1 Sau khi A-háp băng hà, người Mô-áp nổi lên chống lại Y-sơ-ra-ên.
2 Vua A-cha-xia té ngang qua lan can trên lầu của mình tại Sa-ma-ri và ngã bệnh. Vua sai sứ giả đi và dặn rằng: “Hãy đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn, để xem ta có thể qua khỏi bệnh nầy không?”
3 Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be: “Hãy trỗi dậy, đi lên đón các sứ giả của vua Sa-ma-ri, và nói với họ: ‘Trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời hay sao mà các ngươi đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn?’
4 Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã nằm, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’” Ê-li vâng lời ra đi.
5 Khi các sứ giả trở về với A-cha-xia, vua hỏi họ: “Tại sao các ngươi trở về?”
6 Họ đáp: “Có một người đi lên, gặp chúng tôi và nói: ‘Hãy trở về với vua đã sai các ngươi và nói với vua rằng Đức Giê-hô-va phán: Trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời hay sao mà ngươi sai sứ giả đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn? Vì thế, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã nằm, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’”
7 Vua hỏi họ: “Người đi lên, gặp các ngươi và nói những lời ấy trông như thế nào?”
8 Họ đáp: “Người ấy mặc áo lông và thắt lưng bằng dây da.” Vua nói: “Đó là Ê-li, người Thi-sê-be.”
9 Vua sai một viên quan chỉ huy năm mươi quân đem năm mươi quân của mình đi lên gặp Ê-li. Lúc ấy, Ê-li đang ngồi trên một đỉnh đồi. Viên quan nói với ông: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, vua bảo ông: ‘Hãy xuống!’”
10 Nhưng Ê-li trả lời với quan chỉ huy năm mươi quân: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy ngươi cùng với năm mươi quân của ngươi!” Lửa từ trời liền giáng xuống thiêu hủy viên quan ấy và năm mươi quân của ông ta.
11 Vua lại sai một viên quan chỉ huy năm mươi quân khác đem năm mươi quân đi lên gặp Ê-li. Viên quan nầy nói với Ê-li: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, vua truyền cho ông: ‘Hãy xuống ngay!’”
12 Nhưng Ê-li trả lời: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy ngươi cùng với năm mươi quân của ngươi!” Lửa của Đức Chúa Trời từ trời liền giáng xuống thiêu hủy viên quan ấy và năm mươi quân của ông ta.
13 Vua lại sai viên quan chỉ huy năm mươi quân thứ ba đem năm mươi quân đi. Viên quan nầy đi lên, và khi đến nơi thì quỳ xuống trước mặt Ê-li, khẩn khoản: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, xin ông quý trọng mạng sống của tôi và mạng sống của năm mươi người nầy, là những đầy tớ của ông.
14 Kìa, lửa từ trời đã giáng xuống thiêu hủy hai quan trước cùng với các toán năm mươi quân của họ. Nhưng bây giờ, xin ông quý trọng mạng sống tôi.”
15 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ê-li: “Hãy đi xuống với người nầy, đừng sợ gì cả.” Vậy, Ê-li liền đi xuống với viên quan nầy để gặp vua.
16 Ông nói với vua: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Có phải trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời để cầu vấn hay sao mà ngươi sai sứ giả đến cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn? Vì thế, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã nằm, vì ngươi chắc chắn sẽ chết.’”
17 Vậy, A-cha-xia qua đời đúng như lời Đức Giê-hô-va đã dùng Ê-li tuyên phán. Vì A-cha-xia không có con trai nên Giô-ram lên ngai kế vị vào năm thứ nhì của Giô-ram, con Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
18 Các việc khác mà A-cha-xia đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
1 Khi Đức Giê-hô-va sắp đem Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc, Ê-li và Ê-li-sê rời Ghinh-ganh.
2 Ê-li nói với Ê-li-sê: “Hãy ở lại đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Bê-tên.” Nhưng Ê-li-sê thưa: “Con chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, con không rời khỏi thầy đâu.” Vậy, họ đi xuống Bê-tên.
3 Môn đồ của các nhà tiên tri ở Bê-tên đến hỏi Ê-li-sê: “Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ đem thầy của anh lên khỏi anh chăng?” Ông đáp: “Tôi biết chứ! Các anh hãy im lặng.”
4 Ê-li lại nói với Ê-li-sê: “Nầy Ê-li-sê, hãy ở lại đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giê-ri-cô.” Nhưng Ê-li-sê đáp: “Con chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, con không rời khỏi thầy đâu.” Vậy, họ đi đến Giê-ri-cô.
5 Môn đồ của các nhà tiên tri ở Giê-ri-cô đến gần Ê-li-sê, và hỏi: “Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ đem thầy của anh lên khỏi anh chăng?” Ông đáp: “Tôi biết chứ! Các anh hãy im lặng.”
6 Ê-li nói với Ê-li-sê: “Hãy ở lại đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giô-đanh.” Nhưng Ê-li-sê thưa: “Con chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, con không rời khỏi thầy đâu.” Vậy hai người tiếp tục đi.
7 Có năm mươi người trong số môn đồ của các nhà tiên tri đi theo, đứng ở đằng xa, đối diện nơi Ê-li và Ê-li-sê đang đứng bên bờ sông Giô-đanh.
8 Ê-li lấy áo choàng của mình, cuộn lại và đập xuống nước. Nước sông rẽ ra hai bên, và hai người đi ngang qua trên đất khô.
9 Khi đã qua sông, Ê-li nói với Ê-li-sê: “Hãy xin điều con muốn ta làm cho con, trước khi ta được đem lên khỏi con.” Ê-li-sê thưa: “Xin thần của thầy giáng trên con gấp đôi.”
10 Ê-li nói: “Con xin một điều khó. Nhưng nếu con thấy ta lúc được đem lên khỏi con thì sẽ được như thế; nếu không, thì không được.”
11 Trong khi họ vừa đi vừa nói chuyện với nhau, kìa, có một chiếc xe bằng lửa và các ngựa lửa phân rẽ hai người, rồi Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc.
12 Ê-li-sê nhìn thấy thì kêu lên: “Cha của con ơi! Cha của con ơi! Xe và ngựa chiến của Y-sơ-ra-ên!” Rồi ông không còn thấy thầy mình nữa. Ông nắm áo mình xé ra làm hai mảnh.
13 Ê-li-sê nhặt lấy chiếc áo choàng từ Ê-li rơi xuống. Ông trở về và đứng bên bờ sông Giô-đanh.
14 Rồi ông lấy chiếc áo choàng từ Ê-li rơi xuống, đập xuống nước và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu?” Khi Ê-li-sê đập xuống nước giống như Ê-li thì nước liền rẽ ra hai bên, và ông đi ngang qua.
15 Khi môn đồ của các nhà tiên tri ở Giê-ri-cô thấy Ê-li-sê từ đằng xa thì nói: “Thần của Ê-li ngự trên Ê-li-sê.” Họ đến đón ông, sấp mình xuống đất trước mặt ông
16 và nói: “Nầy, trong số các đầy tớ của ông có năm mươi người lực lưỡng. Xin cho họ đi tìm thầy của ông. Có lẽ Thần của Đức Giê-hô-va đem người lên rồi đặt trên một ngọn núi hoặc trong một thung lũng nào chăng?” Ê-li-sê đáp: “Đừng sai họ đi.”
17 Nhưng họ cố nài nỉ mãi đến nỗi ông miễn cưỡng nói: “Hãy sai họ đi đi!” Họ liền sai năm mươi người đi tìm kiếm suốt ba ngày, nhưng chẳng tìm thấy Ê-li.
18 Khi họ trở về, Ê-li-sê vẫn ở tại Giê-ri-cô. Ông nói với họ: “Chẳng phải tôi đã bảo các anh đừng đi đó sao?”
19 Dân trong thành nói với Ê-li-sê: “Như chúa đã thấy, địa thế của thành thì tốt, nhưng nước thì độc và đất thì không sinh hoa màu.”
20 Ông bảo: “Hãy đem cho tôi một cái bát mới và bỏ muối vào đó.” Vậy họ đem bát muối đến cho ông.
21 Ông đi đến nguồn nước, đổ muối xuống và nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ta đã chữa lành nguồn nước nầy, nó sẽ không còn gây chết chóc hoặc làm cho đất không sinh hoa màu nữa.’”
22 Vậy, nước ấy hóa lành cho đến ngày nay, như lời Ê-li-sê đã nói.
23 Từ đó, Ê-li-sê đi lên Bê-tên. Ông đang đi dọc đường thì có bọn trẻ con trong thành kéo ra chế nhạo ông rằng: “Lão hói đầu, hãy lên! Lão hói đầu, hãy lên!”
24 Ông quay lại nhìn và nhân danh Đức Giê-hô-va mà nguyền rủa chúng. Lập tức có hai con gấu cái từ trong rừng đi ra, vồ xé bốn mươi hai đứa trong bọn chúng.
25 Từ đó, Ê-li-sê đến núi Cạt-mên, rồi trở về Sa-ma-ri.
1 Vào năm thứ mười tám đời trị vì của Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì Giô-ram, con vua A-háp, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri và cai trị mười hai năm.
2 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, nhưng không giống như cha và mẹ mình, vì vua đã dẹp bỏ trụ đá thờ thần Ba-anh mà vua cha đã dựng lên.
3 Dù vậy, vua vẫn bám lấy tội của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Vua không chịu từ bỏ tội ấy.
4 Lúc ấy Mê-sa, vua Mô-áp nuôi nhiều chiên và phải cống nộp cho vua Y-sơ-ra-ên một trăm nghìn chiên con, và lông của một trăm nghìn chiên đực.
5 Sau khi vua A-háp qua đời, vua Mô-áp lại nổi lên chống vua Y-sơ-ra-ên.
6 Bấy giờ, vua Giô-ram từ Sa-ma-ri đi ra, huy động toàn thể Y-sơ-ra-ên.
7 Vua cũng sai sứ báo với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: “Vua Mô-áp đã nổi lên chống lại tôi, ngài có muốn cùng tôi đi đánh Mô-áp không?” Vua Giô-sa-phát đáp: “Tôi sẽ đi lên. Tôi như ngài, dân của tôi như dân của ngài, ngựa chiến của tôi như ngựa chiến của ngài.”
8 Rồi vua hỏi: “Chúng ta sẽ đi lên theo đường nào?” Giô-ram đáp: “Theo con đường của hoang mạc Ê-đôm.”
9 Vậy, vua Y-sơ-ra-ên, vua Giu-đa và vua Ê-đôm cùng kéo quân ra. Họ đi vòng bảy ngày đường, không còn nước cho quân lính và súc vật đi theo nữa.
10 Vua Y-sơ-ra-ên nói: “Than ôi! Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua nầy đến để nộp họ vào tay người Mô-áp!”
11 Nhưng Giô-sa-phát hỏi: “Ở đây không có nhà tiên tri nào của Đức Giê-hô-va để nhờ người mà chúng ta cầu hỏi Đức Giê-hô-va sao?” Một đầy tớ của vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Ở đây có Ê-li-sê, con của Sa-phát, là người đã phục vụ Ê-li.”
12 Giô-sa-phát nói: “Ông ấy có lời của Đức Giê-hô-va.” Vậy, vua Y-sơ-ra-ên, Giô-sa-phát, và vua Ê-đôm đi xuống gặp Ê-li-sê.
13 Ê-li-sê nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Tôi với vua có can hệ gì chăng? Hãy đến cầu vấn các nhà tiên tri của vua cha và thái hậu đi.” Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Không đâu. Vì Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua chúng tôi đến để nộp vào tay người Mô-áp.”
14 Ê-li-sê nói: “Trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân hằng sống, là Đấng tôi phụng sự, tôi thề rằng, nếu không kính nể Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì tôi chẳng xem vua ra gì và cũng không nhìn mặt vua nữa.
15 Nhưng bây giờ, hãy đem đến cho tôi một người gảy đàn.” Mỗi khi người ấy gảy đàn thì tay của Đức Giê-hô-va ở trên Ê-li-sê.
16 Ông nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Hãy đào thật nhiều hầm hố khắp thung lũng nầy.’
17 Vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi sẽ không thấy gió, cũng chẳng thấy mưa, thế mà thung lũng nầy sẽ đầy nước để cho các ngươi, bầy chiên, cùng súc vật của các ngươi, đều sẽ được uống nước.’
18 Nhưng đây chỉ là việc nhỏ dưới mắt Đức Giê-hô-va. Ngài lại sẽ phó dân Mô-áp vào tay các ngươi.
19 Các ngươi sẽ triệt hạ tất cả những thành kiên cố và tất cả những thành phố quan trọng, sẽ đốn ngã tất cả cây cối tốt tươi, chận mọi nguồn nước, và lấy đá phá hủy mọi đồng ruộng phì nhiêu.”
20 Sáng hôm sau, vào giờ dâng tế lễ thì nước từ hướng Ê-đôm chảy đến, và toàn xứ tràn đầy nước.
21 Khi toàn dân Mô-áp nghe tin các vua ấy kéo quân lên đánh chúng thì tất cả những người đến tuổi có thể mang vũ khí trở lên đều được gọi nhập ngũ, và đóng ở biên giới.
22 Khi người Mô-áp thức dậy lúc sáng sớm, ánh sáng mặt trời chiếu vào nước, họ thấy nước trước mặt mình đỏ như máu,
23 nên bảo nhau: “Ấy là máu! Chắc ba vua kia đã đánh nhau, và chém giết lẫn nhau. Bây giờ, hỡi người Mô-áp! Hãy đi cướp chiến lợi phẩm.”
24 Nhưng khi chúng đến trại quân Y-sơ-ra-ên thì người Y-sơ-ra-ên vùng dậy, tấn công người Mô-áp, khiến chúng bỏ chạy trước mặt họ. Quân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ, đánh giết quân Mô-áp.
25 Họ phá hủy các thành, ai nấy lấy đá liệng vào lấp các đồng ruộng phì nhiêu, chận các nguồn nước, và đốn ngã những cây cối tốt tươi. Tại Kiệt Ha-rê-xết chỉ còn lại những đống gạch vụn vì quân bắn đá đã bao vây và đánh phá thành.
26 Khi vua Mô-áp thấy mình không thể chống cự nổi thì đem theo bảy trăm người cầm gươm, định tiến đánh vua Ê-đôm để thoát thân, nhưng không được.
27 Khi ấy, vua Mô-áp liền bắt con trai đầu lòng, là người sẽ lên ngai kế vị mình, dâng làm tế lễ thiêu trên vách thành. Người Y-sơ-ra-ên cảm thấy quá kinh khiếp, nên họ rút lui và trở về xứ mình.
1 Lúc ấy, có vợ của một trong số môn đồ của các nhà tiên tri kêu cứu với Ê-li-sê: “Chồng tôi là đầy tớ ông đã qua đời, và ông biết rằng đầy tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va. Bây giờ, chủ nợ đến đòi bắt hai đứa con tôi làm nô lệ.”
2 Ê-li-sê nói với bà: “Tôi có thể giúp gì cho bà đây? Xin cho tôi biết, trong nhà bà còn có gì không?” Bà thưa: “Tớ gái ông chẳng còn gì trong nhà, trừ một bình dầu nhỏ.”
3 Ông bảo: “Hãy đi mượn thật nhiều bình không của những người láng giềng, đừng mượn ít.
4 Khi trở về, bà và các con hãy vào nhà, đóng cửa lại, rồi đổ dầu vào tất cả các bình đó; bình nào đầy thì để riêng ra.”
5 Bà từ giã nhà tiên tri. Sau đó, bà và các con mình vào nhà, đóng cửa lại. Chúng đem bình đến để bà rót dầu vào.
6 Khi các bình đều đầy dầu, bà bảo con: “Đem cho mẹ một bình nữa.” Nhưng nó đáp: “Không còn bình nào nữa cả.” Dầu liền ngừng lại.
7 Bấy giờ, bà đến trình cho người của Đức Chúa Trời. Ông nói: “Hãy đem dầu đi bán mà trả nợ, rồi bà và các con sẽ sinh sống với số dầu còn lại.”
8 Một ngày kia, Ê-li-sê đi ngang qua Su-nem. Ở đó có một phụ nữ giàu có, và bà ấy cố mời ông ở lại dùng bữa. Từ đó, mỗi khi đi ngang qua đây ông đều ghé vào nhà bà nầy để dùng bữa.
9 Bà ấy nói với chồng: “Nầy ông, tôi biết người vẫn thường ghé lại nhà chúng ta là một người thánh của Đức Chúa Trời.
10 Chúng ta hãy xây cho người một căn phòng nhỏ trên sân thượng, có tường hẳn hoi; rồi đặt tại đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn. Như thế, mỗi khi người đến nhà ta thì sẽ ở lại đó.”
11 Một hôm, Ê-li-sê đến Su-nem, lên phòng cao và nghỉ tại đó.
12 Ông nói với Ghê-ha-xi, đầy tớ mình: “Hãy gọi người phụ nữ Su-nem đến đây.” Ghê-ha-xi đi gọi bà, và bà đến đứng trước mặt anh ta.
13 Ê-li-sê nói với đầy tớ mình: “Hãy nói với bà ấy: ‘Kìa, bà đã cực nhọc lo liệu cho chúng tôi mọi điều nầy. Vậy, chúng tôi phải làm gì cho bà đây? Bà có cần chúng tôi nói giùm với vua hoặc với tướng chỉ huy quân đội điều gì chăng?’” Bà đáp: “Tôi vẫn sống bình thường giữa đồng bào tôi.”
14 Ê-li-sê lại hỏi: “Vậy, chúng ta phải làm gì cho bà ấy đây?” Ghê-ha-xi đáp: “Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng bà thì đã già rồi.”
15 Ê-li-sê nói: “Hãy đi gọi bà ấy.” Ghê-ha-xi đi gọi bà, và bà đến đứng ngoài cửa.
16 Ê-li-sê nói với bà ấy: “Năm tới, vào lúc nầy, bà sẽ ẵm một đứa con trai.” Bà đáp: “Không đâu, thưa chúa là người của Đức Chúa Trời! Xin đừng nói dối với tớ gái ngài.”
17 Quả nhiên, bà ấy thụ thai; và năm sau, bà sinh một đứa con trai, đúng vào lúc mà Ê-li-sê đã nói trước cho bà.
18 Đứa trẻ lớn lên. Một hôm, nó đến cha nó đang ở giữa những thợ gặt
19 mà nói rằng: “Con nhức đầu! Con nhức đầu!” Người cha bảo đầy tớ: “Hãy đem nó về cho mẹ nó.”
20 Người đầy tớ đem nó về giao cho mẹ nó. Đứa trẻ ngồi trên đầu gối của mẹ cho đến trưa thì chết.
21 Bà đem nó lên đặt nằm trên giường của người Đức Chúa Trời, rồi đi ra và đóng cửa lại.
22 Sau đó, bà gọi chồng bà và nói: “Xin ông cắt cho tôi một đứa đầy tớ và một con lừa cái, để tôi chạy đến người của Đức Chúa Trời, rồi tôi sẽ trở về.”
23 Chồng bà hỏi: “Hôm nay không phải là ngày mồng một, cũng không phải là ngày sa-bát. Vậy, tại sao bà lại đi gặp người ấy?” Bà đáp: “Ông cứ yên tâm!”
24 Bà bảo thắng lừa và dặn người đầy tớ: “Hãy thúc lừa đi nhanh, chỉ khi nào tôi bảo thì mới dừng lại.”
25 Vậy, bà lên đường đến với người của Đức Chúa Trời trên núi Cạt-mên. Người của Đức Chúa Trời thấy bà từ xa thì nói với Ghê-ha-xi, đầy tớ mình: “Kìa, người đàn bà Su-nem đến!
26 Hãy chạy đi đón và hỏi bà ấy: ‘Bà có bình an chăng? Chồng bà và đứa trẻ có bình an chăng?’” Bà đáp: “Bình an.”
27 Khi bà đến gặp người của Đức Chúa Trời trên núi thì ôm lấy chân ông. Ghê-ha-xi đến gần để đẩy bà ra, nhưng người của Đức Chúa Trời nói: “Hãy để mặc bà ấy, vì tâm hồn bà cay đắng lắm. Đức Giê-hô-va đã giấu ta điều đó, và không cho ta biết.”
28 Lúc ấy, bà nói: “Thưa chúa, tôi có cầu xin một đứa con trai đâu? Chẳng phải tôi đã nói: ‘Xin đừng nói dối tôi’ đó sao?”
29 Ê-li-sê nói với Ghê-ha-xi: “Hãy thắt lưng, cầm gậy của ta trong tay và đi. Dọc đường nếu con gặp ai thì đừng chào; nếu có ai chào con thì đừng đáp lại. Con sẽ đặt cây gậy của ta trên mặt đứa trẻ.”
30 Nhưng mẹ của đứa trẻ nói: “Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, và chỉ mạng sống của ông mà thề rằng tôi sẽ không rời khỏi ông!” Vậy, Ê-li-sê trỗi dậy và đi theo bà.
31 Ghê-ha-xi đi trước hai người, và đặt cây gậy trên mặt đứa trẻ, nhưng không nghe tiếng, cũng không thấy động đậy gì. Anh ta trở lại đón Ê-li-sê, và thưa với ông: “Đứa trẻ không tỉnh lại.”
32 Khi Ê-li-sê vào nhà thì thấy đứa trẻ đã chết, nằm trên giường của ông.
33 Ê-li-sê vào trong phòng, đóng cửa lại, chỉ có ông và đứa trẻ ở trong, rồi ông cầu nguyện với Đức Giê-hô-va.
34 Sau đó, ông lên giường nằm sấp trên đứa trẻ, đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, và tay mình trên tay nó. Khi ông nằm ấp trên mình đứa trẻ như vậy thì cơ thể nó ấm trở lại.
35 Ê-li-sê bước xuống, đi qua đi lại trong phòng; rồi lại lên giường, nằm ấp trên mình đứa trẻ lần nữa. Cuối cùng, đứa trẻ hắt hơi bảy lần, và mở mắt ra.
36 Ê-li-sê gọi Ghê-ha-xi và bảo: “Hãy đi gọi người đàn bà Su-nem.” Ghê-ha-xi đi gọi bà. Khi bà ấy đến, Ê-li-sê nói với bà: “Hãy ẵm lấy con bà!”
37 Bà đến, sấp mình xuống dưới chân ông và lạy; rồi bà ẵm con mình và đi ra.
38 Ê-li-sê trở về Ghinh-ganh. Lúc ấy, trong xứ đang có nạn đói. Môn đồ của các nhà tiên tri đang ngồi trước mặt Ê-li-sê. Ông bảo người đầy tớ: “Hãy lấy nồi lớn nấu canh cho môn đồ của các nhà tiên tri ăn.”
39 Một người trong số họ đi ra ngoài đồng để hái rau, thấy một dây rừng leo giống như nho dại thì hái những dưa dại ấy, bọc đầy vạt áo mình. Khi người ấy trở về, xắt ra từng miếng, bỏ vào nồi canh mà chẳng hề biết đó là trái gì.
40 Người ta múc canh cho mọi người ăn. Nhưng khi họ vừa ăn canh ấy thì la lên: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, nồi canh nầy có chất độc chết người!” Và họ không thể ăn được.
41 Ê-li-sê bảo: “Hãy đem bột lại đây!” Ông bỏ bột vào nồi canh và bảo: “Hãy múc ra cho mọi người ăn.” Vậy, nồi canh không còn độc nữa.
42 Có một người từ Ba-anh Sa-li-sa đến, đem cho người của Đức Chúa Trời bánh làm từ trái đầu mùa, gồm hai mươi ổ bánh lúa mạch, và lúa còn gié để trong bị của mình. Ê-li-sê bảo: “Hãy phát cho mọi người ăn.”
43 Người đầy tớ thưa: “Chỉ có chừng ấy thì làm sao con có thể phát cho một trăm người ăn?” Nhưng Ê-li-sê nói: “Hãy phát các bánh đó cho họ ăn đi, vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Người ta sẽ ăn và còn thừa lại.’”
44 Vậy, người đầy tớ phát các bánh đó cho mọi người. Họ ăn và còn thừa lại, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.
1 Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram, là một người có quyền thế và rất được tôn trọng trước mặt chủ mình, vì qua ông, Đức Giê-hô-va ban chiến thắng cho dân A-ram. Tuy là một chiến sĩ dũng cảm, nhưng Na-a-man lại mắc bệnh phong hủi.
2 Lúc ấy, các toán quân đột kích của A-ram đi ra và bắt một thiếu nữ từ đất Y-sơ-ra-ên đem về làm tớ gái cho vợ Na-a-man.
3 Một hôm, nó nói với bà chủ: “Ôi, phải chi ông chủ con đi đến với ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Ông ấy sẽ chữa cho ông chủ khỏi bệnh phong hủi.”
4 Na-a-man đem các lời nầy thuật lại cho chúa mình rằng: “Đứa tớ gái Y-sơ-ra-ên có nói thế nầy, thế nầy.”
5 Vua A-ram nói: “Thế thì ngươi hãy đi, ta sẽ gửi thư cho vua Y-sơ-ra-ên.” Vậy, Na-a-man đi, đem theo ba trăm ký bạc, sáu nghìn đồng vàng, và mười bộ quần áo.
6 Ông đem bức thư trình cho vua Y-sơ-ra-ên. Thư viết rằng: “Cùng với bức thư gửi đến ngài đây, tôi đã sai Na-a-man, là cận thần của tôi, đến với ngài để ngài chữa cho người khỏi bệnh phong hủi.”
7 Khi vua Y-sơ-ra-ên đọc thư xong, liền xé áo mình và nói: “Ông ấy sai người đến với ta để ta chữa cho khỏi bệnh phong hủi. Ta đâu phải là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết? Các ngươi phải biết và thấy rằng ông ấy kiếm cớ gây hấn với ta.”
8 Khi Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nghe rằng vua Y-sơ-ra-ên đã xé áo mình, thì sai người nói với vua: “Tại sao vua phải xé áo? Hãy bảo Na-a-man đến với tôi thì ông ấy sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có nhà tiên tri.”
9 Vậy Na-a-man với ngựa và xe đến dừng trước cửa nhà Ê-li-sê.
10 Ê-li-sê sai một sứ giả nói với ông: “Hãy đi tắm bảy lần dưới sông Giô-đanh thì da thịt ông sẽ lành, và ông sẽ được sạch.”
11 Nhưng Na-a-man nổi giận, bỏ đi và nói: “Ta nghĩ rằng chính ông ấy sẽ đi ra đón ta, đứng gần mà cầu khẩn danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông ấy, đưa tay qua lại trên chỗ bệnh và chữa lành cho ta.
12 Hai sông ở Đa-mách là A-ba-na và Bạt-ba chẳng tốt hơn nước sông ở Y-sơ-ra-ên sao? Ta không thể tắm ở đó để được sạch sao?” Vậy ông quay lưng lại và giận dữ bỏ đi.
13 Nhưng các đầy tớ đến gần ông, và nói: “Cha ơi, nếu nhà tiên tri truyền bảo cha một việc khó, cha chẳng làm sao? Huống chi nay ông ấy chỉ bảo cha rằng: ‘Hãy tắm thì được sạch!’”
14 Vậy, ông xuống sông Giô-đanh tắm bảy lần theo như lời của người Đức Chúa Trời. Ông liền được sạch và da thịt trở lại như trước, giống như da thịt của một đứa trẻ.
15 Na-a-man cùng đoàn tùy tùng trở lại gặp người của Đức Chúa Trời. Ông đến đứng trước mặt Ê-li-sê và nói: “Bây giờ, tôi nhận biết rằng trên khắp mặt đất, không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Vậy xin ông vui lòng nhận món quà của đầy tớ ông.”
16 Nhưng Ê-li-sê đáp: “Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng tôi phụng sự, mà thề rằng tôi không nhận gì cả.” Na-a-man nài nỉ Ê-li-sê nhận, nhưng ông vẫn từ chối.
17 Cuối cùng, Na-a-man nói: “Nếu ông từ chối thì xin cho phép đầy tớ ông mang về số đất vừa sức chở của hai con la. Vì từ nay, đầy tớ ông sẽ không còn dâng tế lễ thiêu và sinh tế cho thần nào khác ngoài Đức Giê-hô-va.
18 Nhưng xin Đức Giê-hô-va tha thứ cho đầy tớ ông điều nầy: Mỗi khi chủ tôi vào đền thờ Rim-môn để thờ lạy thì vịn cánh tay tôi, nên tôi cũng phải quỳ xuống trong đền thờ Rim-môn. Vậy xin Đức Giê-hô-va tha thứ điều ấy cho đầy tớ ông.”
19 Ê-li-sê đáp: “Ông hãy đi bình an.” Khi Na-a-man rời khỏi Ê-li-sê, đi được một quãng đường
20 thì đầy tớ của Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, là Ghê-ha-xi nghĩ thầm: “Kìa, thầy ta đã dè dặt không chịu nhận món gì của Na-a-man, người A-ram, đã tự tay đem đến. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề rằng ta sẽ chạy theo để nhận lấy món gì của ông ấy chứ!”
21 Vậy Ghê-ha-xi đuổi theo Na-a-man. Khi Na-a-man thấy Ghê-ha-xi chạy theo sau mình thì nhảy xuống xe để đón, và hỏi: “Mọi việc đều bình an chứ?”
22 Ghê-ha-xi đáp: “Mọi việc đều bình an. Thầy tôi sai tôi nói với ông: ‘Vừa rồi, có hai thanh niên, là môn đồ của các nhà tiên tri, từ vùng đồi núi Ép-ra-im đến. Xin ông hãy cho họ ba mươi ký bạc và hai bộ quần áo.’”
23 Na-a-man nài nỉ: “Xin hãy nhận sáu mươi ký.” Rồi ông lấy sáu mươi ký bạc và hai bộ quần áo để trong hai cái bao, trao cho hai đầy tớ mình đem đến trước mặt Ghê-ha-xi.
24 Lúc đến ngọn đồi, Ghê-ha-xi lấy hai cái bao khỏi tay họ, đem cất trong nhà mình, rồi cho họ trở về.
25 Ghê-ha-xi vào hầu thầy mình, Ê-li-sê hỏi: “Ghê-ha-xi, con vừa đi đâu về?” Nó thưa: “Đầy tớ thầy không đi đâu cả.”
26 Nhưng Ê-li-sê nói: “Khi người ấy xuống khỏi xe để đón con, lòng ta chẳng ở với con sao? Bây giờ có phải là lúc để nhận tiền bạc, quần áo, vườn ô-liu, vườn nho, chiên và bò, tôi trai và tớ gái sao?
27 Vì vậy, bệnh phong hủi của Na-a-man sẽ dính vào con và dòng dõi con đời đời.” Ghê-ha-xi rời khỏi Ê-li-sê, và bị bệnh phong hủi trắng như tuyết.
1 Môn đồ của các nhà tiên tri nói với Ê-li-sê: “Thầy xem, nơi chúng con ngồi nghe thầy dạy thật quá chật hẹp cho chúng con.
2 Xin cho chúng con đến bờ sông Giô-đanh, mỗi người sẽ đốn một cây, rồi tại đó cất một nơi ở cho chúng ta.” Ê-li-sê đáp: “Hãy đi đi!”
3 Một môn đồ thưa: “Xin thầy cùng đi với các đầy tớ thầy.” Ông đáp: “Ta sẽ đi.”
4 Vậy ông đi với họ. Khi đến bờ sông Giô-đanh, họ bắt đầu đốn cây.
5 Nhưng có một người đang đốn cây thì lưỡi rìu văng xuống nước. Người ấy kêu lên: “Thầy ơi! Cái rìu nầy con mượn của người ta.”
6 Người của Đức Chúa Trời hỏi: “Nó rơi ở đâu?” Người ấy chỉ chỗ nó văng xuống. Ê-li-sê chặt một khúc cây ném xuống chỗ đó, làm cho lưỡi rìu nổi lên.
7 Ông bảo người ấy: “Hãy cầm lên đi!” Người ấy đưa tay ra cầm lấy lưỡi rìu.
8 Lúc bấy giờ, vua A-ram giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Vua bàn với các quan tướng của mình: “Ta sẽ đóng quân tại chỗ nầy, chỗ nọ.”
9 Người của Đức Chúa Trời sai người nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Hãy thận trọng, đừng đi ngang qua chỗ ấy, vì quân A-ram đang đi xuống đó.”
10 Vậy, vua Y-sơ-ra-ên sai người đến chỗ mà người Đức Chúa Trời đã báo cho mình, và luôn thận trọng tại những chỗ ấy. Ê-li-sê thường báo trước như thế, không phải chỉ một hai lần mà thôi.
11 Việc nầy làm cho vua A-ram điên tiết lên nên gọi các thuộc hạ đến và hỏi: “Chẳng lẽ các ngươi không báo cho ta biết ai trong chúng ta đã theo phe vua Y-sơ-ra-ên sao?”
12 Một người trong những thuộc hạ đáp: “Tâu bệ hạ là chúa tôi, chẳng ai trong chúng tôi cả. Nhưng chính Ê-li-sê, nhà tiên tri của Y-sơ-ra-ên, đã cho vua Y-sơ-ra-ên biết những điều bệ hạ nói trong phòng ngủ của mình.”
13 Vua ấy bảo: “Hãy đi tìm xem ông ấy ở đâu, ta sẽ sai người đến bắt.” Người ta cho vua biết: “Ông ấy ở Đô-than.”
14 Vậy vua phái đến đó một lực lượng hùng hậu với ngựa và xe. Họ đến nơi lúc ban đêm và bao vây thành.
15 Đầy tớ của người Đức Chúa Trời dậy sớm và đi ra ngoài thì thấy quân lính với ngựa và xe đang bao vây thành. Anh ta nói với Ê-li-sê: “Thầy ơi! Chúng ta làm sao đây?”
16 Ông bảo: “Đừng sợ, vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.”
17 Rồi Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho đầy tớ của con để nó thấy được.” Đức Giê-hô-va mở mắt người đầy tớ, và anh ta thấy núi đầy những ngựa và chiến xa bằng lửa đang bao quanh Ê-li-sê.
18 Lúc quân A-ram kéo xuống phía Ê-li-sê thì ông cầu nguyện với Đức Giê-hô-va: “Xin Chúa khiến quân ấy bị mù.” Ngài khiến chúng bị mù như lời Ê-li-sê cầu xin.
19 Ê-li-sê nói với chúng: “Đây không phải là đường, đây cũng chẳng phải là thành. Hãy theo tôi, tôi sẽ dẫn các anh đến người mà các anh tìm kiếm.” Rồi ông dẫn chúng đến Sa-ma-ri.
20 Vừa khi chúng vào Sa-ma-ri thì Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho những người nầy để chúng thấy được.” Đức Giê-hô-va mở mắt chúng, và chúng thấy mình đang ở giữa thành Sa-ma-ri.
21 Khi thấy chúng, vua Y-sơ-ra-ên hỏi Ê-li-sê: “Thưa cha, tôi phải giết chúng không? Tôi phải giết chúng không?”
22 Ê-li-sê trả lời: “Đừng giết chúng! Vua có giết những người mà vua dùng gươm và cung bắt làm tù binh không? Hãy dọn bánh và nước cho chúng ăn uống, rồi để chúng trở về với chủ mình.”
23 Vậy vua dọn tiệc lớn đãi chúng. Khi chúng ăn uống xong, vua thả chúng trở về với chủ mình. Từ đó, những toán quân A-ram không còn đột kích lãnh thổ Y-sơ-ra-ên nữa.
24 Nhưng ít lâu sau, Bên Ha-đát, vua A-ram, tập hợp toàn quân kéo lên bao vây thành Sa-ma-ri.
25 Vì thành bị bao vây lâu ngày nên ở Sa-ma-ri xảy ra nạn đói trầm trọng đến nỗi một đầu lừa bán tám mươi miếng bạc, và một bát nhỏ phân bồ câu bán năm miếng bạc.
26 Khi vua Y-sơ-ra-ên đang đi lại trên tường thành thì có một phụ nữ kêu cứu với vua: “Ôi bệ hạ là chúa tôi, xin cứu giúp tôi!”
27 Vua trả lời: “Nếu Đức Giê-hô-va không cứu giúp ngươi thì ta lấy gì để giúp ngươi? Đâu còn gì ở sân đập lúa hay tại bàn ép rượu nho?”
28 Rồi vua hỏi bà ấy: “Ngươi có việc gì?” Bà ấy thưa: “Bà nầy nói với tôi: ‘Hôm nay hãy đem con trai chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai của tôi.’
29 Vậy chúng tôi đã nấu con tôi và ăn thịt nó. Hôm sau, tôi nói với bà ấy: ‘Hãy đem con chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng bà ấy đã giấu con mình.”
30 Khi nghe những lời của phụ nữ nầy nói xong thì vua liền xé áo mình. Lúc ấy, vua đang đi lại trên tường thành nên dân chúng có thể thấy vua đang mặc áo sô.
31 Vua thề rằng: “Nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề, nếu hôm nay đầu của Ê-li-sê, con Sa-phát, còn ở trên vai nó.”
32 Đang lúc Ê-li-sê ngồi trong nhà với các trưởng lão thì vua sai một người trong đám quần thần đi tìm ông. Nhưng trước khi sứ giả đến, Ê-li-sê nói với các trưởng lão: “Các ông có thấy kẻ sát nhân ấy sai người đến chém đầu tôi không? Hãy xem, vừa khi sứ giả đến, hãy đóng cửa lại và giữ chặt cửa, đừng cho hắn vào. Chẳng phải tiếng bước chân của chủ hắn theo sau hắn đấy sao?”
33 Trong khi Ê-li-sê còn đang nói với họ thì sứ giả đến và nói với ông: “Tai họa nầy đến từ Đức Giê-hô-va. Vậy tại sao ta còn trông đợi Đức Giê-hô-va làm gì nữa?”
1 Ê-li-sê nói: “Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ngày mai, vào giờ nầy, tại cổng thành Sa-ma-ri, bảy lít bột lọc sẽ bán mười một gam bạc, và mười bốn lít lúa mạch cũng bán mười một gam bạc.’”
2 Quan hầu cận mà vua tựa vào tay nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Cho dù Đức Giê-hô-va có mở các cửa sổ trên trời thì liệu điều đó có xảy ra không?” Ê-li-sê nói: “Chính ông sẽ thấy tận mắt điều ấy, nhưng ông sẽ không được ăn.”
3 Lúc ấy, tại lối vào cổng thành có bốn người phong hủi. Họ nói với nhau: “Tại sao chúng ta cứ ngồi đây chờ chết?
4 Nếu vào thành thì chúng ta sẽ chết đói ở đó, vì trong thành đang có nạn đói; còn nếu cứ ngồi đây thì chúng ta cũng sẽ chết. Vậy bây giờ, chúng ta hãy qua trại quân A-ram và hàng phục chúng. Nếu chúng để chúng ta sống thì chúng ta sẽ sống, còn nếu chúng giết đi thì đàng nào chúng ta cũng chết đó thôi.”
5 Vào lúc chạng vạng, các người phong hủi lên đường đến trại quân A-ram. Nhưng khi đến đầu trại quân thì họ chẳng thấy ai ở đó cả.
6 Vì Chúa đã khiến quân A-ram nghe tiếng xe, tiếng ngựa chiến và tiếng một đạo quân rất lớn, nên chúng nói với nhau rằng: “Kìa, vua Y-sơ-ra-ên đã thuê các vua Hê-tít và Ai Cập đến đánh chúng ta.”
7 Vậy chúng liền trỗi dậy và chạy trốn lúc chạng vạng, bỏ lại các lều trại, ngựa và lừa. Chúng để nguyên doanh trại mà chạy trốn cứu mạng.
8 Khi các người phong hủi đến đầu trại quân, họ vào một doanh trại ăn uống, rồi lấy bạc vàng và quần áo đem đi giấu. Họ trở lại, vào một doanh trại khác và cũng lấy những của cải ở đó đem đi giấu nữa.
9 Bấy giờ, họ nói với nhau: “Chúng ta đang làm điều không phải. Hôm nay là ngày có tin lành mà chúng ta nín lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông thì hình phạt chắc sẽ đổ trên chúng ta. Vậy chúng ta hãy đi báo tin nầy cho hoàng gia.”
10 Họ liền đi gọi người gác cổng thành, và báo tin: “Chúng tôi đã đến trại quân A-ram, không thấy ai ở đó cả và cũng không nghe tiếng người. Chúng tôi chỉ thấy ngựa và lừa đang bị cột, còn các lều trại thì vẫn y nguyên.”
11 Lính gác cổng liền gọi người báo tin ấy vào trong cung vua.
12 Ban đêm vua thức dậy, nói với bầy tôi của mình: “Ta sẽ nói cho các ngươi biết những gì quân A-ram định làm để hại chúng ta. Chúng biết chúng ta đang đói nên đã rút ra khỏi trại quân để phục kích ngoài đồng. Chúng nghĩ rằng: ‘Khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi thành, chúng ta sẽ bắt sống chúng, rồi vào chiếm thành.’”
13 Một người trong bầy tôi của vua đề nghị: “Xin bệ hạ truyền cho vài người bắt năm trong số những con ngựa còn lại đi do thám để xem thực hư ra sao. Dù sao chúng cũng sẽ cùng chung số phận với đoàn dân Y-sơ-ra-ên còn lại đang chết dần ở trong thành mà thôi.”
14 Vậy, họ lấy hai cỗ xe và thắng ngựa vào, rồi vua sai người đuổi theo quân A-ram, và truyền: “Hãy đi, xem thế nào!”
15 Họ đuổi theo chúng cho đến sông Giô-đanh. Suốt quãng đường ấy, họ thấy đầy những quần áo và đồ đạc mà quân A-ram đã ném xuống trong lúc hốt hoảng chạy trốn. Các sứ giả trở về trình lại với vua.
16 Dân chúng liền kéo ra cướp đoạt trại quân A-ram. Vì thế mà bảy lít bột lọc bán mười một gam bạc, và mười bốn lít lúa mạch cũng bán mười một gam bạc, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
17 Lúc ấy, vua đã chỉ định quan hầu cận mà vua tựa vào tay, phụ trách việc kiểm soát cổng thành. Dân chúng đã giẫm chết ông ấy tại cổng thành, đúng như người của Đức Chúa Trời đã nói khi vua đến gặp người.
18 Thật vậy, khi người của Đức Chúa Trời nói với vua rằng: “Ngày mai, vào giờ nầy, tại cổng thành Sa-ma-ri, mười bốn lít lúa mạch sẽ bán mười một gam bạc, và bảy lít bột lọc cũng bán mười một gam bạc,”
19 thì quan hầu cận có nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Cho dù Đức Giê-hô-va có mở các cửa sổ trên trời thì liệu điều đó có xảy ra không?” Ê-li-sê nói: “Chính ông sẽ thấy điều ấy tận mắt, nhưng ông sẽ không được ăn.”
20 Và việc đã xảy đến cho viên quan ấy đúng như thế, dân chúng đã giẫm chết ông ta tại cổng thành.
1 Bấy giờ, Ê-li-sê bảo người phụ nữ có đứa con trai mà ông đã khiến sống lại rằng: “Bà hãy mau đem gia đình đến ở tạm nơi nào sống được, vì Đức Giê-hô-va khiến nạn đói xảy ra trong xứ, và sẽ kéo dài đến bảy năm.”
2 Người phụ nữ ấy liền làm theo lời của người Đức Chúa Trời, cùng gia đình mình đến kiều ngụ trong đất Phi-li-tin bảy năm.
3 Cuối bảy năm, người phụ nữ ấy từ đất Phi-li-tin trở về. Bà đến kêu nài với vua về việc nhà cửa và đồng ruộng của mình.
4 Lúc ấy, vua đang nói chuyện với Ghê-ha-xi, đầy tớ của người Đức Chúa Trời. Vua bảo: “Hãy kể cho ta nghe tất cả những việc lớn lao mà Ê-li-sê đã làm.”
5 Ghê-ha-xi đang thuật lại cho vua nghe việc Ê-li-sê đã khiến người chết sống lại thế nào, thì kìa, người phụ nữ có đứa con trai mà Ê-li-sê đã khiến sống lại, đến kêu nài với vua về việc nhà cửa và đồng ruộng của mình. Ghê-ha-xi liền nói: “Tâu bệ hạ là chúa tôi! Đây là người phụ nữ, và đây là con trai bà mà Ê-li-sê đã khiến sống lại.”
6 Vua hỏi người phụ nữ, và bà kể hết mọi việc cho vua nghe. Rồi vua chỉ định một quan chức triều đình giải quyết việc kêu nài của bà, và dặn rằng: “Hãy giúp bà nầy lấy lại tất cả tài sản của bà, kể cả hoa màu của đồng ruộng, từ ngày bà rời khỏi xứ cho đến nay.”
7 Ê-li-sê đến Đa-mách vào lúc vua A-ram là Bên Ha-đát đang bị bệnh. Khi người ta báo tin cho vua: “Có người của Đức Chúa Trời đã đến đây,”
8 thì vua bảo Ha-xa-ên: “Hãy đem theo một lễ vật và đến gặp người của Đức Chúa Trời. Ngươi sẽ nhờ người cầu hỏi Đức Giê-hô-va xem ta sẽ được lành bệnh nầy không?”
9 Vậy Ha-xa-ên đến gặp người của Đức Chúa Trời, đem theo một lễ vật gồm tất cả những gì tốt nhất tại Đa-mách, chất đầy trên bốn mươi lạc đà. Ông đến ra mắt Ê-li-sê và nói: “Con trai ông là Bên Ha-đát, vua A-ram, sai tôi đến ông để hỏi rằng: ‘Tôi sẽ được lành bệnh nầy không?’”
10 Ê-li-sê đáp: “Hãy đi nói với vua: ‘Bệ hạ chắc chắn sẽ được lành bệnh.’ Nhưng Đức Giê-hô-va đã cho ta biết vua chắc chắn sẽ chết.”
11 Ê-li-sê nghiêm nét mặt, nhìn chằm chằm Ha-xa-ên đến nỗi ông phải ngượng. Rồi người của Đức Chúa Trời cất tiếng lên khóc.
12 Ha-xa-ên hỏi: “Tại sao chúa tôi khóc?” Ê-li-sê đáp: “Vì ta biết ngươi sẽ gây thảm họa cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngươi sẽ phóng hỏa các thành trì kiên cố của họ, dùng gươm giết các thanh niên, chà nát trẻ con, và mổ bụng đàn bà có thai.”
13 Ha-xa-ên hỏi: “Nhưng đầy tớ ông là ai, chẳng qua là một con chó thôi, thì làm sao có thể làm được việc lớn lao đến thế?” Ê-li-sê đáp: “Đức Giê-hô-va đã cho ta biết rằng ngươi sẽ làm vua A-ram.”
14 Ha-xa-ên rời khỏi Ê-li-sê và trở về với chủ mình. Vua hỏi: “Ê-li-sê đã nói với ngươi thế nào?” Ha-xa-ên tâu: “Ê-li-sê nói với hạ thần rằng bệ hạ chắc chắn sẽ lành bệnh.”
15 Nhưng qua hôm sau, Ha-xa-ên lấy một cái mền nhúng nước và đem phủ trên mặt Bên Ha-đát cho đến khi vua chết. Rồi Ha-xa-ên lên ngai kế vị.
16 Vào năm thứ năm đời trị vì của Giô-ram, con A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, khi Giô-sa-phát còn làm vua Giu-đa thì Giô-ram, con Giô-sa-phát, bắt đầu trị vì.
17 Giô-ram lên ngai vua lúc được ba mươi hai tuổi, và trị vì tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
18 Vua đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, như nhà A-háp đã làm; vì vua đã cưới con gái của A-háp làm vợ. Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.
19 Nhưng vì Đa-vít, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, nên Ngài không muốn hủy diệt Giu-đa, như lời Ngài đã phán hứa với Đa-vít là để dành cho người một ngọn đèn trước mặt người mãi mãi.
20 Trong đời trị vì của Giô-ram, người Ê-đôm nổi dậy chống lại sự thống trị của Giu-đa, và lập lên một vua cho mình.
21 Bấy giờ, Giô-ram kéo quân sang Xai-rơ, đem theo tất cả chiến xa của mình. Ban đêm, vua trỗi dậy, đánh quân Ê-đôm đang bao vây vua và các quan chỉ huy chiến xa, nhưng quân lính của vua bỏ trốn về trại mình.
22 Như thế, người Ê-đôm đã nổi dậy và không còn thần phục Giu-đa cho đến ngày nay. Cùng lúc ấy, Líp-na cũng nổi dậy.
23 Chẳng phải các việc khác của Giô-ram, và tất cả những việc vua làm đều đã được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
24 Giô-ram an giấc cùng tổ phụ và được an táng với họ trong thành Đa-vít. A-cha-xia, con trai vua, lên ngai kế vị.
25 Vào năm thứ mười hai, đời trị vì của Giô-ram con A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-cha-xia con Giô-ram, vua Giu-đa, lên ngai trị vì.
26 A-cha-xia lên ngai vua lúc được hai mươi hai tuổi, và trị vì một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của vua tên là A-tha-li, cháu gái của Ôm-ri, vua Y-sơ-ra-ên.
27 Vua đi theo đường lối của nhà A-háp, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, như nhà A-háp đã làm. Vì vua có liên hệ hôn nhân với nhà A-háp.
28 Vua cùng với Giô-ram, con A-háp, tiến đánh Ha-xa-ên, vua A-ram, tại Ra-mốt Ga-la-át. Nhưng quân A-ram đã đánh Giô-ram bị thương.
29 Vậy, vua Giô-ram trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương bị quân A-ram đánh tại Ra-mốt, khi đánh nhau với Ha-xa-ên, vua A-ram. A-cha-xia con Giô-ram, vua Giu-đa, đi xuống Gít-rê-ên thăm Giô-ram, con A-háp, đang nằm điều trị tại đó.
1 Nhà tiên tri Ê-li-sê gọi một người trong số môn đồ của các nhà tiên tri và bảo: “Hãy thắt lưng và cầm theo lọ dầu nầy mà đi đến Ra-mốt Ga-la-át.
2 Khi con đã đến đó, hãy tìm Giê-hu là con của Giô-sa-phát, cháu Nim-si. Con đến mời người đứng dậy khỏi anh em mình, và dẫn người vào trong một phòng kín đáo.
3 Bấy giờ, con sẽ lấy lọ dầu, đổ trên đầu người và nói: ‘Đức Giê-hô-va phán: Ta xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên.’ Rồi con hãy mở cửa ra và trốn đi ngay, đừng chậm trễ!”
4 Vậy chàng thanh niên là nhà tiên tri trẻ đi đến Ra-mốt Ga-la-át.
5 Khi anh ấy đến nơi thì các quan tướng quân đội đang họp. Anh nói: “Thưa tướng quân, tôi có việc muốn nói với ông.” Giê-hu hỏi: “Với ai trong chúng tôi?” Anh trả lời: “Với ông, thưa tướng quân.”
6 Giê-hu đứng dậy và đi vào bên trong. Nhà tiên tri đổ dầu trên đầu ông, và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Ta xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va.
7 Ngươi sẽ đánh giết nhà A-háp, chủ ngươi; như vậy Ta sẽ báo trả Giê-sa-bên về máu của các đầy tớ Ta là các nhà tiên tri, cùng máu của tất cả đầy tớ Đức Giê-hô-va.
8 Cả nhà A-háp phải bị diệt sạch. Ta sẽ diệt trừ mọi người nam của nhà A-háp, bất kể là nô lệ hay tự do trong Y-sơ-ra-ên.
9 Ta sẽ làm cho nhà A-háp giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và giống như nhà Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.
10 Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên trong cánh đồng Gít-rê-ên, không ai chôn cất.’” Nói xong, nhà tiên tri mở cửa ra và chạy trốn.
11 Giê-hu trở ra với các quan tướng của chủ mình. Họ hỏi ông: “Mọi việc bình an chứ? Tại sao tên khùng ấy đến gặp ông?” Ông đáp với họ: “Các ông biết người và cũng biết những điều người ấy nói rồi.”
12 Nhưng họ nói: “Đừng giả vờ! Hãy kể lại cho chúng tôi nghe đi.” Vậy ông nói: “Người ấy nói với tôi đại ý như thế nầy: ‘Đức Giê-hô-va phán: Ta xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên.’”
13 Ai nấy liền vội vàng lấy áo choàng mình trải xuống dưới chân ông, trên các bậc thang. Rồi họ thổi kèn và hô lên rằng: “Giê-hu làm vua!”
14 Như vậy, Giê-hu con Giô-sa-phát, cháu Nim-si, âm mưu chống lại Giô-ram. Lúc ấy, Giô-ram và toàn quân Y-sơ-ra-ên đang bảo vệ Ra-mốt Ga-la-át chống lại Ha-xa-ên, vua A-ram.
15 Nhưng vua Giô-ram đã trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương mà quân A-ram đã gây ra trong lúc vua giao chiến với Ha-xa-ên, vua A-ram. Giê-hu nói: “Nếu các ông đồng ý thì đừng để một ai thoát khỏi thành đi báo tin cho Gít-rê-ên.”
16 Vậy Giê-hu lên xe đi đến Gít-rê-ên, vì Giô-ram đang nằm điều trị tại đó. Và A-cha-xia, vua Giu-đa, cũng đi xuống đó thăm Giô-ram.
17 Người lính canh đang đứng trên tháp Gít-rê-ên thấy đoàn quân của Giê-hu đang tiến đến thì kêu lên: “Tôi thấy có đoàn quân tiến đến.” Giô-ram liền bảo: “Hãy chọn một kỵ binh, sai đi đón họ và hỏi: ‘Bình an chăng?’”
18 Vậy một kỵ binh đi đón Giê-hu và nói: “Vua hỏi: ‘Bình an chăng?’” Giê-hu trả lời: “Bình an hay không thì có can hệ gì đến ngươi? Hãy lui ra đằng sau ta.” Người lính canh báo cáo: “Sứ giả đã đến gặp họ rồi, nhưng không trở về.”
19 Vua lại sai một kỵ binh thứ hai đến với họ và nói: “Vua hỏi: ‘Bình an chăng?’” Giê-hu trả lời: “Bình an hay không thì có can hệ gì đến ngươi? Hãy lui ra đằng sau ta.”
20 Người lính canh lại báo cáo: “Sứ giả đã đến gặp họ rồi, nhưng không trở về. Cách đánh xe trông giống như cách của Giê-hu, con Nim-si, vì ông ấy đánh xe một cách hung hăng.”
21 Giô-ram bảo: “Hãy thắng xe!” Người ta thắng xe cho vua. Rồi Giô-ram vua Y-sơ-ra-ên, và A-cha-xia vua Giu-đa, mỗi người lên xe mình, ra đón Giê-hu và gặp ông ấy trong cánh đồng của Na-bốt, người Gít-rê-ên.
22 Khi Giô-ram vừa thấy Giê-hu thì hỏi: “Giê-hu, bình an chứ?” Nhưng Giê-hu trả lời: “Bình an sao được khi mà sự dâm đãng và tà thuật của Giê-sa-bên, mẹ vua, vẫn còn nhan nhản?”
23 Giô-ram liền quay xe chạy trốn, và nói với A-cha-xia: “A-cha-xia, có mưu phản!”
24 Giê-hu giương cung đang cầm sẵn trong tay, bắn Giô-ram trúng khoảng giữa hai vai. Mũi tên xuyên qua tim, khiến vua gục ngã trong xe.
25 Giê-hu nói với Bích-ca, quan hầu cận của mình: “Hãy đem xác hắn ném vào cánh đồng của Na-bốt, người Gít-rê-ên. Vì hãy nhớ lại khi ta và ngươi cùng cưỡi ngựa song song với nhau theo sau A-háp, cha hắn, thì Đức Giê-hô-va có lời phán chống lại hắn như thế nầy:
26 ‘Đức Giê-hô-va phán: Thật, vì hôm qua Ta đã thấy máu của Na-bốt và máu của các con trai người đổ ra, nên Ta sẽ bắt ngươi phải trả nợ máu tại chính trên cánh đồng nầy.’ Đức Giê-hô-va phán quyết như thế. Vậy bây giờ, hãy đem xác hắn ném vào cánh đồng ấy, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.”
27 Khi A-cha-xia, vua Giu-đa, thấy việc ấy thì chạy trốn về hướng Bết Ha-gan. Nhưng Giê-hu đuổi theo và ra lệnh: “Cũng hãy đánh giết hắn lúc đang ngồi trên xe, ở dốc Gu-rơ, gần Gíp-lê-am!” A-cha-xia bị thương và chạy trốn đến Mê-ghi-đô, rồi chết tại đó.
28 Các đầy tớ của vua đặt xác vua trên một cỗ xe chở về Giê-ru-sa-lem, và an táng trong mộ cùng với các tổ phụ vua tại thành Đa-vít.
29 A-cha-xia lên ngai vua Giu-đa vào năm thứ mười một đời trị vì của Giô-ram, con vua A-háp.
30 Sau đó, Giê-hu đến Gít-rê-ên. Khi Giê-sa-bên hay tin thì vẽ mắt, trang điểm mái tóc, rồi từ cửa sổ nhìn xuống.
31 Lúc Giê-hu vào cổng thành thì bà hỏi: “Hỡi Xim-ri, kẻ giết chủ mình! Bình an chứ?”
32 Giê-hu ngẩng mặt lên về hướng cửa sổ và hỏi: “Trên kia có ai theo ta không? Có ai không?” Có hai hoặc ba hoạn quan nhìn xuống ông.
33 Ông bảo: “Hãy ném nó xuống!” Họ ném bà xuống đất, máu bắn tung tóe lên tường và lên các con ngựa giẫm lên xác bà.
34 Giê-hu đi vào, ăn uống xong, ông nói: “Bây giờ hãy đi xem người đàn bà đáng bị nguyền rủa ấy và lo chôn cất nó, vì dù sao nó cũng là con gái của vua.”
35 Nhưng khi họ đi lo chôn cất bà ấy thì chẳng còn thấy gì ngoài cái sọ, hai chân và hai bàn tay.
36 Họ trở về báo cáo cho Giê-hu. Ông nói: “Ấy là lời của Đức Giê-hô-va đã dùng đầy tớ Ngài là Ê-li, người Thi-sê-be, mà phán rằng: ‘Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên trong cánh đồng Gít-rê-ên.
37 Xác của Giê-sa-bên sẽ như phân trên mặt đất trong cánh đồng Gít-rê-ên, đến nỗi người ta không thể nói: Đây là Giê-sa-bên.’”
1 Lúc bấy giờ, có bảy mươi con trai của A-háp sống tại Sa-ma-ri. Giê-hu viết thư gửi đến Sa-ma-ri cho các thủ lĩnh là các trưởng lão của Gít-rê-ên, và các giám hộ do A-háp bổ nhiệm. Trong thư ông viết:
2 “Vì các con trai của chủ các ông đang ở với các ông, và vì các ông có nhiều cỗ xe, ngựa chiến, thành trì kiên cố, và đầy đủ khí giới, nên khi thư nầy đến tay các ông,
3 hãy chọn trong các con trai chủ mình một người tài đức nhất để lập người ấy lên ngai kế vị vua cha. Rồi các ông hãy chiến đấu vì nhà của chủ mình.”
4 Họ vô cùng khiếp sợ và nói: “Kìa, hai vua còn không chống nổi ông ấy thì làm sao chúng ta có thể chống lại được?”
5 Các quan chức quản lý thành và cung điện, cùng các trưởng lão và các giám hộ của những con trai A-háp, sai người đến nói với Giê-hu: “Chúng tôi là đầy tớ của ông, sẵn sàng làm mọi điều ông bảo. Chúng tôi không muốn tôn ai lên làm vua cả. Xin ông cứ làm điều gì ông cho là phải.”
6 Giê-hu viết cho họ một thư thứ hai, trong thư ông viết: “Nếu các ông đứng về phía tôi và sẵn sàng tuân lệnh tôi thì hãy chém đầu các con trai của chủ mình, rồi đem đến cho tôi tại Gít-rê-ên vào giờ nầy ngày mai.” Lúc ấy, bảy mươi người con của vua đang ở với các quan lớn trong thành, là những người có nhiệm vụ dưỡng dục chúng.
7 Vừa nhận được thư, họ liền bắt và giết bảy mươi con trai của A-háp, rồi để thủ cấp của chúng trong những cái giỏ và gửi đến cho Giê-hu ở Gít-rê-ên.
8 Có sứ giả đến báo tin cho Giê-hu rằng: “Họ đã đem thủ cấp của các con A-háp đến rồi.” Ông bảo: “Hãy chất thành hai đống nơi lối vào cổng thành cho đến sáng.”
9 Sáng sớm, Giê-hu đi ra, đứng nói với toàn dân: “Anh em đều vô can! Kìa, chính tôi đã mưu phản và giết chủ tôi. Nhưng ai đã giết tất cả những người nầy chứ?
10 Bây giờ, anh em hãy biết rằng trong các lời Đức Giê-hô-va đã phán về nhà A-háp, sẽ không có lời nào rơi xuống đất. Đức Giê-hô-va thực hiện những gì Ngài đã dùng Ê-li, đầy tớ Ngài, phán ra.”
11 Vậy, Giê-hu giết tất cả những người còn lại trong nhà A-háp ở Gít-rê-ên, tất cả các quan lớn, các bạn hữu và những thầy tư tế của nhà vua, không để một ai sống sót.
12 Sau đó, Giê-hu lên đường đến Sa-ma-ri. Trên đường đi, khi đến Bết Ê-két Ha-rô-im,
13 ông gặp các anh em của A-cha-xia, vua Giu-đa, thì hỏi: “Các ông là ai?” Họ đáp: “Chúng tôi là anh em của A-cha-xia. Chúng tôi xuống thăm các hoàng tử và hoàng thúc.”
14 Giê-hu ra lệnh: “Hãy bắt sống chúng!” Người ta bắt sống và giết những người ấy tại một cái hố ở Bết Ê-két, tất cả là bốn mươi hai người, không để sót một ai.
15 Khi rời chỗ đó, Giê-hu gặp Giô-na-đáp, con của Rê-cáp, đang đến đón ông. Giê-hu chào Giô-na-đáp và hỏi: “Ông có một lòng một dạ với tôi, như tôi đã thực lòng với ông không?” Giô-na-đáp trả lời: “Có.” Giê-hu nói: “Nếu thế thì hãy đưa tay ông ra.” Giô-na-đáp đưa tay ra, và Giê-hu đỡ ông ấy lên xe với mình.
16 Giê-hu nói: “Hãy đi với tôi và chứng kiến lòng nhiệt thành của tôi đối với Đức Giê-hô-va.” Vậy họ đi với nhau trên chiến xa của Giê-hu.
17 Khi đến Sa-ma-ri, Giê-hu giết tất cả những người còn sót lại của nhà A-háp tại Sa-ma-ri, cho đến khi đã diệt sạch nhà ấy, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán với Ê-li.
18 Giê-hu tập hợp toàn dân lại và nói với họ: “A-háp phụng sự Ba-anh còn ít, Giê-hu sẽ phụng sự nhiều hơn.
19 Vậy bây giờ, hãy triệu tập cho ta tất cả các tiên tri của Ba-anh, tất cả những kẻ phụng thờ và tất cả thầy tư tế của Ba-anh. Không một ai được vắng mặt, vì ta sẽ dâng một tế lễ lớn cho Ba-anh. Tất cả những ai vắng mặt sẽ không được sống.” Thật ra, Giê-hu chỉ lập mưu để tiêu diệt những kẻ phụng thờ Ba-anh.
20 Giê-hu ra lệnh: “Hãy tổ chức một lễ trọng thể để cúng thờ Ba-anh.” Vậy người ta công bố lễ ấy ra.
21 Giê-hu sai sứ giả đi khắp Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, tất cả những kẻ phụng thờ Ba-anh đều đến, chẳng thiếu một ai. Họ vào đền thờ Ba-anh, và đền đầy ắp người từ đầu nầy đến đầu kia.
22 Giê-hu bảo người giữ áo lễ: “Hãy phát áo lễ cho tất cả những kẻ đến phụng thờ Ba-anh.” Người ấy phát áo lễ cho họ.
23 Sau đó, Giê-hu và Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, vào trong đền thờ Ba-anh. Ông nói với những kẻ phụng thờ Ba-anh rằng: “Hãy lục soát cho kỹ, xem có người nào phụng sự Đức Giê-hô-va ở đây với các ngươi không; chỉ nên có những kẻ phụng thờ Ba-anh mà thôi.”
24 Rồi họ vào dâng các sinh tế và tế lễ thiêu. Nhưng Giê-hu đã đặt tám mươi người mai phục bên ngoài, và cảnh cáo: “Nếu có ai trong những người mà ta trao vào tay các ngươi trốn thoát thì phải lấy mạng thế mạng.”
25 Khi vừa dâng tế lễ thiêu xong, Giê-hu ra lệnh cho quân hộ vệ và các quan tướng: “Hãy vào giết chúng, đừng để một ai trốn thoát!” Vậy quân hộ vệ và các quan tướng dùng gươm giết chúng, ném xác ra ngoài. Rồi họ đi vào thành nội của đền thờ Ba-anh,
26 lôi những trụ thờ của đền thờ Ba-anh ra và đốt đi.
27 Họ đập vỡ trụ thờ thần Ba-anh và phá hủy đền thờ Ba-anh, biến thành một nhà xí cho đến ngày nay.
28 Như vậy, Giê-hu tiêu diệt thần Ba-anh khỏi Y-sơ-ra-ên.
29 Tuy nhiên, ông chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Giê-hu đã không tiêu diệt sự thờ phượng các bò con bằng vàng tại Bê-tên và Đan.
30 Đức Giê-hô-va phán với Giê-hu: “Vì ngươi đã làm tốt điều công chính trước mặt Ta, đúng như những gì Ta muốn ngươi làm đối với nhà A-háp, nên con cháu ngươi sẽ ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư.”
31 Nhưng Giê-hu không hết lòng cẩn thận tuân theo luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ông chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
32 Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va bắt đầu thu hẹp bờ cõi Y-sơ-ra-ên. Ha-xa-ên đánh bại họ trên khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên,
33 chiếm vùng đất phía đông sông Giô-đanh; tức là toàn miền Ga-la-át, đất của các bộ tộc Gát, Ru-bên, và Ma-na-se, từ thành A-rô-e, trên bờ sông Ạt-nôn, cho đến cả miền Ga-la-át và Ba-san.
34 Chẳng phải các việc khác của Giê-hu, mọi việc vua đã làm, và thế lực của vua, đều được chép trong lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
35 Giê-hu an giấc cùng các tổ phụ mình, và được an táng tại Sa-ma-ri. Giô-a-cha, con trai vua, lên ngai kế vị.
36 Thời gian Giê-hu cai trị trên Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri là hai mươi tám năm.
1 Khi A-tha-li, mẹ của vua A-cha-xia, thấy con mình đã chết thì đứng lên tiêu diệt toàn bộ hoàng tộc.
2 Nhưng Giô-sê-ba, con gái của vua Giô-ram và là chị của A-cha-xia, bắt trộm Giô-ách, con của A-cha-xia, khỏi số các hoàng tử sắp bị giết, rồi giấu cậu trong phòng ngủ cùng với người vú nuôi. Như thế, người ta đã giấu Giô-ách khuất mắt A-tha-li, và cậu không bị giết.
3 Giô-ách ẩn trốn với Giô-sê-ba trong đền thờ Đức Giê-hô-va sáu năm, trong khi A-tha-li cai trị xứ sở.
4 Vào năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa sai người đi mời các quan chỉ huy một trăm quân thuộc đội quân Ca-rít và quân cảnh vệ đến gặp ông trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Ông lập giao ước với họ, buộc họ tuyên thệ trong đền thờ Đức Giê-hô-va và giới thiệu hoàng tử cho họ.
5 Ông truyền lệnh: “Đây là điều các ông sẽ làm: Một phần ba trong các ông đến phiên trực ngày sa-bát sẽ canh giữ hoàng cung,
6 một phần ba sẽ canh cổng Su-rơ, còn một phần ba sẽ canh cổng phía sau quân cảnh vệ. Các ông sẽ luân phiên nhau canh giữ cung điện.
7 Còn hai phần ba trong các ông mãn phiên trực ngày sa-bát, sẽ ở gần vua, canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va.
8 Các ông sẽ bao quanh vua, mỗi người cầm vũ khí trong tay. Ai muốn xâm nhập hàng ngũ các ông thì hãy giết đi. Khi vua đi ra đi vào thì các ông phải ở bên cạnh vua.”
9 Các quan chỉ huy một trăm quân làm theo lệnh của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Mỗi người đem quân lính của mình, gồm những người đang phiên trực cũng như những người mãn phiên trực ngày sa-bát, đến với thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa.
10 Thầy tế lễ trao cho các quan chỉ huy một trăm quân những giáo và khiên của vua Đa-vít được cất giữ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
11 Quân cảnh vệ ai nấy đều cầm vũ khí trong tay đứng chung quanh vua, dọc theo bàn thờ và đền thờ, từ bên phải cho đến bên trái của đền thờ.
12 Giê-hô-gia-đa đưa hoàng tử ra, đội vương miện và trao cuộn Chứng Ước cho người. Họ xức dầu phong vương cho hoàng tử, rồi vỗ tay và tung hô: “Vua vạn tuế!”
13 Khi nghe tiếng huyên náo của quân cảnh vệ và dân chúng thì bà A-tha-li đến gặp dân chúng tại đền thờ của Đức Giê-hô-va.
14 Bà thấy vua đang đứng trên bệ cao như nghi lễ thường lệ, có các quan chỉ huy và những người thổi kèn ở bên cạnh vua. Toàn dân trong xứ đều vui mừng giữa tiếng kèn trỗi vang. A-tha-li liền xé áo mình và la lên: “Phản loạn! Phản loạn!”
15 Nhưng thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa ra lệnh cho các quan chỉ huy quân đội: “Hãy lôi bà ấy ra khỏi hàng quân! Ai theo bà ấy đều phải bị giết bằng gươm.” Vì thầy tế lễ đã nói: “Đừng giết bà ấy trong đền thờ của Đức Giê-hô-va,”
16 nên họ túm lấy bà dẫn đến cung vua theo lối đi của ngựa, và giết bà tại đó.
17 Giê-hô-gia-đa lập giao ước giữa Đức Giê-hô-va với vua và dân chúng để xác định dân Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Giê-hô-va. Ông cũng lập một giao ước giữa vua với dân chúng.
18 Rồi toàn dân trong xứ kéo đến và phá đổ đền thờ Ba-anh. Họ đập nát các bàn thờ và tượng thần Ba-anh ra từng mảnh. Còn Ma-than, thầy tế lễ Ba-anh, thì bị họ giết ngay trước các bàn thờ. Sau đó, thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đặt người canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va.
19 Ông đem theo các quan chỉ huy một trăm quân, đội quân Ca-rít, quân cảnh vệ và toàn dân trong xứ. Họ rước vua từ đền thờ Đức Giê-hô-va xuống, đi qua cổng của quân cảnh vệ để vào cung vua. Rồi Giô-ách lên ngai vua.
20 Toàn dân trong xứ đều vui mừng, và kinh thành được yên tĩnh sau khi người ta đã giết A-tha-li bằng gươm tại cung vua.
21 Giô-ách lên ngai vua khi mới bảy tuổi.
1 Vào năm thứ bảy đời trị vì của vua Giê-hu, Giô-ách lên làm vua và cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xi-bia, quê ở Bê-e Sê-ba.
2 Nhờ được thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa dạy dỗ, Giô-ách làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va trọn đời mình.
3 Tuy nhiên, các nơi cao vẫn chưa bị tháo dỡ; dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao ấy.
4 Giô-ách nói với các thầy tế lễ: “Tất cả số bạc được đem vào làm tế lễ thánh trong đền thờ Đức Giê-hô-va, tức là số bạc chuộc mạng mà mỗi người phải nộp theo quy định khi kiểm tra dân số, và bạc mà dân chúng tự nguyện dâng hiến trong đền thờ Đức Giê-hô-va;
5 thì các ông phải nhận số bạc ấy từ những người dâng hiến để sửa chữa những chỗ hư hại trong đền thờ.”
6 Nhưng mãi đến năm thứ hai mươi ba đời vua Giô-ách, các thầy tế lễ vẫn chưa sửa chữa đền thờ.
7 Vì vậy, vua Giô-ách gọi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa và các thầy tế lễ khác đến, và hỏi: “Sao các ông không sửa chữa những chỗ hư hại của đền thờ? Vậy từ nay, các ông đừng nhận bạc từ những người dâng hiến nữa, nhưng hãy giao lại số bạc thu được cho người có trách nhiệm sửa chữa đền thờ.”
8 Các thầy tế lễ đồng ý không nhận bạc của dân chúng, và cũng không đảm trách việc sửa chữa đền thờ nữa.
9 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lấy một cái rương, khoét lỗ trên nắp, rồi đặt gần bàn thờ, về phía bên phải lối vào đền thờ Đức Giê-hô-va. Các thầy tế lễ canh cửa đền thờ bỏ vào trong rương ấy tất cả số bạc mà người ta đem đến đền thờ Đức Giê-hô-va.
10 Khi nào người ta thấy có nhiều bạc trong rương thì thư ký của vua cùng với thầy tế lễ thượng phẩm đi lên lấy số bạc trong đền thờ của Đức Giê-hô-va ra đếm, bỏ vào bao và cột lại.
11 Sau đó, họ giao số bạc đã kiểm vào tay những đốc công trông coi việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va. Những người ấy dùng nó chi trả cho thợ mộc và thợ xây cất,
12 thợ nề và thợ đá, là những người làm việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va. Họ cũng dùng số bạc ấy mua gỗ và đá chẻ để sửa chữa những chỗ hư hại của đền thờ Đức Giê-hô-va, và dùng vào các chi phí khác trong việc sửa chữa đền thờ.
13 Nhưng người ta không dùng số bạc đã đem đến đền thờ Đức Giê-hô-va để làm chậu bằng bạc, kéo cắt tim đèn, bát, kèn, hay bất cứ dụng cụ nào bằng vàng, bằng bạc, dùng trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
14 Vì họ giao số bạc ấy cho những người phụ trách công việc để dùng vào việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va.
15 Không ai đòi hỏi những người nhận bạc để chi trả cho các nhân công phải khai trình sổ sách, vì họ làm việc một cách trung thực.
16 Còn số bạc về tế lễ chuộc lỗi và tế lễ chuộc tội thì không được đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va; số bạc ấy thuộc về các thầy tế lễ.
17 Vào lúc ấy, vua A-ram là Ha-xa-ên đem quân tấn công thành Gát và chiếm được thành nầy. Vua quay sang tấn công Giê-ru-sa-lem.
18 Giô-ách, vua Giu-đa, lấy tất cả các vật thánh mà các tiên đế của Giu-đa là Giô-sa-phát, Giô-ram và A-cha-xia đã biệt riêng ra thánh, cùng với các vật thánh mà chính vua đã dâng hiến, và tất cả vàng ở trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua mà đem nộp hết cho Ha-xa-ên, vua A-ram. Vì thế, Ha-xa-ên rút lui khỏi Giê-ru-sa-lem.
19 Chẳng phải các việc khác của Giô-ách và tất cả những gì vua làm đều đã được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
20 Các thuộc hạ của Giô-ách nổi lên lập mưu chống lại vua và giết vua tại cung Mi-lô, trên đường đi xuống Si-la.
21 Hai thuộc hạ đã đánh giết vua là Giô-sa-bát, con của Si-mê-át, và Giê-hô-sa-bát, con của Sô-mê. Người ta an táng vua cùng với các tổ phụ trong thành Đa-vít. Rồi con vua là A-ma-xia lên ngai kế vị.
1 Vào năm thứ hai mươi ba đời trị vì của Giô-ách, con A-cha-xia, vua Giu-đa, thì Giô-a-cha, con Giê-hu, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và trị vì mười bảy năm.
2 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo các tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; vua không từ bỏ tội ấy.
3 Vì thế, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài phó họ vào tay Ha-xa-ên, vua A-ram, và vào tay Bên Ha-đát, con trai Ha-xa-ên, suốt thời trị vì của hai vua đó.
4 Nhưng khi Giô-a-cha khẩn xin ân huệ của Đức Giê-hô-va thì Đức Giê-hô-va nhậm lời vua, vì Ngài đã thấy cảnh dân Y-sơ-ên bị vua A-ram áp bức.
5 Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên một vị cứu tinh giải thoát họ khỏi tay dân A-ram. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên lại được sống trong lều trại của mình như trước.
6 Tuy nhiên, họ vẫn không từ bỏ tội lỗi của nhà Giê-rô-bô-am, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; họ cứ phạm tội đó, đến nỗi trụ thờ nữ thần A-sê-ra còn đứng sừng sững tại Sa-ma-ri.
7 Chúa không để lại gì cho quân lực của Giô-a-cha ngoài năm mươi kỵ binh, mười chiến xa, và mười nghìn bộ binh. Vì vua A-ram đã tiêu diệt và nghiền nát quân Y-sơ-ra-ên như bụi trong sân đập lúa.
8 Chẳng phải các việc khác của Giô-a-cha, tất cả những gì vua đã làm, và thế lực của vua đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
9 Giô-a-cha an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng tại Sa-ma-ri. Giô-ách, con vua, lên ngai kế vị.
10 Vào năm thứ ba mươi bảy đời trị vì của Giô-ách, vua Giu-đa, thì Giô-ách, con trai Giô-a-cha, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và trị vì mười sáu năm.
11 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; vua cứ đi theo con đường tội lỗi ấy.
12 Chẳng phải các việc khác của Giô-ách, tất cả những gì vua đã làm, và chiến công của vua trong cuộc chiến với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
13 Giô-ách an giấc cùng các tổ phụ mình, rồi Giê-rô-bô-am lên ngai kế vị. Giô-ách được an táng tại Sa-ma-ri cùng với các vua Y-sơ-ra-ên.
14 Ê-li-sê lâm bệnh, và do bệnh ấy ông phải qua đời. Trước đó, Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, xuống thăm ông, khóc trước mặt ông và kêu than: “Cha tôi ơi! Cha tôi ơi! Chiến xa và kỵ binh của Y-sơ-ra-ên!”
15 Ê-li-sê nói với vua: “Xin vua lấy cung và tên ra đây.” Giô-ách lấy cung và tên.
16 Ê-li-sê lại nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Vua hãy giương cung lên.” Vua liền giương cung. Rồi Ê-li-sê đặt tay mình trên tay vua
17 và nói: “Hãy mở cửa sổ về hướng đông.” Giô-ách mở cửa ra. Ê-li-sê lại nói: “Hãy bắn.” Vua liền bắn. Bấy giờ, Ê-li-sê nói: “Ấy là mũi tên chiến thắng của Đức Giê-hô-va, tức là mũi tên chiến thắng quân A-ram; vì vua sẽ đánh quân A-ram tại A-phéc, cho đến khi tận diệt chúng.”
18 Ê-li-sê nói tiếp: “Xin vua hãy cầm lấy các mũi tên.” Vua liền cầm lấy. Ê-li-sê lại bảo vua Y-sơ-ra-ên: “Hãy đập xuống đất.” Giô-ách đập ba lần, rồi ngừng lại.
19 Người của Đức Chúa Trời nổi giận với vua và nói: “Nếu vua đã đập năm hoặc sáu lần thì mới có thể đánh quân A-ram cho đến khi tận diệt chúng. Nhưng bây giờ, vua sẽ chỉ đánh bại quân A-ram được ba lần mà thôi.”
20 Ê-li-sê qua đời và được an táng. Trong thời ấy, những toán quân Mô-áp cướp phá thường xâm nhập xứ sở vào dịp đầu năm.
21 Một lần kia, người ta đang đem một người chết đi chôn thì thấy một toán quân đến cướp phá, họ liền ném người chết vào mộ của Ê-li-sê rồi bỏ đi. Vừa khi chạm đến hài cốt của Ê-li-sê thì người chết sống lại và đứng trên chân mình.
22 Ha-xa-ên, vua A-ram, áp bức dân Y-sơ-ra-ên suốt thời gian trị vì của Giô-a-cha.
23 Nhưng Đức Giê-hô-va vẫn làm ơn cho họ. Ngài thương xót và đoái xem họ vì giao ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Ngài không muốn tiêu diệt họ, và cho đến nay, vẫn không loại bỏ họ khỏi mặt Ngài.
24 Khi vua A-ram là Ha-xa-ên băng hà, và con vua là Bên Ha-đát kế vị,
25 thì Giô-ách, con Giô-a-cha, lấy lại từ tay Bên Ha-đát, con trai Ha-xa-ên, các thành mà vua ấy đã đánh chiếm được trong cuộc chiến với vua cha là Giô-a-cha. Giô-ách đánh bại Bên Ha-đát ba lần, và khôi phục các thành của Y-sơ-ra-ên.
1 Vào năm thứ hai đời trị vì của Giô-ách, con Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-ma-xia, con Giô-ách, vua Giu-đa, lên ngai vua.
2 Khi bắt đầu trị vì, vua được hai mươi lăm tuổi, và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-hoa-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.
3 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, nhưng không được như tổ tiên vua là Đa-vít; vua chỉ làm theo mọi điều cha mình là Giô-ách đã làm.
4 Các nơi cao vẫn chưa bị phá hủy, nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao ấy.
5 Vừa khi nắm vững vương quốc trong tay, vua xử tử những thuộc hạ đã giết vua cha.
6 Nhưng vua không xử tử con cái của những kẻ sát nhân ấy, đúng theo lời đã chép trong sách luật pháp của Môi-se; trong đó, Đức Giê-hô-va đã truyền rằng: “Người ta sẽ không giết cha vì tội của con, cũng sẽ chẳng giết con vì tội của cha, vì mỗi người sẽ chết vì tội của mình.”
7 Chính A-ma-xia đã giết mười nghìn quân Ê-đôm tại thung lũng Muối, và chiếm thành Sê-la trong trận nầy, rồi đặt tên là Giốc-then, vẫn còn cho đến ngày nay.
8 Sau đó, A-ma-xia sai sứ giả đến gặp Giô-ách, con Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, với lời thách thức: “Hãy đến, để chúng ta đối mặt đọ sức nhau.”
9 Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai người trả lời với A-ma-xia, vua Giu-đa: “Cây gai ở Li-ban sai người nói với cây bá hương cũng ở Li-ban rằng: ‘Hãy gả con gái anh làm vợ con trai tôi.’ Nhưng có thú rừng của Li-ban đi ngang qua, giẫm nát cây gai.
10 Ông thật đã đánh bại dân Ê-đôm và sinh lòng kiêu căng. Hãy ở nhà mà hưởng vinh quang của chiến công ấy. Tại sao ông lại muốn gây họa cho mình, khiến cho ông và cả Giu-đa bị gục ngã?”
11 Nhưng A-ma-xia không chịu nghe. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên là Giô-ách tiến lên đọ sức mặt đối mặt với A-ma-xia, vua Giu-đa, tại Bết Sê-mết thuộc Giu-đa.
12 Giu-đa bị Y-sơ-ra-ên đánh bại, quân Giu-đa chạy trốn, ai về nhà nấy.
13 Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên bắt được A-ma-xia, vua Giu-đa, con Giô-ách, cháu A-cha-xia tại Bết Sê-mết. Rồi Giô-ách tiến đến Giê-ru-sa-lem, phá đổ tường thành từ cổng Ép-ra-im cho đến cổng Góc, một đoạn dài hai trăm mét.
14 Vua lấy tất cả vàng bạc và mọi vật dụng tìm thấy trong đền thờ Đức Giê-hô-va, và trong các kho tàng của cung điện. Vua cũng bắt nhiều con tin, rồi trở về Sa-ma-ri.
15 Chẳng phải các việc khác của Giô-ách, những gì vua đã làm, thế lực của vua, cuộc chiến của vua với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
16 Giô-ách an giấc cùng các tổ phụ, và được an táng tại Sa-ma-ri chung với các vua Y-sơ-ra-ên. Rồi Giê-rô-bô-am, con vua, lên ngai kế vị.
17 A-ma-xia, con của Giô-ách vua Giu-đa, còn sống mười lăm năm, sau khi Giô-ách, con Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, băng hà.
18 Chẳng phải các việc khác của A-ma-xia đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
19 Tại Giê-ru-sa-lem, người ta âm mưu chống lại vua nên vua chạy trốn đến La-ki. Nhưng họ sai người đuổi theo vua đến La-ki và giết vua tại đó.
20 Họ đặt xác vua trên ngựa, chở về Giê-ru-sa-lem, và an táng vua chung với các tổ phụ tại thành Đa-vít.
21 Toàn dân Giu-đa lập A-xa-ria, được mười sáu tuổi, lên làm vua kế vị vua cha là A-ma-xia.
22 Sau khi vua cha an giấc cùng các tổ phụ, chính vua A-xa-ria là người xây lại Ê-lát và khôi phục chủ quyền thành ấy về cho Giu-đa.
23 Vào năm thứ mười lăm đời trị vì của A-ma-xia, con Giô-ách, vua Giu-đa, thì Giê-rô-bô-am, con Giô-ách, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Vua cai trị bốn mươi mốt năm.
24 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, chẳng từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
25 Chính vua đã khôi phục bờ cõi Y-sơ-ra-ên từ cửa ải Ha-mát cho đến biển A-ra-ba, đúng như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán bởi đầy tớ Ngài là nhà tiên tri Giô-na, con A-mi-tai, ở Gát Hê-phe.
26 Vì Đức Giê-hô-va đã thấy nỗi khốn khổ cay đắng tột cùng của Y-sơ-ra-ên; chẳng một ai, dù nô lệ hay tự do, đến cứu giúp Y-sơ-ra-ên.
27 Và vì Đức Giê-hô-va đã không phán rằng Ngài sẽ xóa tên Y-sơ-ra-ên dưới bầu trời nên Ngài đã dùng Giê-rô-bô-am, con Giô-ách, mà giải cứu họ.
28 Chẳng phải các việc khác của Giê-rô-bô-am, mọi việc vua làm, thế lực của vua, các chiến công và việc khôi phục chủ quyền Đa-mách và Ha-mát từ Giu-đa về cho Y-sơ-ra-ên, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
29 Giê-rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình là các vua Y-sơ-ra-ên. Con vua là Xa-cha-ri lên ngai kế vị.
1 Năm thứ hai mươi bảy đời trị vì của Giê-rô-bô-am, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-xa-ria, con A-ma-xia, vua Giu-đa, bắt đầu trị vì.
2 Khi lên ngai, vua được mười sáu tuổi và cai trị năm mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-cô-lia, quê ở Giê-ru-sa-lem.
3 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, đúng như những gì mà vua cha là A-ma-xia đã làm.
4 Các nơi cao vẫn chưa bị phá hủy, nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao đó.
5 Đức Giê-hô-va trừng phạt vua, khiến vua mắc bệnh phong hủi cho đến ngày băng hà; vua phải sống cách biệt trong một nhà riêng. Giô-tham, con vua, đảm trách việc triều chính và cai trị dân chúng trong nước.
6 Chẳng phải các việc khác của A-xa-ria, mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
7 A-xa-ria an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ trong thành Đa-vít. Rồi con vua là Giô-tham lên kế vị.
8 Vào năm thứ ba mươi tám đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Xa-cha-ri, con trai Giê-rô-bô-am, lên làm vua Y-sơ-ra-ên và cai trị sáu tháng tại Sa-ma-ri.
9 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ mình đã làm. Vua không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
10 Sa-lum, con Gia-be, âm mưu chống lại vua. Ông tấn công vua trước mặt dân chúng, rồi giết chết vua và chiếm ngai.
11 Các việc khác của Xa-cha-ri đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
12 Như thế, lời của Đức Giê-hô-va đã phán hứa với Giê-hu rằng: “Con cháu ngươi sẽ ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư,” đã được ứng nghiệm.
13 Năm thứ ba mươi chín đời trị vì của Ô-xia, vua Giu-đa, thì Sa-lum, con Gia-be, lên làm vua và cai trị một tháng tại Sa-ma-ri.
14 Mê-na-hem, con Ga-đi, từ Tiệt-sa đi lên Sa-ma-ri đánh Sa-lum, con Gia-be, ngay tại Sa-ma-ri và giết chết vua, rồi Mê-na-hem lên làm vua thay cho Sa-lum.
15 Các việc khác của Sa-lum, kể cả âm mưu do vua chủ xướng, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
16 Lúc bấy giờ, Mê-na-hem xuất quân từ Tiệt-sa đánh phá Típ-sắc, giết mọi người trong thành và khắp miền phụ cận. Vì người trong thành ấy không chịu mở cổng cho vua nên vua đánh phá thành, và mổ bụng tất cả phụ nữ có thai.
17 Năm thứ ba mươi chín đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Mê-na-hem, con Ga-đi, lên làm vua Y-sơ-ra-ên, và cai trị mười năm tại Sa-ma-ri.
18 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va; trọn đời không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
19 Vua A-si-ri là Phun đến xâm lấn xứ sở. Mê-na-hem nộp cho Phun ba mươi nghìn ký bạc, để vua ấy giúp giữ vững vương quốc trong tay mình.
20 Mê-na-hem thu số bạc ấy từ những người giàu có trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi người đóng góp hơn nửa ký bạc, để nộp cho vua A-si-ri. Vậy vua A-si-ri rút quân về, không ở lại trong xứ.
21 Chẳng phải các việc khác của Mê-na-hem, và tất cả những việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
22 Mê-na-hem an giấc cùng các tổ phụ mình. Phê-ca-hia, con vua, lên kế vị.
23 Năm thứ năm mươi đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Phê-ca-hia, con Mê-na-hem, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
24 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
25 Một tướng chỉ huy quân đội là Phê-ca, con Rê-ma-lia, âm mưu chống lại vua và đánh giết vua tại Sa-ma-ri, trong pháo đài của hoàng cung, giết luôn Ạt-gốp và A-ri-ê. Phê-ca đem theo năm mươi người Ga-la-át, ông giết Phê-ca-hia và chiếm ngai vua.
26 Các việc khác của Phê-ca-hia, và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
27 Năm thứ năm mươi hai đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Phê-ca, con Rê-ma-lia, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai mươi năm.
28 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
29 Trong đời trị vì của Phê-ca, vua Y-sơ-ra-ên, Tiếc-la Phi-lê-se, vua A-si-ri, đến xâm chiếm Y-giôn, A-bên Bết Ma-ca, Gia-nô-ác, Kê-đe, Hát-so, miền Ga-la-át, miền Ga-li-lê, và cả địa phận Nép-ta-li. Rồi vua bắt dân các nơi ấy đày sang A-si-ri.
30 Lúc ấy, con của Ê-la là Ô-sê âm mưu chống lại vua Phê-ca, con Rê-ma-lia, và đánh giết vua, rồi chiếm ngai vua nhằm năm thứ hai mươi đời trị vì của vua Giô-tham, con Ô-xia.
31 Các việc khác của Phê-ca, và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
32 Năm thứ hai đời trị vì của Phê-ca, con Rê-ma-lia, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-tham, con Ô-xia, vua Giu-đa, lên ngai làm vua.
33 Khi bắt đầu trị vì, Giô-tham được hai mươi lăm tuổi, và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-ru-sa, con gái Xa-đốc.
34 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, noi theo mọi điều vua cha là Ô-xia đã làm.
35 Nhưng các nơi cao vẫn chưa bị phá hủy; dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao đó. Giô-tham đã xây cất cổng trên của đền thờ Đức Giê-hô-va.
36 Chẳng phải các việc khác của Giô-tham, và những việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
37 Vào thời ấy, Đức Giê-hô-va bắt đầu khiến Rê-xin vua A-ram, và Phê-ca, con Rê-ma-lia, đến đánh Giu-đa.
38 Giô-tham an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ tại thành Đa-vít, tổ phụ vua. Thái tử A-cha lên ngai kế vị.
1 Năm thứ mười bảy đời trị vì của vua Phê-ca, con Rê-ma-lia, thì A-cha, con Giô-tham vua Giu-đa, lên làm vua.
2 Khi bắt đầu trị vì thì A-cha được hai mươi tuổi, và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua không làm điều ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình như tổ phụ vua là Đa-vít đã làm.
3 Nhưng vua đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, thậm chí đưa con mình vào lửa để tế thần, theo thói tục ghê tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
4 Vua cũng dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao, trên các ngọn đồi và dưới tất cả cây xanh.
5 Bấy giờ, Rê-xin vua A-ram, và Phê-ca con Rê-ma-lia, vua Y-sơ-ra-ên, kéo quân lên Giê-ru-sa-lem để gây chiến. Họ bao vây A-cha nhưng không đánh thắng vua được.
6 Vào lúc đó, vua A-ram là Rê-xin khôi phục Ê-lát về cho nước A-ram. Vua đuổi dân Giu-đa khỏi Ê-lát, và dân Ê-đôm đến Ê-lát ở đó cho đến ngày nay.
7 A-cha sai sứ giả đến nói với vua A-si-ri là Tiếc-la Phi-lê-se: “Tôi là đầy tớ và là con của ngài. Xin ngài đến giải cứu tôi khỏi tay vua A-ram và vua Y-sơ-ra-ên vì họ đang tấn công tôi.”
8 A-cha lấy bạc vàng trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong các kho tàng của hoàng cung gửi làm lễ vật cho vua A-si-ri.
9 Vua A-si-ri nhận lời yêu cầu của A-cha, kéo quân lên đánh chiếm thành Đa-mách, bắt dân chúng trong thành đày sang Ki-rơ và giết Rê-xin.
10 Khi vua A-cha đến Đa-mách để gặp vua A-si-ri là Tiếc-la Phi-lê-se thì vua thấy một bàn thờ ở Đa-mách. Vua A-cha liền gửi cho thầy tế lễ U-ri kiểu mẫu và mô hình bàn thờ ấy, với tất cả chi tiết chỉ dẫn cách làm bàn thờ.
11 Thầy tế lễ U-ri lập một bàn thờ đúng theo kiểu mẫu mà vua A-cha đã từ Đa-mách gửi về. Thầy tế lễ U-ri làm xong bàn thờ ấy trước khi vua A-cha trở về.
12 Khi từ Đa-mách trở về, vua đến xem bàn thờ rồi lại gần và dâng tế lễ trên đó.
13 Vua dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay, làm lễ quán và huyết của tế lễ bình an trên bàn thờ.
14 Vua cho dời bàn thờ bằng đồng trước mặt Đức Giê-hô-va, vốn ở phía trước đền thờ, giữa bàn thờ mới và đền thờ Đức Giê-hô-va, mà đặt nó ở phía bắc của bàn thờ mới.
15 Rồi vua A-cha truyền lệnh cho thầy tế lễ U-ri rằng: “Trên bàn thờ lớn, hãy dâng tế lễ thiêu buổi sáng và tế lễ chay buổi chiều, tế lễ thiêu và tế lễ chay của vua, tế lễ thiêu và tế lễ chay của toàn dân trong xứ cùng với lễ quán, và rảy huyết sinh tế của tế lễ thiêu, luôn cả huyết của các sinh tế khác trên bàn thờ nầy. Còn bàn thờ bằng đồng, ta sẽ dùng để cầu hỏi ý Chúa.”
16 Thầy tế lễ U-ri làm đúng theo mọi điều vua A-cha đã truyền.
17 Sau đó, vua A-cha cho gỡ bỏ các tấm trám của những cái đế, và dẹp tất cả những bồn nước đặt ở trên. Vua cho hạ bể nước kê trên những con bò bằng đồng xuống rồi đem đặt nó trên một nền đá.
18 Để được lòng vua A-si-ri, vua thay đổi vị trí trong đền thờ của Đức Giê-hô-va bằng cách cho gỡ bỏ vòm che nắng trong ngày sa-bát đã được xây dựng trong đền thờ, và dẹp bỏ lối vào dành cho vua ở bên ngoài.
19 Chẳng phải các việc khác của A-cha và những việc vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
20 A-cha an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ trong thành Đa-vít. Ê-xê-chia, con vua, lên kế vị.
1 Năm thứ mười hai đời trị vì của A-cha, vua Giu-đa, thì Ô-sê, con Ê-la, lên làm vua Y-sơ-ra-ên và cai trị chín năm tại Sa-ma-ri.
2 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va nhưng không bằng các vua Y-sơ-ra-ên trước đó.
3 Vua A-si-ri là Sanh-ma-na-sa lên đánh Ô-sê, khiến vua phải thần phục và triều cống cho Sanh-ma-na-sa.
4 Nhưng khi khám phá ra rằng Ô-sê đang âm mưu làm phản vì đã sai sứ giả đến Sô, vua Ai Cập, và không triều cống hằng năm như trước thì vua A-si-ri bắt Ô-sê xiềng lại và bỏ tù.
5 Rồi vua A-si-ri tiến đánh cả xứ và bao vây Sa-ma-ri trong ba năm.
6 Vào năm thứ chín đời trị vì của Ô-sê, vua A-si-ri chiếm được thành Sa-ma-ri và đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-si-ri. Vua cho họ định cư tại Cha-la, bên bờ sông Cha-bo thuộc vùng Gô-xan và trong các thành của nước Mê-đi.
7 Việc nầy xảy ra vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi Ai Cập và khỏi tay của Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Họ đã thờ lạy các thần khác,
8 sống theo thói tục của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên, và theo thói tục mà các vua Y-sơ-ra-ên đã bày ra.
9 Dân Y-sơ-ra-ên đã lén lút làm những việc bất chính, chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Họ đã xây dựng những nơi cao trong khắp các thành, từ tháp canh cho đến các thành trì kiên cố.
10 Họ đã dựng lên cho mình những trụ thờ bằng đá và tượng nữ thần A-sê-ra trên tất cả những nơi cao và dưới mọi cây xanh.
11 Trên các nơi cao ấy, họ đốt hương như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi họ, làm những việc gian ác để chọc giận Đức Giê-hô-va.
12 Họ thờ phượng những hình tượng mà Đức Giê-hô-va đã phán với họ: “Các ngươi không được thờ lạy chúng.”
13 Tuy thế, Đức Giê-hô-va đã dùng các nhà tiên tri, các nhà tiên kiến cảnh cáo Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rằng: “Hãy quay khỏi đường lối gian ác của các ngươi! Hãy tuân giữ điều răn và luật lệ của Ta, đúng theo toàn bộ luật pháp mà Ta đã truyền cho tổ phụ các ngươi, và mọi điều Ta đã dùng đầy tớ Ta là các nhà tiên tri phán bảo các ngươi.”
14 Nhưng họ không chịu nghe và cứng cổ như các tổ phụ của họ, là những người không tin vào Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.
15 Họ đã xem thường các luật lệ của Ngài cũng như giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ họ, và họ cũng xem thường những lời cảnh cáo mà Ngài đã phán với họ. Họ đi theo các thần hư không và chính họ cũng trở thành hư không. Họ bắt chước các dân tộc chung quanh, là những dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã truyền họ không được làm theo chúng.
16 Họ loại bỏ tất cả điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, đúc cho mình hai tượng bò con, làm tượng nữ thần A-sê-ra, thờ lạy tất cả các thiên thể, và thờ phượng Ba-anh.
17 Họ đưa con trai con gái mình qua lửa để tế thần. Họ dùng tà thuật, tin bói khoa, và tự bán mình để làm điều dữ dưới mắt Đức Giê-hô-va mà chọc giận Ngài.
18 Vì thế, Đức Giê-hô-va rất giận dân Y-sơ-ra-ên và loại bỏ họ khỏi mặt Ngài, chỉ còn lại bộ tộc Giu-đa mà thôi.
19 Ngay cả Giu-đa cũng không tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình. Họ đi theo các thói tục mà Y-sơ-ra-ên đã bày ra.
20 Thế nên, Đức Giê-hô-va loại bỏ toàn thể dòng dõi Y-sơ-ra-ên. Ngài làm cho họ bị sỉ nhục và phó họ vào tay kẻ cướp, cho đến khi Ngài ném họ xa khỏi Ngài.
21 Khi Ngài xé Y-sơ-ra-ên ra khỏi nhà Đa-vít thì họ lập Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm vua. Giê-rô-bô-am dụ dỗ Y-sơ-ra-ên rời bỏ Đức Giê-hô-va và khiến cho họ phạm trọng tội.
22 Dân Y-sơ-ra-ên cứ tiếp tục phạm tất cả tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm. Họ chẳng từ bỏ một tội nào
23 cho đến khi Đức Giê-hô-va đuổi họ khỏi Ngài, đúng như Ngài đã phán bởi tất cả các nhà tiên tri, là đầy tớ Ngài. Như vậy, Y-sơ-ra-ên bị lưu đày biệt xứ sang A-si-ri cho đến ngày nay.
24 Vua A-si-ri đem người từ Ba-by-lôn, Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt-va-im, đến định cư trong các thành của Sa-ma-ri, thế vào chỗ dân Y-sơ-ra-ên. Chúng chiếm xứ Sa-ma-ri và ở trong các thành của nó.
25 Khi mới bắt đầu định cư tại đó, chúng không kính sợ Đức Giê-hô-va nên Đức Giê-hô-va sai sư tử đến vồ chết nhiều người trong bọn chúng.
26 Người ta tâu với vua A-si-ri rằng: “Các dân mà bệ hạ đã đày sang định cư trong các thành của Sa-ma-ri không biết cách tôn thờ thần bản xứ. Vì vậy, thần đó đã sai sư tử đến vồ chết họ, vì họ không biết cách tôn thờ thần bản xứ.”
27 Vua A-si-ri liền truyền lệnh: “Trong số những thầy tế lễ mà các ngươi đã bắt từ đó đem qua đây, hãy đưa một người trở về xứ đó để dạy họ cách thờ thần bản xứ.”
28 Vậy, một trong những thầy tế lễ mà chúng đã lưu đày từ Sa-ma-ri được đưa trở về Bê-tên để dạy chúng cách phải kính sợ Đức Giê-hô-va.
29 Nhưng mỗi dân tộc đều tạo thần riêng cho mình, đặt nó trong đền miếu trên các nơi cao mà dân Sa-ma-ri đã dựng lên. Dân tộc nào cũng tạo thần riêng cho mình trong các thành của chúng.
30 Người Ba-by-lôn tạo tượng thần Su-cốt Bê-nốt, người Cút tạo tượng thần Nẹt-ganh, người Ha-mát tạo tượng thần A-si-ma,
31 người A-vim tạo tượng thần Níp-ca và Tạt-tác, còn người Sê-phạt-va-im thì thiêu các con trai của chúng để tế thần A-tra-mê-léc và A-na-mê-léc, là các thần của dân Sê-phạt-va-im.
32 Chúng kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng lại chọn người của chúng lập làm thầy tế lễ tại các nơi cao; các thầy tế lễ ấy vì chúng mà dâng tế lễ trong các đền miếu ở những nơi cao đó.
33 Các dân tộc ấy kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng cũng phục vụ các thần riêng của mình theo thói tục vốn có của dân tộc chúng trước khi bị lưu đày.
34 Cho đến ngày nay, chúng vẫn còn làm theo thói tục trước kia của mình. Chúng không kính sợ Đức Giê-hô-va, cũng chẳng làm theo những phép tắc, quy định, luật pháp, hay mệnh lệnh Đức Giê-hô-va đã truyền cho con cháu Gia-cốp, mà Ngài đặt tên là Y-sơ-ra-ên.
35 Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với Y-sơ-ra-ên và truyền dạy rằng: “Các con đừng sợ các thần khác, cũng không được thờ lạy, phục vụ và dâng sinh tế cho chúng.
36 Nhưng Đức Giê-hô-va, Đấng đã dùng quyền năng lớn lao và cánh tay giơ thẳng ra, đem các con ra khỏi Ai Cập, chính Ngài là Đấng mà các con phải kính sợ, thờ lạy, và dâng sinh tế.
37 Các phép tắc, quy định, luật pháp và mệnh lệnh mà Ngài đã viết cho các con thì các con phải tuân giữ luôn luôn. Các con đừng sợ các thần khác.
38 Các con không được quên giao ước mà Ta đã lập với các con, và đừng sợ các thần khác.
39 Nhưng các con phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, chính Ngài sẽ giải cứu các con khỏi tay mọi kẻ thù của các con.”
40 Tuy nhiên, các dân tộc ấy không nghe theo, vẫn cứ làm theo thói tục trước kia của mình.
41 Như vậy, các dân tộc ấy vừa kính sợ Đức Giê-hô-va, vừa thờ lạy những tượng chạm mà chúng làm ra. Tổ phụ của chúng làm thế nào thì con cái, cháu chắt cũng làm như thế cho đến ngày nay.
1 Năm thứ ba đời trị vì của Ô-sê, con Ê-la, vua Y-sơ-ra-ên, thì Ê-xê-chia, con A-cha, vua Giu-đa, lên làm vua.
2 Khi lên ngai, vua được hai mươi lăm tuổi, và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-bi, con gái của Xa-cha-ri.
3 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va như Đa-vít, tổ phụ vua, đã làm.
4 Vua phá hủy các nơi cao, đập vỡ những trụ thờ, triệt hạ các tượng A-sê-ra, và đập nát con rắn bằng đồng mà Môi-se đã làm. Vì cho đến lúc đó, dân Y-sơ-ra-ên vẫn xông hương cho nó; người ta gọi nó là Nê-hu-tan.
5 Ê-xê-chia tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến mức trong tất cả các vua Giu-đa, trước hoặc sau vua, chẳng có ai được như vua.
6 Vua bám chặt Đức Giê-hô-va, không rời khỏi Ngài, nhưng tuân giữ các điều răn mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
7 Vì thế, Đức Giê-hô-va ở với vua, bất cứ điều gì vua làm đều được thành công. Vua nổi lên chống lại vua A-si-ri, không thần phục vua ấy nữa.
8 Vua đánh bại người Phi-li-tin đến tận Ga-xa và vùng phụ cận, từ tháp canh cho đến thành trì kiên cố.
9 Vào năm thứ tư đời trị vì của Ê-xê-chia, nhằm năm thứ bảy đời trị vì của Ô-sê, con Ê-la, vua Y-sơ-ra-ên, thì Sanh-ma-na-sa, vua A-si-ri, tiến đánh Sa-ma-ri và bao vây thành.
10 Sau ba năm, họ chiếm được thành. Vậy, thành Sa-ma-ri bị thất thủ vào năm thứ sáu đời trị vì của Ê-xê-chia, tức là năm thứ chín đời trị vì của Ô-sê, vua Y-sơ-ra-ên.
11 Vua A-si-ri đem dân Y-sơ-ra-ên đày qua A-si-ri, định cư họ tại Cha-la, bên bờ sông Cha-bo, thuộc vùng Gô-xan, và ở trong các thành xứ Mê-đi.
12 Việc nầy xảy ra vì họ không vâng theo lời phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, nhưng vi phạm giao ước Ngài. Họ không chịu nghe và cũng chẳng làm theo tất cả những gì Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho.
13 Vào năm thứ mười bốn đời trị vì của Ê-xê-chia, San-chê-ríp, vua A-si-ri, tiến đánh và chiếm các thành kiên cố của Giu-đa.
14 Ê-xê-chia, vua Giu-đa, sai sứ đến La-ki nói với vua A-si-ri rằng: “Tôi có lỗi. Xin ngài lui binh khỏi nước tôi; ngài đòi điều gì, tôi xin chịu cả.” Vua A-si-ri buộc Ê-xê-chia, vua Giu-đa, phải nộp chín nghìn ký bạc, và chín trăm ký vàng.
15 Ê-xê-chia nộp cho vua ấy tất cả số bạc có trong đền thờ Đức Giê-hô-va, và trong các kho tàng của cung vua.
16 Bấy giờ, Ê-xê-chia phải gỡ vàng ở các cửa và cột đền thờ Đức Giê-hô-va mà chính vua đã cẩn vào, rồi đem nộp hết cho vua A-si-ri.
17 Nhưng vua A-si-ri sai Tạt-tan, Ráp-sa-ri, và Ráp-sa-kê, đem theo một đạo quân hùng hậu từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem gặp vua Ê-xê-chia. Chúng tiến lên Giê-ru-sa-lem. Khi tới nơi, chúng đến đứng tại cống dẫn nước ao trên, nằm trên đường cái dẫn đến cánh đồng thợ giặt.
18 Chúng yêu cầu được gặp vua. Nhưng quan quản lý cung điện là Ê-li-a-kim, con của Hinh-kia, thư ký Sép-na, và quan thái sử là Giô-a, con của A-sáp, ra tiếp chúng.
19 Ráp-sa-kê nói với họ: “Hãy về nói lại với Ê-xê-chia rằng: Đại đế A-si-ri nói thế nầy: ‘Dựa vào đâu mà ngươi tự tin như thế?
20 Ngươi tưởng rằng chỉ những lời nói suông có thể thay thế chiến lược và sức mạnh để chiến đấu sao? Vậy bây giờ, ngươi dựa vào ai mà nổi lên chống lại ta?
21 Nầy, ngươi đang nhờ cậy vào Ai Cập chứ gì? Nhưng Ai Cập chỉ như một cây sậy dập nát mà ai vịn vào nó ắt sẽ bị đâm thủng bàn tay. Tất cả những ai nhờ cậy Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, đều bị như thế.’
22 Có thể các ngươi sẽ nói với ta rằng: ‘Chúng tôi tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi. Chẳng phải chính Ê-xê-chia đã phá hủy các nơi cao và bàn thờ trên đó, rồi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem phải thờ lạy trước bàn thờ tại Giê-ru-sa-lem sao?’
23 Thế thì, ngươi hãy đánh cuộc với chủ ta là vua A-si-ri. Ta sẽ cho ngươi hai nghìn con ngựa nếu ngươi có thể tìm đủ kỵ binh để cưỡi.
24 Ngay cả khi ngươi cậy vào Ai Cập để có chiến xa và kỵ binh, liệu ngươi có thể đẩy lui được một tướng nhỏ nhất trong số các quan tướng của chủ ta không?
25 Hơn nữa, chẳng phải là theo ý muốn của Đức Giê-hô-va mà ta tiến đánh để hủy diệt nơi nầy sao? Chính Đức Giê-hô-va đã phán với ta: ‘Hãy tiến đánh và hủy diệt xứ nầy.’”
26 Ê-li-a-kim, con của Hinh-kia, cùng với Sép-na và Giô-a nói với Ráp-sa-kê: “Xin nói với các đầy tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu thứ tiếng ấy. Đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa, kẻo dân ở trên tường thành nghe được.”
27 Nhưng Ráp-sa-kê trả lời với họ: “Có phải chủ ta sai ta đến để chỉ nói các lời nầy với chủ ngươi và các ngươi thôi sao? Chẳng phải là để nói với những người đang ở trên vách thành kia, là những người cùng chung số phận với các ngươi, sẽ phải ăn phân và uống nước tiểu mình sao?”
28 Rồi Ráp-sa-kê đứng dậy, nói lớn tiếng bằng tiếng Giu-đa rằng: “Hãy lắng nghe lời của đại đế A-si-ri!
29 Vua nói thế nầy: ‘Đừng để cho Ê-xê-chia lừa gạt các ngươi, vì hắn không thể nào giải cứu các ngươi khỏi tay ta được đâu.
30 Cũng đừng để Ê-xê-chia dụ dỗ các ngươi tin cậy Đức Giê-hô-va khi nói rằng Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta, và không để cho thành nầy rơi vào tay của vua A-si-ri đâu.
31 Đừng nghe theo Ê-xê-chia, vì vua A-si-ri nói thế nầy: Hãy làm hòa với ta và ra đầu hàng ta thì ai nấy trong các ngươi sẽ được ăn hoa quả trong vườn nho, vườn vả của mình, và uống nước giếng mình,
32 cho tới khi ta đến đem các ngươi vào trong một xứ giống như xứ của các ngươi, tức là xứ có ngũ cốc và rượu, bánh và vườn nho, một xứ có dầu ô-liu và mật ong. Như thế, các ngươi sẽ sống và không chết đâu. Vậy các ngươi đừng nghe Ê-xê-chia, vì hắn lừa dối các ngươi khi nói rằng Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta.
33 Có thần của dân tộc nào giải cứu được xứ mình khỏi tay vua A-si-ri chăng?
34 Thần của Ha-mát và thần của Ạt-bát ở đâu? Thần của Sê-phạt-va-im, thần của Hê-na và thần của Y-va ở đâu? Các thần đó có giải cứu Sa-ma-ri khỏi tay ta chăng?
35 Có thần nào trong tất cả thần của các nước đã giải cứu xứ họ khỏi tay ta được chăng? Vậy, liệu Đức Giê-hô-va có giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta được chăng?’”
36 Nhưng dân chúng im lặng, không đáp lại một lời, vì vua đã ra lệnh: “Các ngươi đừng đáp lại hắn.”
37 Ê-li-a-kim, con của Hinh-kia, quan quản lý cung điện, thư ký Sép-na, và quan thái sử Giô-a, con của A-sáp, xé áo mình rồi trở về thuật lại cho vua Ê-xê-chia mọi lời của Ráp-sa-kê.
1 Khi nghe tin ấy, vua Ê-xê-chia liền xé áo mình, mặc áo sô và đi vào đền thờ Đức Giê-hô-va.
2 Vua sai quan quản lý cung điện là Ê-li-a-kim, thư ký Sép-na và các thầy tế lễ cao niên mặc áo sô đến gặp nhà tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt.
3 Họ nói với ông: “Vua Ê-xê-chia nói thế nầy: ‘Hôm nay là ngày hoạn nạn, quở phạt, và ô nhục; như đàn bà đã đến lúc phải sinh con nhưng không đủ sức để sinh.
4 Chắc Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông đã nghe tất cả những lời của Ráp-sa-kê mà chủ hắn là vua A-si-ri đã sai đến để phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông sẽ trừng phạt chúng về những lời Ngài đã nghe. Vì vậy, xin ông dâng lời cầu nguyện cho những người còn sót lại đây.’”
5 Khi các đầy tớ của vua Ê-xê-chia đến gặp Ê-sai
6 thì Ê-sai nói với họ: “Các ông hãy về tâu lại với chủ mình rằng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Đừng sợ những lời con đã nghe, là những lời mà các đầy tớ của vua A-si-ri xúc phạm đến Ta.
7 Nầy, Ta sẽ đặt một thần linh trong nó, khiến nó nghe tin đồn mà rút quân về nước. Ta sẽ làm cho nó ngã chết dưới lưỡi gươm ngay tại xứ sở nó.’”
8 Khi Ráp-sa-kê trở về thì gặp vua A-si-ri đang đánh thành Líp-na, vì ông được tin vua đã rời khỏi La-ki.
9 Bấy giờ, vua A-si-ri được tin báo về Tiệt-ha-ca, vua Cút, rằng: “Kìa, vua ấy đang kéo quân ra giao chiến với bệ hạ.” Nghe thế, vua A-si-ri lại sai các sứ giả đến gặp Ê-xê-chia, và dặn rằng:
10 “Các ngươi hãy nói với Ê-xê-chia, vua Giu-đa, rằng: ‘Đừng để Đức Chúa Trời, là Đấng mà ngươi tin cậy, lừa dối ngươi rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không rơi vào tay vua A-si-ri đâu.’
11 Nầy, hẳn ngươi có nghe những gì các vua A-si-ri đã làm cho tất cả các nước, chúng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Còn ngươi, ngươi sẽ thoát được sao?
12 Thần của các nước mà cha ông ta đã tiêu diệt, tức là các thần của Gô-xan, Ha-ran, Rết-sép, và người Ê-đen ở tại Tê-la-sa, có giải cứu họ được chăng?
13 Vua của Ha-mát, vua của Ạt-bát, vua của các thành Sê-phạt-va-im, Hê-na, và Y-va ở đâu?”
14 Ê-xê-chia nhận bức thư do các sứ giả trao tận tay. Đọc xong, vua liền lên đền thờ Đức Giê-hô-va, và trải thư ra trước mặt Đức Giê-hô-va.
15 Ê-xê-chia cầu nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Ngài vẫn ngự trên các chê-ru-bim, chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của mọi vương quốc trên đất. Chính Ngài đã dựng nên trời và đất.
16 Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghiêng tai và nghe! Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt và xem! Xin nghe những lời mà San-chê-ríp gửi đến để phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống.
17 Lạy Đức Giê-hô-va, các vua A-si-ri thật đã tàn phá các nước và đất đai của họ,
18 ném các thần của họ vào lửa, vì chúng không phải là thần, mà chỉ là sản phẩm bằng gỗ và bằng đá do tay người làm ra, nên chúng đã bị hủy diệt.
19 Vậy bây giờ, lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con, xin giải cứu chúng con khỏi tay San-chê-ríp, để tất cả các vương quốc trên đất đều biết rằng chỉ một mình Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.”
20 Ê-sai, con trai của A-mốt, sai người đến tâu với vua Ê-xê-chia rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã nghe lời cầu nguyện của con về việc San-chê-ríp, vua A-si-ri.
21 Đây là lời Đức Giê-hô-va phán về nó: ‘Trinh nữ Si-ôn Khinh miệt ngươi, chế nhạo ngươi; Con gái Giê-ru-sa-lem Lắc đầu sau lưng ngươi.
22 Ngươi phỉ báng và xúc phạm đến ai? Ngươi đã lên giọng Và ngước mắt tự cao chống lại ai? Dám chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên sao!
23 Ngươi đã dùng sứ giả mà phỉ báng Chúa. Ngươi nói: “Với vô số chiến xa, Ta lên các đỉnh núi cao, Đến đỉnh cao chót vót của Li-ban; Ta sẽ đốn những cây bá hương cao hơn hết, Và những cây tùng tốt nhất của nó; Ta sẽ đến chỗ xa hơn hết Trong rừng cây rậm rạp.
24 Ta đã đào giếng Và uống nước nơi đất lạ; Ta đã làm cạn khô mọi sông suối Ai Cập Với đôi bàn chân của ta.”
25 Có phải ngươi không hề nghe rằng Ta đã định việc nầy từ lâu? Những gì Ta đã hoạch định từ xa xưa, Nay Ta khiến nó xảy ra, Để ngươi biến các thành kiên cố Ra những đống đổ nát hoang tàn.
26 Cư dân các thành ấy phải bó tay, Khiếp sợ và hổ thẹn; Họ như cây cỏ ngoài đồng, Giống như đám cỏ xanh, Như cỏ non mọc trên mái nhà, Khác nào lúa mì đã héo trước khi vươn lên.
27 Nhưng Ta biết khi ngươi ngồi, lúc ngươi đứng, Khi ngươi ra, lúc ngươi vào; Ngay cả khi ngươi điên cuồng chống lại Ta.
28 Vì ngươi điên cuồng chống lại Ta, Và lời ngạo mạn của ngươi đã thấu đến tai Ta, Nên Ta móc khoen vào mũi ngươi, Tra hàm thiếc vào miệng ngươi. Ta sẽ khiến ngươi phải trở về Theo con đường mà ngươi đã đến.’
29 Hỡi Ê-xê-chia, đây là dấu hiệu cho con: Năm nay các con sẽ ăn sản vật tự mọc; năm thứ nhì ăn sản vật mọc lên do hạt giống tự rơi; nhưng đến năm thứ ba, hãy gieo và gặt, trồng nho và ăn trái.
30 Những người trốn thoát của nhà Giu-đa còn sống sót sẽ tiếp tục đâm rễ ở dưới và ra trái ở trên.
31 Vì sẽ có dân sót lại đi ra từ Giê-ru-sa-lem, và nhóm người trốn thoát ra từ núi Si-ôn. Lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ thực hiện điều đó.
32 Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán về vua A-si-ri như sau: ‘Nó sẽ không vào được thành nầy, sẽ chẳng bắn vào đó một mũi tên nào, cũng chẳng dùng khiên hay đắp lũy mà tấn công thành.
33 Nó sẽ theo con đường mình đã đến mà trở về, không vào thành nầy được đâu.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
34 Vì Ta và vì Đa-vít, đầy tớ Ta, chính Ta sẽ bảo vệ và giải cứu thành nầy.”
35 Ngay đêm ấy, một thiên sứ của Đức Giê-hô-va ra đánh giết một trăm tám mươi lăm nghìn người trong trại quân A-si-ri. Sáng hôm sau, người ta dậy sớm và thấy toàn là xác chết.
36 San-chê-ríp, vua A-si-ri, rút quân về và ở tại Ni-ni-ve.
37 Một hôm, vua San-chê-ríp đang cúi lạy thần của mình trong đền thờ Nít-róc thì các con trai của vua là A-tra-mê-léc và Sa-rết-se dùng gươm giết vua, rồi trốn sang xứ A-ra-rát. Con vua là Ê-sạt Ha-đôn lên kế vị.
1 Trong những ngày đó, Ê-xê-chia lâm bệnh gần chết. Nhà tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt, đến gặp vua và nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Hãy sắp đặt việc nhà của con vì con sắp chết, không sống được nữa.’”
2 Ê-xê-chia quay mặt vào tường và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va:
3 “Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ lại rằng con vẫn bước đi trước mặt Ngài cách trung tín hết lòng, và làm điều thiện dưới mắt Ngài.” Rồi Ê-xê-chia khóc rất thảm thiết.
4 Ê-sai chưa ra khỏi sân giữa của cung điện thì có lời của Đức Giê-hô-va phán với ông:
5 “Hãy trở lại nói với Ê-xê-chia, nhà lãnh đạo của dân Ta, rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ vua, phán thế nầy: ‘Ta đã nghe lời cầu nguyện của con và thấy nước mắt của con. Nầy, Ta sẽ chữa lành cho con; đến ngày thứ ba, con sẽ đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va.
6 Ta sẽ cho con sống thêm mười lăm năm nữa. Ta sẽ giải cứu con và thành nầy khỏi tay vua A-si-ri. Vì Ta và vì đầy tớ Ta là Đa-vít, Ta sẽ bảo vệ thành nầy.’”
7 Ê-sai bảo: “Hãy lấy một cái bánh trái vả đem đắp lên chỗ ung độc thì vua sẽ sống.”
8 Ê-xê-chia hỏi Ê-sai: “Dựa vào dấu hiệu nào để ta biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ chữa lành cho ta, và đến ngày thứ ba ta sẽ được đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va?”
9 Ê-sai đáp: “Đây là dấu hiệu Đức Giê-hô-va ban cho vua để chứng tỏ Ngài sẽ thực hiện điều Ngài đã phán hứa: Vua muốn bóng mặt trời đi tới mười bậc hay lui lại mười bậc?”
10 Ê-xê-chia đáp: “Bóng đi tới mười bậc thì đâu có gì lạ. Không! Xin cho bóng đã đi tới mười bậc lui lại mười bậc.”
11 Nhà tiên tri Ê-sai cầu khẩn Đức Giê-hô-va, và Ngài cho bóng mặt trời rọi xuống đồng hồ mặt trời của A-cha lui lại mười bậc.
12 Trong lúc đó, vua Ba-by-lôn là Bê-rô-đác Ba-la-đan, con của Ba-la-đan, sai người đem thư và quà tặng cho vua Ê-xê-chia, vì nghe tin vua bị bệnh.
13 Sau khi nghe các sứ thần tâu xong, Ê-xê-chia cho họ xem tất cả các kho báu của vua như vàng, bạc, hương liệu, dầu quý, kho vũ khí, và mọi vật trong các kho tàng. Chẳng có vật gì trong cung điện và trong toàn lãnh thổ mà Ê-xê-chia không cho họ xem.
14 Nhà tiên tri Ê-sai đến gặp vua Ê-xê-chia và hỏi: “Những người ấy đã nói gì với vua, và họ từ đâu đến?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đến từ xứ Ba-by-lôn xa xôi.”
15 Ê-sai hỏi tiếp: “Họ đã xem gì trong cung vua?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đã xem tất cả những gì có trong cung điện của ta. Chẳng vật gì trong các kho tàng mà ta không cho họ xem.”
16 Bấy giờ, Ê-sai nói với Ê-xê-chia: “Xin vua nghe lời của Đức Giê-hô-va phán:
17 ‘Nầy, trong những ngày đến, mọi vật trong cung điện của con, tất cả những gì mà tổ tiên con đã tích trữ trong các kho tàng cho đến ngày nay, đều sẽ bị đem qua Ba-by-lôn, chẳng còn một thứ gì!’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
18 ‘Trong số các con ruột của con, do chính con sinh ra, một số sẽ bị bắt đi làm hoạn quan trong cung vua Ba-by-lôn.’”
19 Ê-xê-chia đáp lời Ê-sai: “Lời Đức Giê-hô-va mà ông vừa nói là tốt.” Vì vua thầm nghĩ: “Chẳng phải trong đời ta sẽ được hòa bình và ổn định đó sao?”
20 Các việc khác của Ê-xê-chia, thế lực của vua, việc xây hồ chứa nước, và lập hệ thống dẫn nước vào kinh thành, chẳng phải đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
21 Ê-xê-chia an giấc cùng các tổ phụ mình. Con vua là Ma-na-se lên kế vị.
1 Ma-na-se lên làm vua khi được mười hai tuổi, và trị vì năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Hép-si-ba.
2 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, và theo các thói tục gớm ghiếc của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
3 Vua cho xây lại các nơi cao mà vua cha là Ê-xê-chia đã phá hủy, cũng cho xây bàn thờ Ba-anh, dựng hình tượng A-sê-ra giống như của A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, đã làm. Vua quỳ lạy và phụng thờ tất cả các thiên thể.
4 Vua xây các bàn thờ trong đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Chính tại Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ đặt danh Ta tại đó.”
5 Trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, vua xây bàn thờ cho các thiên thể.
6 Vua đưa con mình qua lửa để tế thần, thực hành phép chiêm tinh và bói toán, cầu hỏi những đồng cốt và thầy bói. Vua làm quá nhiều điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài.
7 Ma-na-se còn đem tượng A-sê-ra do mình làm đặt trong đền thờ mà Đức Giê-hô-va đã phán với Đa-vít và con vua là Sa-lô-môn rằng: “Chính trong đền thờ nầy và thành Giê-ru-sa-lem mà Ta đã chọn trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, là nơi Ta sẽ đặt danh Ta ngự đời đời.
8 Nếu Y-sơ-ra-ên tuân giữ mọi điều Ta đã phán dạy, tức là toàn bộ luật pháp mà Môi-se, đầy tớ Ta, đã truyền cho họ thì Ta sẽ chẳng để dân Y-sơ-ra-ên phải bị lưu lạc khỏi miền đất mà Ta đã ban cho tổ phụ họ.”
9 Nhưng họ không vâng lời; họ đã bị Ma-na-se quyến dụ làm những việc gian ác hơn các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã tuyệt diệt khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
10 Đức Giê-hô-va đã dùng các nhà tiên tri, là các đầy tớ Ngài, mà phán rằng:
11 “Vì Ma-na-se, vua Giu-đa, đã phạm những điều ghê tởm ấy, làm điều gian ác hơn điều dân A-mô-rít đã làm trước đó, và quyến dụ Giu-đa phạm tội thờ thần tượng,
12 nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Nầy, Ta sẽ giáng trên Giê-ru-sa-lem và trên Giu-đa một tai họa mà bất cứ ai nghe đến cũng phải lùng bùng cả hai tai.
13 Ta sẽ căng trên Giê-ru-sa-lem dây đo Sa-ma-ri và dây dọi nhà A-háp. Ta sẽ quét sạch Giê-ru-sa-lem như người ta chùi rửa cái đĩa, rồi úp nó xuống sau khi chùi rửa xong.
14 Ta sẽ từ bỏ phần sản nghiệp còn sót lại của Ta, phó chúng vào tay kẻ thù. Chúng sẽ trở thành chiến lợi phẩm và miếng mồi cho mọi kẻ thù,
15 vì từ ngày tổ phụ chúng ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, chúng đã làm điều ác dưới mắt Ta và chọc giận Ta.’”
16 Ngoài những tội Ma-na-se đã phạm và gây cho Giu-đa phạm tội, khiến họ làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, vua cũng đã làm đổ máu nhiều người vô tội, đến nỗi máu ấy tràn ngập Giê-ru-sa-lem từ đầu nầy đến đầu kia.
17 Chẳng phải các việc khác của Ma-na-se, mọi việc vua làm và tội vua đã phạm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
18 Ma-na-se an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong vườn của cung vua, tức trong vườn U-xa. Con vua là A-môn lên kế vị.
19 A-môn lên làm vua lúc được hai mươi hai tuổi, và cai trị hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Mê-su-lê-mết, con gái của Ha-rút, cháu của Giô-ba.
20 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va như vua cha là Ma-na-se đã làm.
21 Trong mọi việc, vua đi theo đường lối của cha đã đi, thờ các thần tượng mà cha vua đã thờ và quỳ lạy trước mặt chúng.
22 Vua đã từ bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, không đi theo đường lối của Đức Giê-hô-va.
23 Các triều thần của A-môn mưu phản và giết vua trong cung điện.
24 Nhưng dân trong xứ giết tất cả những kẻ phản lại vua A-môn, và họ tôn con của A-môn là Giô-si-a lên kế vị.
25 Chẳng phải các việc khác của A-môn, và những việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
26 A-môn được an táng trong mộ riêng của mình tại vườn U-xa. Rồi con vua là Giô-si-a lên kế vị.
1 Giô-si-a lên ngôi vua khi được tám tuổi, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-đi-đa, con gái của A-đa-gia, cháu Bốt-cát.
2 Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo trọn con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không tẽ tách bên phải hoặc bên trái.
3 Năm thứ mười tám đời trị vì của Giô-si-a, vua sai thư ký Sa-phan, con trai A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, đến đền thờ Đức Giê-hô-va, và dặn rằng:
4 “Hãy lên gặp thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, và xin ông kiểm số bạc đã được dâng vào đền thờ Đức Giê-hô-va, tức là số bạc mà những người giữ cửa đền thờ đã thu nơi dân chúng.
5 Hãy giao số bạc ấy cho những người lo việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va để họ giao lại cho thợ sửa chữa các nơi hư nứt của đền thờ,
6 tức là thợ mộc, thợ xây cất và thợ hồ. Họ cũng dùng số bạc đó mua gỗ và đá chẻ để tu bổ đền thờ.
7 Nhưng đừng buộc họ tính sổ về số bạc giao vào tay họ, vì họ làm việc rất trung thực.”
8 Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia nói với thư ký Sa-phan: “Tôi đã tìm được quyển luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va.” Hinh-kia trao quyển sách đó cho Sa-phan đọc.
9 Sau đó, thư ký Sa-phan đến gặp vua và tâu trình: “Các đầy tớ của bệ hạ đã lấy số bạc có trong đền thờ, và giao tận tay những người phụ trách công việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va.”
10 Thư ký Sa-phan nói tiếp: “Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia có đưa cho tôi một quyển sách.” Rồi Sa-phan đọc sách đó cho vua nghe.
11 Vừa nghe các lời của sách luật pháp, vua liền xé áo mình.
12 Vua ra lệnh cho thầy tế lễ Hinh-kia, cho A-hi-cam, con trai Sa-phan, cho Ạc-bồ, con trai Mi-ca-gia, cho thư ký Sa-phan, và cho A-sa-gia, đầy tớ của vua, như sau:
13 “Hãy đi cầu hỏi Đức Giê-hô-va cho ta, cho dân chúng, và cho cả Giu-đa, về các lời chép trong sách mới tìm được. Đức Giê-hô-va nổi giận phừng phừng cùng chúng ta, vì tổ phụ chúng ta đã không nghe theo các lời của sách nầy, và không làm theo điều đã truyền phán cho chúng ta.”
14 Vậy, thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, Ạc-bồ, Sa-phan, và A-sa-gia đi gặp nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con của Tiếc-va, cháu của Hạt-ha. Bà ấy ở quận hai của thành Giê-ru-sa-lem. Họ trình bày sự việc cho bà.
15 Rồi bà nói với họ: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: Hãy nói với người sai các ngươi đến gặp ta rằng
16 Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sắp giáng tai họa trên chỗ nầy và trên dân cư nó, đúng theo mọi lời được chép trong sách mà vua Giu-đa đã đọc.
17 Vì dân nầy đã từ bỏ Ta, xông hương cho các thần khác và chọc giận Ta bằng mọi việc tay chúng làm, nên cơn giận của Ta nổi bừng lên cùng chỗ nầy, không hề nguôi.’
18 Còn về vua Giu-đa đã sai các ngươi cầu hỏi Đức Giê-hô-va, thì hãy nói với người về các lời người đã nghe rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy:
19 ‘Khi con nghe lời Ta phán nghịch cùng chỗ nầy và nghịch cùng dân cư nó rằng chỗ nầy sẽ trở nên hoang vu, dân cư bị nguyền rủa, thì con có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, xé áo mình và khóc lóc trước mặt Ta. Vì vậy, Ta đã nghe lời cầu nguyện của con.
20 Nầy, Ta sẽ cho con sum họp với các tổ phụ, và con sẽ được an táng nơi phần mộ trong sự bình an. Mắt con sẽ chẳng thấy những điều tai họa mà Ta sắp giáng xuống nơi nầy.’” Họ trở về tâu lại cho vua những lời ấy.
1 Vua Giô-si-a sai người triệu tập tất cả các trưởng lão của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
2 Rồi vua đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va cùng với tất cả người Giu-đa, cả dân cư Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, cùng toàn dân từ nhỏ đến lớn. Vua đọc cho họ nghe mọi lời của sách giao ước vừa tìm được trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
3 Vua đứng trên bệ cao và lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa nguyện đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết linh hồn tuân giữ những điều răn, mệnh lệnh, và luật lệ của Ngài, để hoàn thành lời giao ước đã chép trong sách nầy. Toàn dân đều cam kết thực hiện giao ước ấy.
4 Vua Giô-si-a truyền lệnh cho thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, các thầy phó tế, và các người canh cửa đền thờ, phải đem ra khỏi đền thờ Đức Giê-hô-va tất cả những vật dụng đã làm để cúng thờ Ba-anh, A-sê-ra, và tất cả các thiên thể. Vua bảo thiêu hủy các vật đó bên ngoài Giê-ru-sa-lem, trong cánh đồng Xết-rôn, rồi đem tro nó đến Bê-tên.
5 Vua cũng đuổi những tế sư của các tà thần mà các vua Giu-đa đã lập để xông hương trên các nơi cao trong những thành Giu-đa và tại các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem. Vua cũng đuổi những tế sư xông hương cho Ba-anh, cho mặt trời, mặt trăng, chòm sao hoàng đạo, và tất cả các thiên thể.
6 Vua sai đem trụ tượng A-sê-ra trong đền thờ Đức Giê-hô-va ra bên ngoài Giê-ru-sa-lem, đến khe Xết-rôn, thiêu hủy nó tại đó và nghiền ra tro, rồi rải tro ấy trên mộ của thường dân.
7 Vua cũng phá hủy các nhà của bọn nam mại dâm trong đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi các phụ nữ dệt trại cho A-sê-ra.
8 Vua Giô-si-a tập trung tất cả những thầy tế lễ từ các thành Giu-đa, và làm ô uế những nơi cao mà họ đã xông hương, từ Ghê-ba cho đến Bê-e Sê-ba. Vua phá hủy những miếu thờ đã lập tại cổng thành, gần bên cổng Giô-suê, quan thị trưởng, ở về phía bên trái lối vào cổng thành.
9 Tuy các thầy tế lễ của những nơi cao không được bước đến bàn thờ của Đức Giê-hô-va ở Giê-ru-sa-lem, nhưng họ được ăn bánh không men với anh em mình.
10 Vua cũng làm ô uế Tô-phết trong thung lũng Bên Hi-nôm, để không ai còn có thể dùng chỗ nầy đưa con trai hay con gái mình vào lửa để tế thần Mo-lóc nữa.
11 Vua dẹp bỏ những tượng ngựa mà các vua Giu-đa dâng cho mặt trời, nơi cửa vào đền thờ Đức Giê-hô-va, gần phòng hoạn quan Nê-than Mê-léc, trong hành lang của đền thờ. Vua cũng thiêu hủy những xe đã được dâng cho mặt trời.
12 Vua Giô-si-a cũng phá những bàn thờ mà các vua Giu-đa đã xây trên mái bằng của lầu vua A-cha. Còn những bàn thờ mà Ma-na-se đã dựng lên trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va thì vua triệt hạ, đập bể ra từng mảnh và ném xuống khe Xết-rôn.
13 Vua cũng làm ô uế những nơi cao phía đông Giê-ru-sa-lem, phía nam núi Hủy Diệt, là những nơi cao mà Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã cất lên để cúng thờ Át-tạt-tê, thần tượng ghê tởm của dân Si-đôn; Kê-mốt, thần tượng ghê tởm của dân Mô-áp; và Minh-côm, thần tượng ghê tởm của dân Am-môn.
14 Vua nghiền nát các trụ thờ, triệt hạ các hình tượng A-sê-ra, và chất đầy hài cốt tại các chỗ đó.
15 Ngoài ra, vua cũng phá hủy bàn thờ tại Bê-tên và nơi cao mà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, đã lập, tức là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Vua đập vỡ bàn thờ, thiêu hủy nơi cao và nghiền nó ra thành tro bụi; vua cũng thiêu hủy tượng A-sê-ra.
16 Giô-si-a quay lại nhìn thấy những mồ mả ở trên núi. Vua sai người lấy hài cốt trong những mồ mả ấy, rồi thiêu trên bàn thờ, làm cho bàn thờ bị ô uế, đúng như lời Đức Giê-hô-va mà người của Đức Chúa Trời đã loan báo trước, lúc Giê-rô-bô-am đứng bên bàn thờ trong kỳ lễ. Vua Giô-si-a cũng quay lại ngước nhìn ngôi mộ của người Đức Chúa Trời, là người đã nói trước những điều nầy.
17 Vua hỏi: “Bia mà ta thấy đó là mộ của ai?” Những người trong thành ấy tâu: “Đó là mộ của người Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến, nói tiên tri về những việc mà vua Giê-rô-bô-am đã làm cho bàn thờ tại Bê-tên.”
18 Vua nói: “Hãy để yên hài cốt ấy, đừng ai dời hài cốt người đi.” Vì vậy, họ không dời hài cốt của người, cũng như hài cốt của nhà tiên tri từ Sa-ma-ri đến.
19 Giô-si-a cũng dỡ bỏ tất cả đền miếu trên các nơi cao trong các thành thuộc Sa-ma-ri, do các vua Y-sơ-ra-ên đã xây cất để chọc giận Đức Giê-hô-va, vua phá hủy các nơi đó như đã làm trong Bê-tên.
20 Vua giết tất cả tế sư của những nơi cao trên các bàn thờ, và thiêu hài cốt họ trên đó, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
21 Vua Giô-si-a truyền lệnh cho toàn dân: “Hãy giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, theo như các lời đã được chép trong sách giao ước.”
22 Từ thời các quan xét lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, thời các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đến nay, người ta chưa hề giữ lễ Vượt Qua nào giống như vậy.
23 Mãi đến năm thứ mười tám đời trị vì của vua Giô-si-a, người ta mới giữ lễ Vượt Qua như thế cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.
24 Ngoài ra, Giô-si-a còn trừ khử những đồng cốt và thầy bói, những tượng thần nhỏ trong nhà và các tượng thần khác, cùng tất cả điều ghê tởm trông thấy trong xứ Giu-đa và tại Giê-ru-sa-lem. Vua làm những điều nầy để thực hiện theo các lời luật pháp đã được chép trong sách mà thầy tế lễ Hinh-kia tìm được trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
25 Trước Giô-si-a, không có vua nào hết lòng, hết tâm hồn, hết sức mà quay về với Đức Giê-hô-va, làm trọn luật pháp của Môi-se như vua; và sau Giô-si-a cũng chẳng có vua nào được như vậy.
26 Dù vậy, Đức Giê-hô-va không nguôi cơn giận của Ngài, là cơn thịnh nộ nổi phừng lên chống lại Giu-đa, vì các trọng tội của Ma-na-se trêu chọc Ngài.
27 Đức Giê-hô-va phán: “Ta cũng sẽ đuổi Giu-đa khỏi mặt Ta, như Ta đã đuổi Y-sơ-ra-ên đi. Ta sẽ loại bỏ Giê-ru-sa-lem, thành mà Ta đã chọn, cũng như đền thờ mà Ta phán về nó rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó.’”
28 Chẳng phải các việc khác của Giô-si-a và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
29 Vào thời vua Giô-si-a, Pha-ra-ôn Nê-cô, vua Ai Cập, lên đánh vua A-si-ri bên bờ sông Ơ-phơ-rát. Vua Giô-si-a kéo quân nghênh chiến. Nhưng Pha-ra-ôn vừa thấy Giô-si-a liền giết chết tại Mê-ghi-đô.
30 Từ Mê-ghi-đô, các thuộc hạ của Giô-si-a chở thi hài vua trên xe về Giê-ru-sa-lem, rồi an táng trong mộ của vua. Dân trong xứ chọn Giô-a-cha, con vua Giô-si-a, xức dầu và tôn làm vua, kế vị vua cha.
31 Giô-a-cha lên làm vua khi được hai mươi ba tuổi, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi ở Líp-na.
32 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ mình đã làm.
33 Pha-ra-ôn Nê-cô xiềng Giô-a-cha tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát, không cho làm vua tại Giê-ru-sa-lem nữa, và bắt xứ Giu-đa phải nạp cống ba nghìn ký bạc và ba mươi ký vàng.
34 Pha-ra-ôn Nê-cô lập Ê-li-a-kim, một người con khác của Giô-si-a, lên ngôi kế vị vua cha; Pha-ra-ôn đổi tên Ê-li-a-kim thành Giê-hô-gia-kim. Còn Giô-a-cha bị bắt đưa sang Ai Cập và chết tại đó.
35 Giê-hô-gia-kim phải nộp số bạc và vàng mà Pha-ra-ôn đòi. Nhưng để có số bạc và vàng ấy, vua phải đánh thuế trong xứ, và buộc mỗi người dân tùy theo tài sản của mình mà đóng góp vàng bạc để vua nộp cho Pha-ra-ôn Nê-cô.
36 Giê-hô-gia-kim lên làm vua khi được hai mươi lăm tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xê-bụt-đa, con gái Phê-đa-gia ở Ru-ma.
37 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ mình đã làm.
1 Trong đời Giê-hô-gia-kim trị vì, vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa tiến đánh nước Giu-đa. Giê-hô-gia-kim thần phục vua nầy trong ba năm, rồi lại đổi ý và nổi lên chống vua Ba-by-lôn.
2 Đức Giê-hô-va khiến quân Canh-đê, A-ram, Mô-áp, và quân của người Am-môn đến đánh phá và hủy diệt Giu-đa, theo như lời Đức Giê-hô-va đã dùng các nhà tiên tri là đầy tớ Ngài phán trước.
3 Tai họa nầy hẳn phải xảy đến cho Giu-đa do lệnh của Đức Giê-hô-va, để đuổi nước Giu-đa khỏi mặt Ngài vì các tội Ma-na-se đã phạm, vì mọi điều vua đã làm,
4 và cũng vì máu vô tội mà vua nầy đã làm đổ ra, khiến cho Giê-ru-sa-lem ngập tràn máu vô tội, đến nỗi Đức Giê-hô-va không còn tha thứ được nữa.
5 Chẳng phải các việc khác của Giê-hô-gia-kim và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
6 Giê-hô-gia-kim an giấc cùng các tổ phụ mình; con vua là Giê-hô-gia-kin lên kế vị.
7 Vua Ai Cập không còn ra khỏi xứ mình nữa, vì vua Ba-by-lôn đã chiếm lấy tất cả lãnh thổ thuộc về vua Ai Cập, từ suối Ai Cập cho đến sông Ơ-phơ-rát.
8 Giê-hô-gia-kin lên làm vua khi được mười tám tuổi, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Nê-hu-ta, con gái của Ên-na-than ở Giê-ru-sa-lem.
9 Giê-hô-gia-kin làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như tất cả những gì vua cha đã làm.
10 Trong lúc đó, quân của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đi lên bao vây thành Giê-ru-sa-lem.
11 Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đích thân đến đánh thành trong lúc quân lính của vua bao vây thành.
12 Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, cùng với mẹ mình, các thuộc hạ, các quan tướng, và các hoạn quan, ra đầu hàng vua Ba-by-lôn. Giê-hô-gia-kin bị bắt vào năm thứ tám triều vua Ba-by-lôn.
13 Đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán, vua Ba-by-lôn lấy tất cả những bảo vật của đền thờ Đức Giê-hô-va và những bảo vật của cung vua, đập bể các vật dụng bằng vàng mà Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã làm cho đền thờ Đức Giê-hô-va.
14 Vua bắt những người ở Giê-ru-sa-lem đi đày, gồm tất cả những quan tướng và các chiến sĩ dũng cảm, tổng cộng là mười nghìn người. Vua cũng bắt tất cả thợ mộc và thợ rèn, không chừa một ai, ngoại trừ những người nghèo khổ nhất trong xứ.
15 Vua đày Giê-hô-gia-kin sang Ba-by-lôn cùng với thái hậu, hoàng hậu, các hoạn quan, những người quyền thế trong xứ,
16 luôn với bảy nghìn chiến sĩ, tất cả đều là người mạnh dạn và có khả năng chiến đấu, và một nghìn thợ mộc, thợ rèn. Đó là những người mà vua Ba-by-lôn bắt và lưu đày sang Ba-by-lôn.
17 Vua Ba-by-lôn lập Ma-tha-nia, cậu của Giê-hô-gia-kin, làm vua thay thế, và đổi tên là Sê-đê-kia.
18 Sê-đê-kia lên làm vua khi được hai mươi mốt tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi ở Líp-na.
19 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như tất cả những gì Giê-hô-gia-kim đã làm.
20 Chính vì vậy mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên, khiến những điều nầy xảy đến cho Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, cho đến khi Ngài đuổi họ khỏi mặt Ngài. Sau đó, Sê-đê-kia nổi lên chống lại vua Ba-by-lôn.
1 Năm thứ chín đời trị vì của vua Sê-đê-kia, ngày mồng mười tháng mười, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, cùng toàn quân đến hãm đánh Giê-ru-sa-lem. Vua đóng trại trước thành và đắp chiến lũy chung quanh thành.
2 Thành bị bao vây kéo dài đến năm thứ mười một đời trị vì của vua Sê-đê-kia.
3 Vào ngày mồng chín tháng ấy, nạn đói trong thành trở nên trầm trọng đến nỗi dân chúng không có bánh ăn.
4 Bấy giờ, tường thành bị chọc thủng. Trong đêm, tất cả quân lính đều trốn thoát ra cửa nằm giữa hai vách thành, gần vườn của vua. Trong khi quân Canh-đê đang bao vây thành thì vua Giu-đa chạy trốn theo hướng A-ra-ba.
5 Đạo quân Canh-đê đuổi theo và bắt kịp vua trong đồng bằng Giê-ri-cô. Tất cả binh lính của vua đều bỏ vua chạy tán loạn.
6 Quân Canh-đê bắt vua, dẫn đến vua Ba-by-lôn ở Ríp-la. Tại đó, chúng kết tội Sê-đê-kia.
7 Chúng giết các con trai Sê-đê-kia trước mắt người. Rồi chúng móc mắt Sê-đê-kia, xiềng người bằng xích đồng, và dẫn đến Ba-by-lôn.
8 Ngày mồng bảy tháng năm, năm thứ mười chín đời trị vì của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan, thuộc hạ của vua Ba-by-lôn, đến Giê-ru-sa-lem.
9 Ông thiêu hủy đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua, và tất cả nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem; đốt luôn nhà của những người quyền quý.
10 Rồi đạo quân Canh-đê vâng lệnh quan chỉ huy vệ binh phá đổ vách thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.
11 Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan bắt dân cư còn sót lại trong thành, cùng với những kẻ đào ngũ đã theo vua Ba-by-lôn trước kia, và đám dân còn lại khác, mà dẫn đi lưu đày.
12 Quan chỉ huy vệ binh chỉ chừa lại trong xứ những người nghèo khổ nhất để trồng nho và làm ruộng.
13 Quân Canh-đê đập bể những trụ đồng, đế bằng đồng và cái bể nước bằng đồng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, rồi đem đồng ấy về Ba-by-lôn.
14 Chúng cũng đem đi những nồi đồng, vá, dao, chén, và tất cả những vật dụng bằng đồng dùng vào việc thờ phượng.
15 Quan chỉ huy vệ binh cũng lấy đem đi những lư hương, chậu, và các vật bằng vàng, bằng bạc.
16 Còn hai cây trụ, cái bể nước bằng đồng, và các đế bằng đồng mà Sa-lô-môn đã làm cho đền thờ Đức Giê-hô-va thì người ta không thể cân được số lượng đồng của các vật ấy, vì quá nhiều.
17 Mỗi cây trụ cao chín mét, trên trụ có đầu trụ bằng đồng cao một mét rưỡi, có lưới và trái lựu cũng bằng đồng bao quanh. Cây thứ nhì trang trí bằng lưới giống như cây trước.
18 Quan chỉ huy vệ binh bắt thầy tế lễ thượng phẩm Sê-ra-gia, thầy phó tế Sô-phô-ni, và ba người canh giữ cửa đền thờ;
19 cũng bắt trong thành một hoạn quan chỉ huy các chiến sĩ, năm người trong các cận thần của vua, thư ký của tướng chỉ huy quân đội lo việc tuyển quân trong xứ, cùng với sáu mươi người của xứ cũng ở trong thành.
20 Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan bắt dẫn tất cả những người ấy đến vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la.
21 Vua Ba-by-lôn cho giết họ tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát. Như vậy, dân Giu-đa bị bắt đày đi khỏi xứ mình.
22 Còn về dân cư mà Nê-bu-cát-nết-sa đã để lại trong xứ Giu-đa thì vua Ba-by-lôn đặt Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, làm tổng đốc.
23 Khi các quan tướng là Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia; Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át; Sê-ra-gia, con trai Tan-hu-mết ở Nê-tô-pha; Gia-a-xa-nia, con trai của Ma-ca-thít, và những quân lính của họ, hay rằng vua Ba-by-lôn đã đặt Ghê-đa-lia làm tổng đốc thì họ đến gặp ông tại Mích-pa.
24 Ghê-đa-lia thề với họ và quân lính của họ rằng: “Đừng sợ các quan chức người Canh-đê. Hãy ở trong xứ, thần phục vua Ba-by-lôn thì anh em sẽ được bình an.”
25 Nhưng vào tháng thứ bảy, Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc dòng dõi vua, đem theo mười người đến Mích-pa đánh giết Ghê-đa-lia, cùng với người Giu-đa và người Canh-đê ở với ông.
26 Toàn dân từ nhỏ đến lớn, và những quan tướng đều lên đường đến Ai Cập vì sợ người Canh-đê báo thù.
27 Vào ngày hai mươi bảy tháng mười hai, năm thứ ba mươi bảy kể từ ngày Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, bị bắt giam, tức là năm đầu trị vì của Ê-vinh Mê-rô-đác, vua Ba-by-lôn, thì vua nầy ân xá cho Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, và đưa ra khỏi ngục.
28 Vua Ba-by-lôn nói với Giê-hô-gia-kin cách hòa nhã, và đặt ngai người cao hơn ngai các vua đang bị giam tại Ba-by-lôn với vua.
29 Vua Ba-by-lôn cho thay áo tù của Giê-hô-gia-kin và cho người ăn đồng bàn với mình trọn đời người.
30 Mỗi ngày, Giê-hô-gia-kin được vua Ba-by-lôn cấp dưỡng cho đến khi qua đời.