại xứ Ga-la-át; Gia-a-xi-ên, con của Áp-ne, trưởng bộ tộc Bên-gia-min;

22 A-xa-rên, con của Giê-rô-ham, trưởng bộ tộc Đan. Đó là trưởng của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.

23 Đa-vít không kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi trở xuống, vì Đức Giê-hô-va đã hứa sẽ làm tăng dân số Y-sơ-ra-ên đông như sao trên trời.

24 Giô-áp, con của Xê-ru-gia, bắt đầu cuộc kiểm tra dân số nhưng không hoàn tất được. Vì việc nầy mà Chúa giáng cơn thịnh nộ trên Y-sơ-ra-ên, và số thống kê ấy không được ghi vào biên niên sử của vua Đa-vít.

25 Ách-ma-vết, con của A-đi-ên, quản lý các kho tàng của vua; Giô-na-than, con của U-xi-gia, quản lý các kho tàng ở đồng ruộng, trong các thành phố, làng mạc, và trong những đồn lũy.

26 Ết-ri, con của Kê-lúp, cai quản các nông dân canh tác ngoài đồng ruộng;

27 Sim-ri, người Ra-ma, coi sóc các vườn nho; còn Xáp-đi, người Sê-pham, coi sóc kho rượu trong vườn nho;

28 Ba-anh Ha-nan, người Ghê-đe, coi sóc các cây ô-liu và cây sung ở vùng Sơ-phê-la; còn Giô-ách coi sóc các kho dầu;

29 Sít-trai, người Sa-rôn, coi sóc các bầy bò ăn cỏ ở Sa-rôn; còn Sa-phát, con của Át-lai, coi sóc các bầy bò trong thung lũng;

30 Ô-binh, người Ích-ma-ên, coi sóc các lạc đà; Giê-đia, người Mê-rô-nốt, coi sóc các lừa cái; Gia-xít, người Ha-ga-rít, coi sóc các bầy chiên.

31 Tất cả những người nầy đều là viên chức quản lý các sản nghiệp của vua Đa-vít.

32 Giô-na-than, cậu của Đa-vít, làm cố vấn, là một người thông thái và thạo kinh luật; chính ông cùng với Giê-hi-ên con của Hác-mô-ni, chăm sóc các hoàng tử.

33 A-hi-tô-phên là cố vấn của vua; Hu-sai, người Ạt-kít, là bạn thân của vua.

34 Sau A-hi-tô-phên có Giê-hô-gia-đa, con của Bê-na-gia, rồi đến A-bia-tha. Giô-áp làm chỉ huy trưởng quân đội của vua.

28

1 Đa-vít triệu tập về Giê-ru-sa-lem tất cả các quan chức Y-sơ-ra-ên gồm các trưởng bộ tộc, các trưởng nhóm phục vụ vua, chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, những người quản lý sản nghiệp của vua và chăm sóc các hoàng tử, cùng với các quan thái giám và những dũng sĩ.

2 Vua Đa-vít đứng dậy và nói: “Hỡi anh em và đồng bào, hãy nghe! Ta đã có ý định xây cất một đền thờ làm nơi đặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, làm bệ chân cho Đức Chúa Trời chúng ta. Ta đã chuẩn bị vật liệu để xây cất.

3 Nhưng Đức Chúa Trời phán với ta rằng: ‘Con không được xây cất đền thờ cho danh Ta, vì con là một chiến sĩ và đã làm đổ máu quá nhiều.’

4 Tuy nhiên, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã chọn ta giữa bao nhiêu người trong cả nhà cha ta, để làm vua Y-sơ-ra-ên mãi mãi. Vì Ngài đã chọn bộ tộc Giu-đa để lãnh đạo, và trong nhà Giu-đa, Ngài chọn gia đình của cha ta, rồi trong số các con trai của cha ta, Ngài vui lòng chọn và lập ta làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên.

5 Đức Giê-hô-va đã ban cho ta có nhiều con trai; trong các con trai ấy, Ngài đã chọn Sa-lô-môn, con ta, đặt ngồi trên ngai của vương quốc Đức Giê-hô-va để cai trị Y-sơ-ra-ên.

6 Ngài phán với ta rằng: ‘Sa-lô-môn, con trai của con, sẽ xây cất đền thờ và các hành lang của Ta; vì Ta đã chọn nó làm con Ta, và Ta sẽ làm cha nó.

7 Nếu nó tiếp tục tuân giữ các điều răn và luật lệ Ta như ngày nay, thì Ta sẽ làm cho vương quốc nó được bền vững đời đời.’

8 Vậy bây giờ, trước mặt toàn thể Y-sơ-ra-ên, là hội chúng của Đức Giê-hô-va, có Đức Chúa Trời chúng ta đang nghe, ta truyền các ngươi hãy tìm kiếm và tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, để các ngươi nhận lấy xứ tốt đẹp nầy và để lại cho con cháu các ngươi làm cơ nghiệp đời đời.

9 Còn con, Sa-lô-môn, con của cha, hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng hết ý mà phụng sự Ngài; vì Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng, và phân biệt các ý tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ cho con gặp được; nhưng nếu con lìa bỏ Ngài, hẳn Ngài sẽ từ bỏ con đời đời.

10 Bây giờ, hãy cẩn thận, vì Đức Giê-hô-va đã chọn con để xây cất một đền thờ dùng làm nơi thánh của Ngài. Hãy mạnh dạn làm đi!”

11 Bấy giờ, Đa-vít trao cho Sa-lô-môn, con trai vua, đồ án của tiền sảnh, đền thờ, các kho tàng, tầng lầu, nội điện của đền thờ, và nắp thi ân.

12 Vua cũng trao cho Sa-lô-môn các đồ án mà Thánh Linh cho vua biết về các sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, về các phòng chung quanh, về những kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời, và về các kho để vật thánh;

13 về việc phân công các thầy tế lễ và người Lê-vi; về các công việc trong đền thờ Đức Giê-hô-va, và về tất cả vật dụng phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va.

14 Vua ấn định số lượng vàng cho tất cả các vật dụng làm bằng vàng để dùng trong mỗi công việc, và số lượng bạc cho tất cả các vật dụng làm bằng bạc để dùng trong mỗi công việc;

15 số lượng vàng để làm các chân đèn và đèn bằng vàng, với số lượng của mỗi chân đèn và đèn; số lượng bạc để làm các chân đèn và đèn bằng bạc, tùy cách dùng của mỗi chân đèn.

16 Vua cũng ấn định số lượng vàng cho các bàn để bánh cung hiến, và số lượng bạc cho những bàn bằng bạc;

17 số lượng vàng cho các nĩa, chậu, và ly bằng vàng ròng; cho các chén vàng, và số lượng của mỗi cái; cho các chén bạc, và số lượng của mỗi cái.

18 Vua chỉ dẫn về bàn thờ xông hương bằng vàng, với số lượng vàng tinh luyện; và kiểu mẫu xe với các chê-ru-bim bằng vàng xòe cánh ra che trên Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.

19 Đa-vít nói: “Tất cả các công việc nầy nằm trong dự án do tay Đức Giê-hô-va ở trên ta và soi sáng cho ta về mọi chi tiết của đồ án.”

20 Đa-vít lại nói với Sa-lô-môn, con mình rằng: “Hãy mạnh mẽ và can đảm mà làm! Đừng sợ hãi, đừng nản lòng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của cha, ở với con. Ngài chẳng hề từ bỏ con, cũng chẳng hề lìa khỏi con cho đến khi hoàn tất các công việc xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va.

21 Kìa, các ban thầy tế lễ và người Lê-vi sẵn sàng làm tất cả các công việc của đền thờ Đức Chúa Trời. Trong bất cứ công việc nào, con cũng có những người thạo nghề vui lòng giúp làm mọi việc. Tất cả các quan chức và toàn dân đều sẽ vâng theo lệnh của con.”

29

1 Đa-vít nói với toàn thể hội chúng: “Sa-lô-môn, con ta, người duy nhất được Đức Chúa Trời chọn, hãy còn trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, mà công việc lại lớn lao; vì đền thờ đó chẳng phải xây cất cho loài người đâu, nhưng là cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

2 Ta đã hết sức chuẩn bị cho đền thờ của Đức Chúa Trời ta, nào vàng để làm đồ bằng vàng, nào bạc để làm đồ bằng bạc, nào đồng để làm đồ bằng đồng, nào sắt để làm đồ bằng sắt, nào gỗ để làm đồ bằng gỗ; lại sắm những ngọc bích, ngọc để khảm, ngọc chiếu sáng, ngọc đủ các màu, và các thứ đá quý, cùng đá cẩm thạch trắng rất nhiều.

3 Vì lòng ta yêu mến đền thờ của Đức Chúa Trời, nên ngoài những gì đã chuẩn bị cho đền thánh, ta cũng dâng cho đền thờ Đức Chúa Trời các đồ bằng vàng và bằng bạc thuộc riêng về ta,

4 tức là chín mươi tấn vàng Ô-phia, và hai trăm mười tấn bạc tinh luyện để dùng bọc các vách đền thờ;

5 vàng để làm những vật bằng vàng, bạc để làm những vật bằng bạc, và để thợ thủ công làm các việc khác. Vậy ngày nay, ai là người sẵn sàng dâng hiến rộng rãi cho Đức Giê-hô-va?”

6 Bấy giờ, các trưởng gia tộc, các trưởng bộ tộc Y-sơ-ra-ên, các chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm người, các người quản lý công việc của vua đều

7 dâng hiến cho công việc đền thờ Đức Chúa Trời. Họ dâng một trăm năm mươi tấn vàng, mười nghìn đồng đa-riếc, ba trăm tấn bạc, năm trăm bốn mươi tấn đồng, và ba nghìn tấn sắt.

8 Ai có đá quý thì giao cho Giê-bi-ên về dòng Ghẹt-sôn, để dâng vào kho của Đức Giê-hô-va.

9 Dân chúng vui mừng về điều mình đã tự nguyện và hết lòng dâng hiến cho Đức Giê-hô-va. Vua Đa-vít cũng rất vui mừng.

10 Trước mắt toàn thể hội chúng, Đa-vít chúc tụng Đức Giê-hô-va rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con là Y-sơ-ra-ên! Đáng chúc tụng Ngài cho đến đời đời vô cùng!

11 Lạy Đức Giê-hô-va! Sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng quy về Ngài; vì muôn vật trên các tầng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! Vương quốc thuộc về Ngài; Ngài được tôn làm Chúa Tể của muôn vật.

12 Cả sự giàu có và vinh quang đều do Chúa mà đến. Chúa quản trị trên muôn vật, quyền năng và thế lực ở trong tay Ngài. Tay Chúa ban sự tôn trọng và sức mạnh cho mọi người.

13 Bây giờ, Đức Chúa Trời chúng con ôi! Chúng con cảm tạ Chúa và ca ngợi danh vinh quang của Ngài.

14 Nhưng con là ai và dân tộc con là gì mà chúng con có sức dâng hiến như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến, và những vật chúng con đã dâng lên Chúa chẳng qua là đã thuộc về Ngài.

15 Vì trước mặt Chúa, chúng con vốn là khách lạ và kẻ tạm cư như các tổ phụ chúng con. Các ngày chúng con trên đất khác nào cái bóng thoáng qua, không chút hi vọng.

16 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con! Các vật liệu mà chúng con đã chuẩn bị để xây cất đền thờ cho danh thánh của Chúa, đều do tay Chúa mà đến, và tất cả đều thuộc về Ngài.

17 Lạy Đức Chúa Trời của con! Con biết rằng Chúa dò xét lòng người và vui về điều ngay thẳng. Về phần con, con vui lòng dâng các vật nầy với lòng chân thành của con. Bây giờ, con thấy dân Chúa ở đây cũng hiến dâng cho Chúa cách vui lòng.

18 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các tổ phụ chúng con là Áp-ra-ham, Y-sác, và Y-sơ-ra-ên! Xin cho dân Chúa luôn giữ ước nguyện và tư tưởng ấy trong lòng, và khiến lòng họ hướng về Chúa.

19 Xin Chúa ban cho Sa-lô-môn, con của con, một lòng trọn vẹn để tuân giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Chúa, đồng thời làm mọi việc để xây cất đền thờ mà con đã chuẩn bị sẵn sàng.”

20 Đa-vít nói với cả hội chúng: “Hãy chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.” Cả hội chúng liền chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, cúi đầu thờ lạy Đức Giê-hô-va, và cúi chào vua.

21 Qua ngày sau, họ vì toàn dân Y-sơ-ra-ên dâng sinh tế và tế lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va gồm một nghìn con bò đực, một nghìn con chiên đực, một nghìn con chiên con, cùng các lễ quán cặp theo và nhiều tế lễ khác.

22 Trong ngày ấy, họ ăn uống rất vui vẻ trước mặt Đức Giê-hô-va. Lần thứ nhì, họ tôn con trai Đa-vít là Sa-lô-môn lên làm vua. Họ nhân danh Đức Giê-hô-va xức dầu cho Sa-lô-môn làm vua và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ.

23 Bấy giờ, Sa-lô-môn ngồi trên ngôi của Đức Giê-hô-va, làm vua thế cho Đa-vít, cha người. Người được hưng thịnh và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều vâng lệnh người.

24 Các quan chức, các dũng sĩ, và các con trai của vua Đa-vít đều phục tùng vua Sa-lô-môn.

25 Đức Giê-hô-va làm cho Sa-lô-môn rất được tôn trọng trước mặt toàn thể Y-sơ-ra-ên, và ban cho vua vẻ oai nghi, đến nỗi trong Y-sơ-ra-ên chẳng có một vua nào trước người được như vậy.

26 Đa-vít, con trai Gie-sê, cai trị trên cả Y-sơ-ra-ên.

27 Vua cai trị trên Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm: Tại Hếp-rôn bảy năm, và tại Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.

28 Vua băng hà, tuổi cao và thỏa nguyện về đời mình, về sự giàu có và vinh quang. Sa-lô-môn, con trai vua, lên ngôi kế vị.

29 Các công việc của vua Đa-vít từ đầu đến cuối đều chép trong sách của nhà tiên kiến Sa-mu-ên, trong sách của nhà tiên tri Na-than, và trong sách của nhà tiên kiến Gát.

30 Triều đại và quyền thế của vua, các việc xảy ra cho vua, cho dân Y-sơ-ra-ên, và cho các nước khác, đều được chép trong các sách ấy.