1

1 Vua Đa-vít đã già và cao tuổi, mặc dù được đắp nhiều mền, vua vẫn không thấy ấm.

2 Các triều thần tâu với vua: “Xin bệ hạ là chúa tôi cho tìm một thiếu nữ đồng trinh, để nàng hầu hạ và chăm sóc bệ hạ. Nàng sẽ nằm trong lòng bệ hạ để bệ hạ là chúa tôi được ấm.”

3 Vậy họ đi tìm một thiếu nữ xinh đẹp trong khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên và gặp được A-bi-sác, người Su-nem, rồi đem nàng đến cho vua.

4 Thiếu nữ ấy rất đẹp. Nàng chăm sóc và hầu hạ vua, nhưng vua không ăn ở với nàng.

5 Bấy giờ A-đô-ni-gia, con của bà Ha-ghít, tự tôn xưng rằng: “Ta sẽ làm vua.” Ông sắm cho mình một cỗ xe, ngựa chiến, và năm mươi người chạy trước mặt mình.

6 Vua cha chẳng bao giờ làm ông phiền lòng mà hỏi rằng: “Tại sao con làm như thế?” A-đô-ni-gia lại rất đẹp trai và được sinh ra kế sau Áp-sa-lôm.

7 A-đô-ni-gia bàn mưu với Giô-áp, con bà Xê-ru-gia, và thầy tế lễ A-bia-tha; và họ bằng lòng theo giúp ông.

8 Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia con của Giê-hô-gia-đa, nhà tiên tri Na-than, Si-mê-i, Rê-i, và các dũng sĩ của Đa-vít không theo phe A-đô-ni-gia.

9 A-đô-ni-gia dâng sinh tế bằng chiên, bò, và thú béo bên tảng đá Xô-hê-lết, gần suối Ên Rô-ghên. Ông mời tất cả các em mình là các hoàng tử, và tất cả những quan chức Giu-đa trong triều đến dự.

10 Nhưng ông không mời nhà tiên tri Na-than, Bê-na-gia, các dũng sĩ, và cả em mình là Sa-lô-môn.

11 Bấy giờ, Na-than nói với Bát Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn: “Bà không nghe rằng A-đô-ni-gia, con của bà Ha-ghít, đã làm vua mà Đa-vít, chúa chúng ta, chẳng hay biết gì sao?

12 Bây giờ, tôi sẽ bày cho bà một kế để cứu mạng sống bà và mạng sống của con trai bà là Sa-lô-môn.

13 Hãy đi ra mắt vua Đa-vít và nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, chúa tôi! Chẳng phải bệ hạ đã thề với tớ gái bệ hạ rằng: Con trai của ái khanh là Sa-lô-môn chắc chắn sẽ kế vị trẫm và nó sẽ ngồi trên ngai trẫm, đó sao? Vậy, tại sao A-đô-ni-gia lại làm vua?’

14 Trong lúc bà tâu với vua như vậy thì chính tôi cũng sẽ đi vào sau, và xác nhận lời của bà.”

15 Thế là Bát Sê-ba đến gặp vua trong phòng. Vua đã già yếu lắm; có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ vua.

16 Bát Sê-ba sấp mình phủ phục trước mặt vua. Vua hỏi: “Ái khanh cần điều gì?”

17 Bà thưa với vua: “Tâu chúa thượng của thiếp! Chính bệ hạ đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ mà thề với tớ gái bệ hạ rằng: ‘Sa-lô-môn con trai của ái khanh sẽ kế vị trẫm, và nó sẽ ngồi trên ngai trẫm.’

18 Nhưng bây giờ, A-đô-ni-gia làm vua mà chính bệ hạ là chúa của thiếp chẳng hay biết gì cả.

19 A-đô-ni-gia đã dâng sinh tế bằng bò đực, thú béo, và rất nhiều chiên. Hoàng tử cũng mời tất cả các hoàng tử khác, cùng với thầy tế lễ A-bia-tha và tướng chỉ huy quân đội là Giô-áp, nhưng không mời Sa-lô-môn, đầy tớ của bệ hạ.

20 Tâu bệ hạ là chúa của thiếp! Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều hướng mắt về bệ hạ, chờ xem bệ hạ cho họ biết ai là người sẽ ngồi trên ngai kế vị bệ hạ.

21 Thiếp e rằng rồi đây khi bệ hạ an giấc với các tổ phụ, thì thiếp và con trai của thiếp là Sa-lô-môn sẽ bị xử như kẻ có tội.”

22 Đang khi bà tâu với vua thì nhà tiên tri Na-than đến.

23 Người ta tâu với vua: “Có nhà tiên tri Na-than ở đây.” Na-than ra mắt vua, sấp mình phủ phục trước mặt vua.

24 Na-than nói: “Tâu bệ hạ là chúa tôi! Có phải bệ hạ đã nói rằng: ‘A-đô-ni-gia sẽ kế vị trẫm và ngồi trên ngai trẫm không?’

25 Thế mà ngày nay, hoàng tử đã đi xuống dâng sinh tế bằng bò, thú béo, và rất nhiều chiên, cùng mời tất cả các hoàng tử, các quan tướng quân đội, và thầy tế lễ A-bia-tha. Kìa, họ ăn uống trước mặt A-đô-ni-gia và tung hô: ‘Vua A-đô-ni-gia vạn tuế!’

26 Còn tôi là đầy tớ bệ hạ, thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia con trai Giê-hô-gia-đa, và đầy tớ bệ hạ là Sa-lô-môn thì không được mời.

27 Phải chăng việc nầy là do bệ hạ mà ra? Vì bệ hạ không cho các đầy tớ bệ hạ biết ai là người sẽ ngồi trên ngai kế vị bệ hạ là chúa tôi.”

28 Vua Đa-vít bảo: “Hãy gọi Bát Sê-ba cho trẫm.” Bà vào và đứng chầu trước mặt vua.

29 Đa-vít thề rằng: “Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống, Đấng đã giải cứu trẫm khỏi mọi hoạn nạn, chứng giám!

30 Đúng như trẫm đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với ái khanh rằng: ‘Chắc hẳn con trai của ái khanh là Sa-lô-môn sẽ kế vị trẫm, nó sẽ ngồi trên ngai thay thế trẫm’, thì ngay hôm nay, trẫm sẽ thực hiện điều đó.”

31 Bát Sê-ba sấp mặt xuống đất, phủ phục trước mặt vua và tâu: “Nguyện vua Đa-vít, chúa của thiếp, vạn tuế!”

32 Vua Đa-vít truyền: “Hãy gọi cho trẫm: thầy tế lễ Xa-đốc, nhà tiên tri Na-than, và Bê-na-gia con trai Giê-hô-gia-đa.” Họ đều đến ra mắt vua.

33 Rồi vua nói với họ: “Hãy đem các đầy tớ của chúa các ngươi theo, đỡ Sa-lô-môn, con trai trẫm, lên cưỡi con la của trẫm, rồi đưa thái tử xuống suối Ghi-hôn.

34 Tại đó, thầy tế lễ Xa-đốc và nhà tiên tri Na-than xức dầu cho thái tử làm vua Y-sơ-ra-ên. Các ngươi hãy thổi tù và, rồi tung hô rằng:

35 ‘Vua Sa-lô-môn vạn tuế!’ Các ngươi sẽ theo sau vua đi lên, và vua sẽ ngồi trên ngai trẫm, trị vì thế trẫm. Đó chính là người mà trẫm đã lập làm vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.”

36 Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa tâu với vua: “A-men! Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ là chúa tôi cũng chuẩn y việc nầy.

37 Đức Giê-hô-va đã ở với bệ hạ thể nào, nguyện Ngài cũng ở với Sa-lô-môn thể ấy, và khiến ngai vua còn cao trọng hơn ngai của vua Đa-vít, là chúa tôi!”

38 Vậy thầy tế lễ Xa-đốc đi xuống Ghi-hôn cùng với nhà tiên tri Na-than, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít. Họ đỡ Sa-lô-môn lên cưỡi con la của vua Đa-vít và đưa xuống suối Ghi-hôn.

39 Thầy tế lễ Xa-đốc lấy sừng đựng dầu từ Lều Tạm và xức cho Sa-lô-môn. Họ thổi tù và, rồi toàn dân đều tung hô: “Vua Sa-lô-môn vạn tuế!”

40 Tất cả dân chúng đều theo vua đi lên. Họ thổi sáo và lớn tiếng reo vui đến nỗi đất rúng động bởi tiếng reo hò của họ.

41 Vừa dự tiệc xong, A-đô-ni-gia và tất cả người dự tiệc đang ở với ông đều nghe tiếng reo hò nầy. Khi nghe tiếng tù và, Giô-áp hỏi: “Tại sao trong thành có tiếng ồn ào như thế?”

42 Đang lúc ông nói thì Giô-na-than con của thầy tế lễ A-bia-tha đến. A-đô-ni-gia bảo: “Hãy vào đây, ngươi là một người đáng kính, chắc sẽ đem tin tốt lành.”

43 Nhưng Giô-na-than đáp lời A-đô-ni-gia: “Không phải vậy đâu, vì vua Đa-vít, chúa chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm vua.

44 Vua đã sai thầy tế lễ Xa-đốc, nhà tiên tri Na-than, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít đi theo Sa-lô-môn; họ đã đỡ thái tử lên cưỡi con la của vua.

45 Tại Ghi-hôn, thầy tế lễ Xa-đốc và nhà tiên tri Na-than đã xức dầu cho Sa-lô-môn làm vua. Rồi họ đã từ đó đi lên giữa những tiếng reo mừng và cả thành đều vang động. Đó chính là tiếng huyên náo mà các ông đã nghe.

46 Bây giờ, Sa-lô-môn đã ngự trên ngai vua.

47 Hơn nữa, các đầy tớ của vua đến chúc mừng vua Đa-vít, chúa chúng ta, rằng: ‘Nguyện Đức Chúa Trời của bệ hạ làm cho danh Sa-lô-môn rạng ngời hơn danh của bệ hạ, và khiến cho ngai Sa-lô-môn cao trọng hơn ngai của bệ hạ!’ Rồi Đa-vít sấp mình trên giường,

48 và ca ngợi Chúa: ‘Chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng hôm nay đã ban một người ngồi trên ngai của con mà chính mắt con xem thấy.’”

49 Bấy giờ, tất cả các người dự tiệc với A-đô-ni-gia đều run sợ và đứng dậy, ai đi đường nấy.

50 A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn nên đứng dậy, chạy vào nắm các sừng bàn thờ.

51 Có người đến thuật cho Sa-lô-môn rằng: “Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua Sa-lô-môn. Ông ấy đã nắm các sừng bàn thờ mà nói rằng: ‘Hôm nay, xin vua Sa-lô-môn thề với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ vua bằng gươm.’”

52 Sa-lô-môn nói: “Nếu ông ấy tỏ ra là người ngay lành thì không một sợi tóc nào của ông ấy sẽ rơi xuống đất. Nhưng nếu người ta phát hiện có điều gian ác nào nơi ông ấy thì hẳn phải chết.”

53 Rồi vua Sa-lô-môn sai người đem A-đô-ni-gia xuống khỏi bàn thờ. A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống trước mặt vua Sa-lô-môn và vua truyền: “Hãy trở về nhà của ngươi đi.”

2

1 Khi gần đến ngày qua đời, Đa-vít truyền dạy Sa-lô-môn, con trai mình rằng:

2 “Cha sắp đi con đường mà mọi người trên thế gian phải đi. Vậy, con hãy mạnh mẽ và chứng tỏ mình là một bậc trượng phu!

3 Hãy giữ điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn con giữ, tức là bước đi trong đường lối Ngài, gìn giữ những luật lệ, điều răn, mệnh lệnh, và sự dạy dỗ của Ngài như đã chép trong luật pháp của Môi-se, để con được thành công trong mọi việc con làm và mọi nơi con đi đến.

4 Như thế, Đức Giê-hô-va sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về cha rằng: ‘Nếu con cháu của con cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết linh hồn bước đi một cách trung thành trước mặt Ta thì con sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.’

5 Con cũng biết những việc Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, đã làm cho cha, việc hắn đã làm cho hai tướng chỉ huy quân đội Y-sơ-ra-ên là Áp-ne con của Nê-rơ, và A-ma-sa con của Giê-the. Hắn đã giết hai vị tướng ấy, làm đổ máu trong thời bình như trong thời chiến, và khiến máu ấy dính nơi đai thắt lưng của hắn và giày hắn mang nơi chân.

6 Vì vậy, hãy theo sự khôn ngoan của con mà đối xử, nhưng đừng để đầu bạc của hắn xuống âm phủ một cách bình an.

7 Còn đối với các con của Bát-xi-lai, người Ga-la-át, con hãy cư xử nhân từ với họ. Hãy cho họ ăn đồng bàn với con, vì họ đã đứng bên cha lúc cha chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm, anh con.

8 Ngoài ra, còn có Si-mê-i, con của Ghê-ra người Bên-gia-min ở Ba-hu-rim, là kẻ đã lấy những lời độc ác mà nguyền rủa cha trong ngày cha đi đến Ma-ha-na-im. Nhưng vì hắn xuống đón cha tại Giô-đanh nên cha đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề với hắn rằng: ‘Trẫm sẽ không giết ngươi bằng gươm.’

9 Tuy nhiên, con đừng để hắn khỏi bị trừng phạt, vì con là người khôn ngoan và biết phải đối xử với hắn thể nào. Con hãy làm cho đầu bạc của hắn vấy máu mà xuống âm phủ.”

10 Đa-vít an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít.

11 Thời gian Đa-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: bảy năm tại Hếp-rôn và ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem.

12 Sa-lô-môn ngự trên ngai của cha mình là Đa-vít, và vương quốc của Sa-lô-môn thật vững chắc.

13 Bấy giờ A-đô-ni-gia, con trai của bà Ha-ghít, đến gặp bà Bát Sê-ba, mẹ của vua Sa-lô-môn. Bà hỏi: “Ngươi đến có ý bình an chăng?” Ông đáp: “Vâng, bình an.”

14 Rồi ông nói tiếp: “Tôi có việc muốn thưa với bà.” Bà đáp: “Hãy nói đi.”

15 Ông nói: “Hẳn bà biết rằng vương quyền vốn thuộc về tôi, và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều mong thấy tôi trị vì. Nhưng vương quyền ấy đã thuộc về em tôi, vì đó là ý muốn của Đức Giê-hô-va.

16 Vậy bây giờ, tôi có một lời thỉnh cầu, mong bà không từ chối.” Bà đáp: “Hãy nói đi.”

17 Ông liền nói: “Xin bà nói với vua Sa-lô-môn — vì vua chẳng từ chối điều gì với bà — xin vua ban cho tôi A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ.”

18 Bát Sê-ba đáp: “Được, ta sẽ nói với vua cho ngươi.”

19 Vậy Bát Sê-ba đến gặp vua Sa-lô-môn để nói với vua giúp cho A-đô-ni-gia. Vua đứng dậy đón và cúi chào bà, rồi ngồi trên ngai mình. Vua truyền đặt một ngai nữa cho thái hậu để bà ngồi bên phải vua.

20 Bà nói: “Mẹ có một việc nhỏ xin con, mong con đừng từ chối.” Vua đáp: “Thưa mẹ, xin mẹ cứ nói, vì con sẽ không từ chối mẹ đâu.”

21 Bà tiếp: “Hãy ban A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ A-đô-ni-gia, là anh con.”

22 Nhưng vua Sa-lô-môn thưa với mẹ: “Sao mẹ lại xin A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Hãy xin vương quyền cho anh ấy luôn đi, vì anh ấy là anh của con mà! Cũng hãy xin luôn cho thầy tế lễ A-bia-tha và cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia nữa!”

23 Rồi vua Sa-lô-môn nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề rằng: “Nguyện Đức Chúa Trời xử tôi một cách nặng nề nếu A-đô-ni-gia không mất mạng vì lời yêu cầu nầy!

24 Bây giờ, tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, Đấng đã làm cho tôi vững vàng, khiến tôi ngồi trên ngai của Đa-vít, cha tôi, và lập cho tôi một triều đại đúng như lời Ngài đã hứa, mà thề rằng: A-đô-ni-gia phải bị xử tử ngay hôm nay.”

25 Vua Sa-lô-môn truyền lệnh cho Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa. Anh ta xông vào đánh và giết chết A-đô-ni-gia.

26 Sau đó, vua truyền cho thầy tế lễ A-bia-tha: “Hãy lui về cánh đồng của ngươi ở A-na-tốt, vì ngươi đáng chết. Nhưng ngày nay trẫm không giết ngươi, vì ngươi có khiêng Hòm Giao Ước của Chúa là Đức Giê-hô-va, trước mặt Đa-vít, cha trẫm, và vì ngươi đã chia sẻ mọi nỗi gian lao với cha trẫm.”

27 Như vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha đi, không cho làm thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va nữa, khiến cho lời của Đức Giê-hô-va đã phán về nhà Hê-li tại Si-lô được ứng nghiệm.

28 Khi nghe tin nầy, Giô-áp liền trốn vào Lều Tạm của Đức Giê-hô-va và nắm các sừng bàn thờ, vì Giô-áp đã theo phe A-đô-ni-gia, dù ông không theo phe của Áp-sa-lôm.

29 Người ta tâu với vua Sa-lô-môn rằng: “Giô-áp đã trốn vào Lều Tạm của Đức Giê-hô-va, và kìa, ông ấy đang đứng bên cạnh bàn thờ.” Sa-lô-môn liền sai Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, và truyền rằng: “Hãy đi, đánh cho hắn chết.”

30 Bê-na-gia đến Lều Tạm của Đức Giê-hô-va và nói với Giô-áp: “Vua truyền thế nầy: ‘Hãy đi ra!’” Nhưng Giô-áp trả lời: “Không, tôi sẽ chết tại đây.” Bê-na-gia về tâu lại với vua: “Giô-áp đã nói và trả lời như thế.”

31 Vua bảo: “Hãy làm như hắn đã nói. Hãy giết hắn và đem chôn đi. Như vậy, ngươi sẽ cất khỏi trẫm và khỏi nhà cha trẫm huyết vô tội mà Giô-áp đã đổ ra vô cớ.

32 Đức Giê-hô-va sẽ khiến máu hắn đổ lại trên đầu hắn, vì hắn đã xông vào hai người công chính và tốt hơn hắn, giết họ bằng gươm mà Đa-vít, cha trẫm, không hay biết gì cả; đó là Áp-ne, con của Nê-rơ, tướng chỉ huy quân đội Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa, con của Giê-the, tướng chỉ huy quân đội Giu-đa.

33 Huyết của họ sẽ đổ lại trên đầu Giô-áp và trên đầu của dòng dõi hắn cho đến đời đời. Còn Đa-vít và dòng dõi người, triều đại và ngôi báu người sẽ nhờ Đức Giê-hô-va mà được bình an mãi mãi.”

34 Vậy Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, đi lên xông vào đánh Giô-áp và giết ông ta. Giô-áp được chôn tại đất nhà nơi hoang mạc.

35 Vua lập Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, làm chỉ huy trưởng quân đội thay cho Giô-áp, và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ thay cho A-bia-tha.

36 Sau đó, vua sai gọi Si-mê-i đến và bảo: “Hãy cất cho ngươi một cái nhà tại Giê-ru-sa-lem và ở đó, không được ra khỏi chỗ ấy để đi bất cứ nơi nào.

37 Hãy biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đó và đi qua khe Xết-rôn thì ngươi chắc chắn sẽ chết. Máu ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.”

38 Si-mê-i thưa với vua: “Lời bệ hạ nói phải lắm, bệ hạ là chúa tôi truyền dạy điều gì thì đầy tớ của bệ hạ sẽ làm điều đó.” Vậy Si-mê-i ở lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.

39 Nhưng ba năm sau, có hai đầy tớ của Si-mê-i trốn đến nhà A-kích, con của Ma-a-ca, vua Gát. Người ta báo cho Si-mê-i rằng: “Kìa, hai đầy tớ của ông ở tại Gát.”

40 Si-mê-i liền thắng lừa và đi đến Gát gặp A-kích để tìm hai đầy tớ của ông. Si-mê-i đi và đem các đầy tớ của ông từ Gát trở về.

41 Người ta thuật cho Sa-lô-môn rằng Si-mê-i từ Giê-ru-sa-lem đã đến Gát rồi trở về.

42 Vua sai gọi Si-mê-i đến và nói với ông: “Chẳng phải trẫm đã bắt ngươi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề và bảo trước với ngươi: ‘Hãy biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đây và đi bất cứ nơi nào, thì ngươi chắc chắn sẽ chết’ sao? Và ngươi đã nói với trẫm rằng: ‘Lời bệ hạ nói phải lắm.’

43 Vậy, tại sao ngươi không giữ lời ngươi đã chỉ Đức Giê-hô-va mà thề, và mệnh lệnh trẫm đã truyền cho ngươi?”

44 Vua lại nói với Si-mê-i: “Ngươi đã biết và lòng ngươi cũng quá rõ mọi việc ác mà ngươi đã làm cho Đa-vít, cha trẫm. Vậy nên Đức Giê-hô-va sẽ khiến việc ác của ngươi đổ lại trên đầu ngươi.

45 Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được ban phước, và ngai của Đa-vít sẽ được lập vững bền trước mặt Đức Giê-hô-va đến đời đời.”

46 Rồi vua truyền lệnh cho Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, đi đánh và giết chết Si-mê-i. Như vậy, vương quốc được vững bền trong tay Sa-lô-môn.

3

1 Sa-lô-môn kết thân với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, và cưới con gái của Pha-ra-ôn. Vua đưa nàng về ở thành Đa-vít cho đến khi hoàn thành việc xây cất cung điện cho mình, đền thờ của Đức Giê-hô-va, và tường thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.

2 Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng sinh tế trên các nơi cao, vì cho đến bấy giờ chưa có đền thờ nào được xây cất cho danh Đức Giê-hô-va.

3 Sa-lô-môn kính yêu Đức Giê-hô-va nên bước đi theo các luật lệ của Đa-vít, cha mình. Tuy nhiên, vua vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao.

4 Vua đi đến Ga-ba-ôn để dâng sinh tế tại đó vì ấy là nơi cao quan trọng nhất. Trên bàn thờ đó, Sa-lô-môn dâng một nghìn sinh tế làm tế lễ thiêu.

5 Tại Ga-ba-ôn, Đức Giê-hô-va hiện ra với Sa-lô-môn trong giấc chiêm bao ban đêm; Đức Chúa Trời phán: “Hãy xin điều gì con muốn Ta ban cho con.”

6 Sa-lô-môn thưa: “Chúa đã bày tỏ lòng nhân từ lớn lao đối với đầy tớ Ngài là Đa-vít, thân phụ con, như người đã bước đi trước mặt Ngài trong sự trung tín, công chính và tấm lòng ngay thẳng. Chúa lại tiếp tục bày tỏ lòng nhân từ lớn lao ấy cho người, khi ban cho người một con trai ngồi trên ngai của người như đã có ngày nay.

7 Bây giờ, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của con, chính Chúa đã khiến đầy tớ Ngài lên ngôi kế vị Đa-vít, thân phụ con, mặc dù con chỉ là một đứa trẻ chẳng biết phải điều hành việc nước như thế nào.

8 Đầy tớ Chúa ở giữa dân mà Chúa đã chọn, một dân đông vô số không thể đếm nổi.

9 Vậy, xin Chúa ban cho đầy tớ Ngài tấm lòng khôn sáng để xét xử dân Ngài và phân biệt đúng sai; vì ai có thể xét xử đoàn dân đông đảo nầy của Chúa?”

10 Chúa hài lòng vì Sa-lô-môn đã xin điều nầy.

11 Đức Chúa Trời phán với vua: “Vì con đã xin điều nầy mà không xin cho con được sống lâu hay giàu có, cũng không xin mạng sống của những kẻ thù con, nhưng xin sự khôn sáng để xét xử thích đáng,

12 nên Ta làm theo điều con xin. Ta ban cho con tấm lòng khôn ngoan thông sáng, đến nỗi trước con không ai bằng và sau con cũng sẽ không ai sánh kịp.

13 Hơn nữa, Ta cũng ban cho con những điều con không xin, tức là sự giàu có và danh vọng, đến nỗi trọn đời con, không ai trong các vua được như con.

14 Nếu con bước đi trong đường lối Ta, tuân giữ các điều răn và mệnh lệnh của Ta, như cha của con là Đa-vít đã bước đi, thì Ta sẽ cho con được sống lâu.”

15 Sa-lô-môn thức dậy, thấy đó là một giấc chiêm bao. Rồi vua trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Sau đó, vua mở tiệc khoản đãi tất cả quần thần của mình.

16 Bấy giờ, có hai gái mại dâm đến đứng chầu trước mặt vua.

17 Một người nói: “Tâu bệ hạ, tôi và người đàn bà nầy ở chung một nhà. Tôi sinh được một đứa con trai trong lúc chị ấy đang ở nhà với tôi.

18 Ngày thứ ba sau khi tôi sinh con thì người đàn bà nầy cũng sinh con. Chúng tôi ở chung với nhau, không có một người lạ nào ở với chúng tôi trong nhà, mà chỉ có hai chúng tôi thôi.

19 Đêm nọ, con trai của người đàn bà nầy chết, vì chị ấy đã nằm đè lên nó.

20 Giữa đêm khuya, trong khi tớ gái bệ hạ đang ngủ thì chị ấy thức dậy, bế đi con trai tôi đang ở bên cạnh tôi và đặt nằm trong lòng mình, rồi chị đặt đứa con trai đã chết của mình nằm trong lòng tôi.

21 Đến sáng, khi tôi thức dậy cho con bú thì thấy nó đã chết! Nhưng khi trời sáng, tôi nhìn kỹ thì thấy nó chẳng phải là đứa con mà tôi đã sinh.”

22 Người đàn bà kia trả lời: “Không! Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.” Nhưng người nầy lại nói: “Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.” Họ cãi nhau như vậy trước mặt vua.

23 Bấy giờ vua phán: “Người nầy nói: ‘Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.’ Người kia nói: ‘Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.’”

24 Rồi vua truyền: “Hãy đem cho ta một thanh gươm.” Người ta đem đến cho vua một thanh gươm.

25 Vua ra lệnh: “Hãy chặt đứa bé còn sống ra làm hai, rồi cho người nầy một nửa và cho người kia một nửa.”

26 Người đàn bà có đứa con còn sống rất xúc động vì thương con mình liền tâu với vua: “Ôi, chúa tôi! Hãy cho chị ấy đứa trẻ còn sống, xin đừng giết nó!” Nhưng người kia nói: “Nó sẽ chẳng thuộc về tôi, cũng chẳng thuộc về chị, cứ chia đôi nó đi!”

27 Bấy giờ, vua phán quyết: “Hãy trao đứa bé còn sống cho người đàn bà nói trước, và đừng giết nó vì bà ấy chính là mẹ nó.”

28 Toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe việc phân xử và phán quyết của vua đều rất kính phục vua, vì họ thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho vua sự khôn ngoan để thực thi công lý.

4

1 Vua Sa-lô-môn trị vì trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên.

2 Đây là các triều thần của vua: A-xa-ria, con trai Xa-đốc, làm thầy tế lễ;

3 Ê-li-ô-rếp và A-hi-gia, các con trai của Si-sa, làm thư ký; Giê-hô-sa-phát, con trai A-hi-lút, làm ngự sử;

4 Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, chỉ huy trưởng quân đội; Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ.

5 A-xa-ria, con trai Na-than, đứng đầu các quan lại; Xa-bút, con trai Na-than, làm thầy tế lễ và là cố vấn của vua;

6 A-hi-sa, đặc trách cung điện; và A-đô-ni-ram, con trai Áp-đa, đặc trách về lao dịch.

7 Sa-lô-môn chỉ định mười hai quan chức trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, để cung cấp lương thực cho vua và hoàng gia; mỗi người phải cung cấp một tháng trong một năm.

8 Đây là tên của họ: Bên Hu-rơ đặc trách vùng đồi núi Ép-ra-im;

9 Bên Đê-ke đặc trách vùng Ma-kát, Sa-an-bim, Bết Sê-mết, và Ê-lôn Bết Ha-nan;

10 Bên Hê-sết đặc trách vùng A-ru-bốt, Sô-cô và toàn miền đất Hê-phe đều thuộc quyền ông;

11 Bên A-bi-na-đáp đặc trách toàn vùng cao nguyên Đô-rơ (vợ ông là Ta-phát, con gái của Sa-lô-môn);

12 Ba-a-na, con trai A-hi-lút, đặc trách vùng Tha-a-nác, Mê-ghi-đô, và toàn vùng Bết Sê-an, là vùng gần Xạt-han, phía dưới Gít-rê-ên, từ Bết Sê-an cho đến A-bên Mê-hô-la và cho đến tận bên kia Giốc-mê-am;

13 Bên Ghê-be đặc trách vùng Ra-mốt Ga-la-át, kể cả các thôn của Giai-rơ (Giai-rơ là con của Ma-na-se) trong miền Ga-la-át, ông cũng đặc trách vùng Ạt-gốp trong Ba-san, gồm sáu mươi thành lớn có tường thành và then cửa bằng đồng;

14 A-hi-na-đáp, con trai Y-đô, đặc trách vùng Ma-ha-na-im;

15 A-hi-mát đặc trách địa phận Nép-ta-li (ông cũng cưới con gái của Sa-lô-môn là Bách-mát làm vợ);

16 Ba-a-na, con trai Hu-sai, đặc trách vùng A-se và Bê-a-lốt;

17 Giê-hô-sa-phát, con trai Pha-ru-ác, đặc trách vùng Y-sa-ca;

18 Si-mê-i, con trai Ê-la, đặc trách vùng Bên-gia-min;

19 Ghê-be, con trai U-ri, đặc trách đất Ga-la-át, là đất trước kia thuộc quyền của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và của Óc, vua Ba-san. Chỉ một mình Ghê-be làm quan cai trị cả vùng nầy.

20 Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đông như cát trên bờ biển; họ ăn uống vui say.

21 Sa-lô-môn cai trị trên tất cả các vương quốc, từ sông Ơ-phơ-rát cho đến đất của người Phi-li-tin, đến tận biên giới Ai Cập. Các vương quốc ấy đều phải triều cống và phục vụ vua Sa-lô-môn trọn đời của vua.

22 Lương thực cần cung cấp cho nhà Sa-lô-môn mỗi ngày là: Sáu nghìn sáu trăm lít bột mịn, và mười ba nghìn hai trăm lít bột thô,

23 mười con bò béo tốt, hai mươi con bò nuôi ngoài đồng cỏ, và một trăm con chiên. Ngoài ra còn có nai đực, hoàng dương, hươu, và gà vịt nuôi béo.

24 Vì Sa-lô-môn thống trị các vùng ở phía tây sông Ơ-phơ-rát và các vua của những vùng đó, từ Típ-sắc cho đến Ga-xa, nên khắp bốn phương đều có hòa bình.

25 Trọn đời vua Sa-lô-môn trị vì, cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba dân chúng đều được an cư lạc nghiệp, mỗi người ở dưới cây nho và cây vả của mình.

26 Sa-lô-môn có bốn mươi nghìn chuồng ngựa kéo chiến xa và mười hai nghìn kỵ binh.

27 Các quan chức khu vực, mỗi người một tháng, lo cung cấp lương thực cho vua Sa-lô-môn và tất cả những người được mời đến ăn nơi bàn vua. Họ không để thiếu gì cả.

28 Mỗi người cứ theo phiên thứ mình mà đem lúa mạch và rơm đến nơi đã chỉ định cho ngựa kéo chiến xa và ngựa để cưỡi.

29 Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan thông sáng vượt trội, và sự hiểu biết sâu rộng như cát trên bãi biển.

30 Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn sự khôn ngoan của mọi người ở phương Đông, và trổi hơn tất cả sự khôn ngoan ở Ai Cập.

31 Sa-lô-môn khôn ngoan hơn mọi người, khôn ngoan hơn Ê-than người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man, Canh-côn, và Đạt-đa, là các con trai của Ma-hôn. Danh tiếng người đồn ra khắp các dân tộc chung quanh.

32 Vua nói ra ba nghìn câu châm ngôn, và sáng tác một nghìn lẻ năm bài ca.

33 Vua luận về cây cối, từ cây bá hương ở Li-ban cho đến cây bài hương mọc trên tường. Vua cũng luận về loài vật, chim chóc, loài bò sát, và loài cá.

34 Thiên hạ từ mọi dân tộc kéo đến nghe sự khôn ngoan của Sa-lô-môn. Tất cả các vua trên thế giới nghe nói về sự khôn ngoan của Sa-lô-môn đều sai sứ đến triều kiến.

5

1 Khi nghe tin Sa-lô-môn đã được xức dầu lên ngôi kế vị vua cha thì vua Ty-rơ là Hi-ram sai bề tôi mình đến cùng Sa-lô-môn, vì Hi-ram vẫn luôn quý mến Đa-vít.

2 Sa-lô-môn sai sứ nói với Hi-ram rằng:

3 “Ngài biết rằng Đa-vít, thân phụ tôi, không thể xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời người, vì chiến tranh vây quanh tứ phía cho đến ngày Đức Giê-hô-va khiến các kẻ thù phục dưới chân người.

4 Nhưng bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi đã ban cho tôi được bốn bề yên ổn, không còn quân thù, cũng chẳng có tai họa nào.

5 Vì vậy, tôi định xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi như Đức Giê-hô-va đã phán bảo Đa-vít, thân phụ tôi rằng: ‘Con trai con, mà Ta đặt ngồi trên ngai kế vị con, sẽ xây một đền thờ cho danh Ta.’

6 Vậy bây giờ, xin ngài truyền lệnh cho đốn những cây bá hương trên núi Li-ban cho tôi. Các đầy tớ của tôi sẽ cùng làm việc với đầy tớ của ngài, và tôi sẽ trả tiền công cho họ theo giá ngài định; vì ngài biết rằng không ai trong chúng tôi thạo việc đốn gỗ như người Si-đôn.”

7 Khi được nghe những lời của Sa-lô-môn, vua Hi-ram rất vui và nói: “Hôm nay đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va, Đấng đã ban cho Đa-vít một người con khôn ngoan để trị vì dân tộc đông đảo nầy!”

8 Rồi Hi-ram sai sứ đáp lời Sa-lô-môn: “Tôi đã được nghe sứ giả ngài nói với tôi; tôi sẽ làm mọi điều ngài yêu cầu về gỗ bá hương và gỗ tùng.

9 Các đầy tớ của tôi sẽ kéo gỗ ấy từ Li-ban xuống biển, rồi tôi sẽ đóng bè thả trôi theo biển đến nơi ngài chỉ định. Tại đó tôi sẽ rã bè, và ngài sẽ nhận lấy đem đi. Còn ngài, xin cũng làm theo điều tôi yêu cầu là cung cấp lương thực cho triều đình tôi.”

10 Vậy, Hi-ram cung cấp cho Sa-lô-môn tất cả số gỗ bá hương và gỗ tùng như vua muốn.

11 Còn Sa-lô-môn thì cung cấp cho Hi-ram bốn triệu bốn trăm nghìn lít lúa mì dùng làm lương thực cho triều đình vua nầy, và bốn nghìn bốn trăm lít dầu ô-liu nguyên chất. Mỗi năm, Sa-lô-môn cung cấp cho Hi-ram như thế.

12 Đức Giê-hô-va ban sự khôn ngoan cho Sa-lô-môn như Ngài đã phán hứa với vua. Giữa Hi-ram và Sa-lô-môn có mối giao hảo tốt, và hai vua đã ký kết hiệp ước với nhau.

13 Vua Sa-lô-môn huy động lực lượng lao dịch trong toàn thể Y-sơ-ra-ên, được ba mươi nghìn người.

14 Vua sai họ đến Li-ban, thay phiên nhau mỗi tháng mười nghìn người; họ ở Li-ban một tháng rồi ở nhà hai tháng. A-đô-ni-ram chỉ huy lực lượng lao dịch nầy.

15 Sa-lô-môn có bảy mươi nghìn nhân công khuân vác và tám mươi nghìn thợ đá trên núi.

16 Ngoài ra còn có ba nghìn ba trăm đốc công mà Sa-lô-môn đã đặt coi sóc công việc và điều động nhân công làm việc.

17 Vua ra lệnh họ phải lấy những tảng đá lớn và quý mà đẽo để dùng làm nền của đền thờ.

18 Những người thợ của Sa-lô-môn và của Hi-ram cùng với người Ghi-bê-lít đục đá. Họ chuẩn bị sẵn sàng gỗ và đá để xây dựng đền thờ.

6

1 Vào năm bốn trăm tám mươi, kể từ khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, tức là năm thứ tư Sa-lô-môn trị vì trên Y-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì vua khởi công xây cất đền thờ để thờ phượng Đức Giê-hô-va.

2 Đền thờ mà vua Sa-lô-môn xây cất cho Đức Giê-hô-va có chiều dài ba mươi mét, chiều ngang mười mét, và chiều cao mười lăm mét.

3 Hành lang ở phía trước chính điện của đền thờ có chiều dài mười mét, nằm theo chiều ngang của đền thờ, và rộng năm mét, nối theo chiều dài của đền thờ.

4 Vua cũng làm các cửa sổ có khung và chấn song cho đền thờ.

5 Dựa vào tường của đền thờ, vua xây các tầng lầu chung quanh đền thờ và nơi thánh; vua cũng làm nhiều phòng ốc chung quanh.

6 Tầng dưới rộng hai mét rưỡi, tầng giữa rộng ba mét, và tầng thứ ba rộng ba mét rưỡi. Bên ngoài đền thờ, vua cho xây tường chung quanh thụt vào để những cây đà của các tầng lầu không đâm vào tường của đền thờ.

7 Khi xây cất đền thờ, người ta dùng đá đã đục sẵn tại hầm đá nên trong lúc xây cất không ai nghe tiếng búa, đục hay bất cứ dụng cụ bằng sắt nào.

8 Cửa vào tầng giữa nằm bên phải của đền thờ; người ta đi lên tầng giữa bằng một cái thang xoắn ốc, rồi từ tầng giữa đi lên tầng thứ ba.

9 Vậy, vua Sa-lô-môn hoàn tất công trình xây cất đền thờ. Vua cho gác đà và đóng trần bằng gỗ bá hương.

10 Vua cũng xây những tầng lầu cao hai mét rưỡi dựa vào toàn bộ đền thờ, gắn liền với đền thờ bằng những cây đà bá hương.

11 Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng:

12 “Về đền thờ mà con đang xây cất đây, nếu con vâng theo luật pháp của Ta, thực thi các mạng lệnh của Ta, tuân giữ và bước đi theo tất cả các điều răn của Ta, thì Ta sẽ thực hiện cho con lời hứa mà Ta đã phán với Đa-vít, thân phụ con.

13 Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên và sẽ không lìa bỏ Y-sơ-ra-ên là dân Ta.”

14 Như thế, Sa-lô-môn xây cất đền thờ và hoàn thành công trình ấy.

15 Vua dùng ván gỗ bá hương đóng vách phía trong đền thờ từ nền cho đến trần, và lót nền bằng ván gỗ tùng.

16 Vua ngăn mười mét phần cuối của đền thờ bằng ván bá hương từ nền cho đến trần, để làm Nơi Chí Thánh.

17 Phần còn lại của đền thờ ở phía trước là hai mươi mét.

18 Phía trong đền thờ được lát bằng gỗ bá hương chạm trổ hình trái bầu và hoa nở. Tất cả đều làm bằng gỗ bá hương nên không thấy đá.

19 Vua cũng chuẩn bị phần trong cùng của đền thờ làm Nơi Chí Thánh để đặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va tại đó.

20 Nơi Chí Thánh dài mười mét, rộng mười mét, và cao mười mét đều được bọc bằng vàng ròng. Bàn thờ bằng gỗ bá hương cũng được bọc vàng.

21 Sa-lô-môn bọc vàng ròng phía trong của đền thờ, và cho giăng một dây xích bằng vàng trước Nơi Chí Thánh, là nơi cũng được bọc bằng vàng.

22 Vua bọc vàng toàn bộ đền thờ, không trừ một chỗ nào. Vua cũng bọc vàng khắp mặt bàn thờ tại Nơi Chí Thánh.

23 Trong Nơi Chí Thánh, vua làm hai chê-ru-bim bằng gỗ ô-liu, cao năm mét.

24 Một cánh của chê-rúp dài hai mét rưỡi, cánh kia cũng dài hai mét rưỡi; như vậy, từ đầu cánh nầy đến đầu cánh kia dài năm mét.

25 Chê-rúp thứ nhì cũng đo được năm mét. Cả hai chê-ru-bim đều có cùng một kích thước và hình dạng.

26 Chê-rúp nầy cao năm mét, và chê-rúp kia cũng vậy.

27 Sa-lô-môn đặt hai chê-ru-bim giữa Nơi Chí Thánh, ở phần trong cùng của đền thờ. Cánh của chê-ru-bim giương ra thế nào để một cánh của chê-rúp thứ nhất đụng tường bên nầy, và một cánh của chê-rúp thứ nhì đụng tường bên kia. Hai cánh còn lại chạm nhau ở giữa Nơi Chí Thánh.

28 Vua cũng bọc vàng cho hai chê-ru-bim.

29 Trên toàn bộ các tường chung quanh đền thờ, cả trong lẫn ngoài, Sa-lô-môn đều cho chạm trổ những hình chê-ru-bim, hình cây chà là và hình hoa nở.

30 Còn nền đền thờ cũng được phủ vàng cả trong lẫn ngoài.

31 Tại lối vào Nơi Chí Thánh, vua làm hai cánh cửa bằng gỗ ô-liu; đà cửa và trụ có năm cạnh.

32 Trên hai cánh cửa bằng gỗ ô-liu ấy, vua cho chạm trổ những hình chê-ru-bim, hình cây chà là và hình hoa nở, rồi bọc bằng vàng; vua cho tráng vàng trên hình chê-ru-bim và hình cây chà là.

33 Tại lối vào đền thờ, vua cũng làm trụ cửa bằng gỗ ô-liu có bốn cạnh;

34 hai cánh cửa bằng gỗ tùng, cánh nầy có hai tấm xoay được, và cánh kia cũng vậy.

35 Sa-lô-môn cho chạm trổ những hình chê-ru-bim, hình cây chà là và hình hoa nở, rồi bọc bằng vàng, và cho tráng vàng trên các hình chạm trổ.

36 Vua cũng xây cất sân trong bằng ba hàng đá chạm trổ mỹ thuật và một hàng xà ngang bằng gỗ bá hương.

37 Vào năm thứ tư, tháng Xíp, người ta khởi công xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va.

38 Đến năm thứ mười một, nhằm tháng Bu-lơ, nghĩa là tháng tám, công trình xây cất đền thờ đã được hoàn thành đúng theo mọi chi tiết về kiểu mẫu và kích thước. Sa-lô-môn đã xây cất đền thờ trong bảy năm.

7

1 Sa-lô-môn cũng xây cất cung điện cho mình, và hoàn thành toàn bộ công trình trong mười ba năm.

2 Vua xây cất cung Rừng Li-ban dài năm mươi mét, ngang hai mươi lăm mét và cao mười lăm mét, với bốn hàng cột bằng gỗ bá hương, và những xà ngang cũng bằng gỗ bá hương đặt trên những cột ấy.

3 Trần nhà làm bằng gỗ bá hương với các xà ngang được đặt trên bốn mươi lăm cây cột, mười lăm cây mỗi dãy.

4 Có ba dãy cửa sổ, dãy nầy đối diện với dãy kia thành bộ ba.

5 Tất cả các cửa và khung đều có hình vuông, đối diện nhau thành bộ ba.

6 Vua cũng làm một hành lang có nhiều cột; hành lang ấy dài hai mươi lăm mét, rộng mười lăm mét. Phía trước hành lang có nhiều cột và một mái hiên.

7 Sa-lô-môn còn làm một đại sảnh đặt ngai để vua ngồi xét xử, gọi là Đại Sảnh Công Lý. Đại sảnh được làm bằng ván gỗ bá hương từ nền đến trần.

8 Cung vua nằm phía sau đại sảnh, có cách kiến trúc giống như đại sảnh. Sa-lô-môn cũng xây một cung tương tự cho công chúa Pha-ra-ôn mà vua đã cưới làm vợ.

9 Toàn bộ các công trình nầy đều xây bằng đá quý được đẽo gọt, cắt xén theo kích thước định sẵn, bên trong cũng như bên ngoài, từ nền đến đầu tường, và từ bên ngoài cho đến sân lớn.

10 Nền làm bằng loại đá quý và lớn, có phiến năm mét, có phiến bốn mét.

11 Phần trên làm bằng gỗ bá hương và đá quý được đục đẽo theo đúng kích thước.

12 Chung quanh sân lớn có ba dãy đá đẽo và một dãy xà ngang bằng gỗ bá hương, giống như sân trong và tiền sảnh của đền thờ Đức Giê-hô-va.

13 Vua Sa-lô-môn sai người mời Hi-ram từ Ty-rơ đến.

14 Ông là con của một bà góa thuộc bộ tộc Nép-ta-li, còn cha là người Ty-rơ, làm thợ đồng. Hi-ram đầy kinh nghiệm, thông thạo, và rất khéo tay trong tất cả các công việc thuộc nghề đồng. Ông đến với vua Sa-lô-môn và làm mọi việc vua giao cho ông.

15 Ông đúc hai trụ đồng: trụ thứ nhất cao chín mét và chu vi là sáu mét, trụ thứ nhì cũng thế.

16 Ông cũng đúc hai đầu trụ bằng đồng đặt trên đỉnh của hai trụ; chiều cao của đầu trụ thứ nhất là hai mét rưỡi, chiều cao của đầu trụ thứ nhì cũng hai mét rưỡi.

17 Hi-ram dùng lưới mắt cáo đan bằng các dây chuyền kết lại thành vòng hoa để trang trí cho đầu trụ trên mỗi trụ; có bảy vòng hoa cho đầu trụ nầy, và bảy vòng hoa cho đầu trụ kia.

18 Ông cũng làm hai đường viền chung quanh lưới để trang trí cho đầu trụ nầy, và cũng làm như vậy cho đầu trụ kia.

19 Các đầu trụ trên mỗi trụ nơi tiền sảnh đều theo hình hoa huệ, cao hai mét.

20 Trên chóp mỗi đầu trụ của hai trụ đó, phần nhô ra ở ngay bên lưới mắt cáo, có hai trăm trái lựu sắp thành hàng chung quanh hai đầu trụ.

21 Hi-ram dựng hai trụ đồng nơi tiền sảnh của đền thờ. Ông dựng trụ bên phải và đặt tên là Gia-kin; rồi dựng trụ bên trái và đặt tên là Bô-ách.

22 Trên đỉnh các trụ đều có hình hoa huệ. Như thế, công việc làm hai trụ đồng đã hoàn tất.

23 Sau đó, ông đúc một bể chứa nước hình tròn cao hai mét rưỡi, đường kính năm mét, chu vi mười lăm mét.

24 Quanh miệng bể có hai hàng hình trái bầu, cứ nửa mét mười trái, đúc liền với bể.

25 Bể được đặt trên mười hai con bò: ba con nhìn về hướng bắc, ba con nhìn về hướng tây, ba con nhìn về hướng nam, và ba con nhìn về hướng đông. Bể nước được đặt trên lưng các con bò ấy, còn đuôi của chúng đều quay vào trong.

26 Thành bể dày bằng bề ngang bàn tay; miệng bể giống miệng chén hình hoa huệ. Bể có thể chứa bốn mươi bốn nghìn lít.

27 Ông cũng làm mười cái đế bằng đồng, mỗi cái dài hai mét, rộng hai mét, và cao một mét rưỡi.

28 Đây là cách làm các đế nầy: Người ta làm những tấm đồng gắn vào khung.

29 Trên các tấm đồng gắn vào khung nầy có chạm hình các sư tử, bò đực, và chê-ru-bim; trên các khung, cả phía trên và phía dưới các sư tử và bò đều có chạm những vòng hoa.

30 Mỗi đế có bốn bánh xe bằng đồng với trục bằng đồng. Ở bốn góc đế có những cái giá đúc để đỡ chậu nước, với những vòng hoa ở bên mỗi cái giá.

31 Trên đế, ngay ở giữa có một miệng tròn nhô lên nửa mét, rộng bảy tấc rưỡi. Trên miệng nầy cũng có hình chạm trổ. Còn các tấm đồng thì vuông chứ không tròn.

32 Bốn bánh xe đều ở dưới những tấm đồng của khung, các trục bánh xe thì được gắn vào đế. Mỗi bánh xe cao bảy tấc rưỡi.

33 Các bánh xe được làm giống như bánh xe ngựa: Tất cả trục, vành, căm, và đùm bánh xe đều được đúc.

34 Ở bốn góc của mỗi đế, có bốn cái giá được đúc liền với đế.

35 Mặt trên của đế có một đai tròn cao hai tấc rưỡi, cũng có viền và những tấm trám đồng.

36 Trên mặt viền và những tấm trám đồng, Hi-ram chạm những chê-ru-bim, sư tử, cây chà là; còn những chỗ trống thì chạm những vòng hoa bọc quanh.

37 Ông theo cách nầy mà làm mười cái đế đúc cùng một khuôn, một kích thước, và kiểu dáng như nhau.

38 Sau đó, ông làm mười cái bồn bằng đồng, mỗi cái chứa tám trăm tám mươi lít. Mỗi bồn cao hai mét và được đặt trên đế.

39 Ông đặt năm cái đế bên phải đền thờ và năm cái bên trái. Còn bể nước thì ông đặt bên phải đền thờ, về hướng đông nam.

40 Ông cũng làm chảo, vá và chậu. Vậy, Hi-ram đã làm xong mọi công việc cho vua Sa-lô-môn trong đền thờ Đức Giê-hô-va, gồm có:

41 hai cây trụ đồng, hai đầu trụ tròn trên mỗi trụ, hai lưới mắt cáo bao hai đầu trụ;

42 bốn trăm trái lựu cho hai lưới mắt cáo, kết thành hai hàng trong mỗi lưới bao hai đầu trụ trên mỗi trụ;

43 mười cái đế và mười cái bồn để trên đế;

44 một bể nước và mười hai con bò đỡ phía dưới;

45 chảo, vá và chậu. Tất cả các vật dụng mà Hi-ram làm cho vua Sa-lô-môn trong đền thờ Đức Giê-hô-va đều bằng đồng đánh bóng.

46 Vua cho đúc các vật đó ở đồng bằng Giô-đanh, tại một nơi có nhiều đất sét, giữa Su-cốt và Xát-than.

47 Sa-lô-môn không cân một món nào trong các vật dụng ấy vì quá nhiều; số lượng đồng cũng không xác định được.

48 Sa-lô-môn làm tất cả các vật dụng trong đền thờ Đức Giê-hô-va như: bàn thờ bằng vàng, bàn để bánh cung hiến cũng bằng vàng;

49 các chân đèn bằng vàng ròng đặt trước Nơi Chí Thánh, năm cái bên phải và năm cái bên trái; hoa đèn, thếp đèn, và kẹp gắp đều bằng vàng;

50 những chậu, kéo cắt tim đèn, bát, khay đựng tro và khay đựng than đều bằng vàng ròng; các bản lề cửa vào nơi trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, và cửa ra vào của đền thờ cũng đều làm bằng vàng.

51 Như vậy, các công trình mà vua Sa-lô-môn thực hiện cho đền thờ Đức Giê-hô-va đều được hoàn tất. Sa-lô-môn sai đem vào các kho của đền thờ Đức Giê-hô-va những vật thánh mà vua cha là Đa-vít đã dâng hiến, gồm bạc, vàng, và các vật dụng khác.

8

1 Bấy giờ, vua Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tất cả các trưởng bộ tộc và trưởng gia tộc của dân Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem, để rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn.

2 Mọi người nam của Y-sơ-ra-ên đều tập hợp bên vua Sa-lô-môn vào tháng Ê-tha-nim, là tháng bảy để dự lễ.

3 Khi tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến thì các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước lên,

4 và họ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi, cùng với Lều Hội Kiến và tất cả các vật dụng thánh trong Lều. Các thầy tế lễ và người Lê-vi đem các thứ ấy lên.

5 Vua Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã tập hợp bên vua, đứng trước Hòm Giao Ước cùng dâng sinh tế chiên và bò rất nhiều, đến nỗi không thể đếm được.

6 Các thầy tế lễ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đặt vào vị trí bên trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, dưới cánh chê-ru-bim.

7 Vì các chê-ru-bim giương cánh ra trên nơi đặt Hòm Giao Ước nên che phủ Hòm Giao Ước và các đòn khiêng.

8 Các đòn khiêng dài đến nỗi từ Nơi Thánh ở ngay trước Nơi Chí Thánh, người ta có thể trông thấy đầu các đòn khiêng, nhưng ở ngoài thì không thấy được. Các đòn khiêng ấy vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.

9 Trong Hòm Giao Ước không có gì khác ngoài hai bảng đá mà Môi-se đã đặt vào tại Hô-rếp, nơi Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.

10 Khi các thầy tế lễ vừa ra khỏi Nơi Thánh thì có đám mây tràn đầy đền thờ của Đức Giê-hô-va,

11 đến nỗi do đám mây ấy mà các thầy tế lễ không thể tiếp tục hành lễ được, vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập đền thờ của Ngài.

12 Bấy giờ, Sa-lô-môn cầu nguyện: “Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài ngự trong đám mây dày đặc.

13 Nhưng con đã xây cho Ngài một đền thờ nguy nga, Một nơi để Ngài ngự đời đời.”

14 Rồi vua quay mặt lại chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên trong khi mọi người đang đứng.

15 Vua nói: “Ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã phán hứa với Đa-vít, cha trẫm, và dùng chính tay Ngài làm ứng nghiệm lời ấy. Ngài phán rằng:

16 ‘Từ ngày Ta đã đem dân Ta là Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Ta không chọn một thành nào trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để xây cất một đền thờ cho danh Ta ngự tại đó. Nhưng Ta đã chọn Đa-vít để người trị vì dân Y-sơ-ra-ên của Ta.’

17 Lúc ấy, Đa-vít, cha trẫm, có ý định xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

18 Nhưng Đức Giê-hô-va đã phán với Đa-vít, cha trẫm, rằng: ‘Con có ý định xây cất một đền thờ cho danh Ta là điều tốt.

19 Tuy nhiên, con sẽ không xây cất đền thờ ấy đâu, nhưng con của con, do con sinh ra, sẽ xây cất đền thờ cho danh Ta.’

20 Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm lời Ngài phán hứa, vì trẫm đã kế vị Đa-vít, cha trẫm, và ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán. Trẫm đã xây cất đền thờ nầy cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

21 Tại đó, trẫm đã chuẩn bị một chỗ để đặt Hòm Giao Ước, trong đó có giao ước của Đức Giê-hô-va, là giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ chúng ta khi đem họ ra khỏi đất Ai Cập.”

22 Kế đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ hai tay lên trời và cầu nguyện rằng:

23 “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Không có thần nào trên trời cao kia hoặc dưới đất thấp nầy giống như Ngài. Chúa giữ giao ước và lòng nhân từ với các đầy tớ Ngài, là những người hết lòng bước đi trước mặt Ngài.

24 Chúa đã giữ lời Ngài phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con. Điều chính miệng Chúa phán hứa thì tay Chúa đã thực hiện như đã có ngày nay.

25 Vậy bây giờ, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin giữ lời Chúa đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Nếu con cháu của con cẩn thận trong đường lối mình, bước đi trước mặt Ta như con đã bước đi, thì trước mặt Ta, con sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên đâu.’

26 Lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin Chúa làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con.

27 Nhưng thật ra Đức Chúa Trời có ngự trên đất nầy chăng? Kìa, các tầng trời, ngay cả trời của các tầng trời cũng không thể chứa Ngài được, huống chi đền thờ nầy mà con đã xây cất!

28 Dù vậy, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và nài xin của đầy tớ Ngài, xin đoái nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà hôm nay đầy tớ Ngài đang dâng lên trước mặt Ngài.

29 Nguyện mắt của Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là nơi Chúa đã phán rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó,’ để nghe lời khẩn nguyện của đầy tớ Ngài hướng về nơi nầy mà kêu cầu.

30 Xin Chúa lắng nghe lời khẩn cầu mà đầy tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi ngự của Chúa trên các tầng trời, xin Chúa đoái nghe và tha thứ cho.

31 Nếu có ai phạm tội với người lân cận mình và bị buộc phải thề, nên người ấy đến thề trước bàn thờ của Chúa trong đền thờ nầy,

32 thì xin Chúa trên trời lắng nghe, hành động và phân xử cho các đầy tớ Ngài, kết án kẻ có tội, khiến nó phải chịu lấy hậu quả của tội lỗi mình, và xưng công chính cho người công chính bằng cách ban thưởng theo sự công chính của người ấy.

33 Khi Y-sơ-ra-ên, con dân của Ngài, bị kẻ thù đánh bại vì phạm tội với Ngài, nếu họ trở lại với Ngài, xưng nhận danh Ngài và cầu nguyện nài xin với Ngài trong đền thờ nầy,

34 thì xin Chúa trên trời lắng nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài và khiến họ trở về đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.

35 Khi các tầng trời bị đóng chặt, không có mưa vì họ đã phạm tội với Chúa, nếu họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện, xưng nhận danh Chúa, lìa bỏ tội lỗi mình vì Chúa đã sửa phạt họ,

36 thì xin Chúa trên trời lắng nghe, tha tội cho các đầy tớ Chúa và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin Chúa chỉ cho họ con đường chính đáng mà họ phải đi, và cho mưa rơi trên đất mà Chúa đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.

37 Khi trong xứ có đói kém, dịch bệnh, hoặc hạn hán, nấm mốc, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù vây hãm các cổng thành của xứ, hoặc có bất cứ tai họa, bệnh tật gì;

38 nếu có một người hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Chúa hết lòng nhận biết nỗi đau đớn của mình, và giơ tay ra hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện, khẩn xin bất luận điều gì,

39 thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, lắng nghe, tha thứ, hành động và báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ, và theo những gì Chúa biết trong lòng họ, vì chỉ một mình Chúa biết rõ lòng người;

40 để khiến họ kính sợ Chúa trọn đời, khi họ sống trên đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.

41 Ngoài ra, đối với người ngoại quốc là người chẳng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì nghe danh Ngài nên từ xứ xa đến

42 (vì họ đã nghe về uy danh của Chúa, về tay quyền năng và cánh tay giơ thẳng ra của Ngài). Khi họ đến cầu nguyện trong đền thờ nầy,

43 thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, lắng nghe và làm cho họ mọi điều họ cầu xin Ngài, để muôn dân trên đất nhận biết danh Chúa và kính sợ Ngài giống như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và để người ta biết rằng danh Chúa được kêu cầu nơi đền thờ mà con đã xây cất.

44 Khi dân của Chúa ra trận chiến đấu với quân thù ở bất cứ nơi nào Chúa sai họ đi, nếu họ cầu khẩn Đức Giê-hô-va hướng về thành Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Ngài,

45 thì xin Chúa trên trời lắng nghe các lời cầu nguyện và nài xin của họ mà thực thi công lý cho họ.

46 Khi họ phạm tội với Chúa — vì chẳng có người nào không phạm tội — khiến Chúa nổi giận với họ và phó họ cho kẻ thù để họ bị lưu đày trong xứ của kẻ thù, hoặc xa hay gần.

47 Nếu trong đất lưu đày, họ hồi tâm, ăn năn và nài xin với Chúa rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, hành động một cách bướng bỉnh và gian ác;’

48 nếu trong xứ của kẻ thù, nơi họ bị lưu đày, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa, cầu nguyện với Ngài, hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Chúa,

49 thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ và thực thi công lý cho họ.

50 Xin Chúa tha thứ cho dân Ngài là dân đã phạm tội với Ngài, và tha thứ tất cả sự vi phạm mà họ đã phạm với Ngài; xin Chúa khiến những kẻ bắt họ lưu đày có lòng thương xót họ,

51 vì họ là dân Ngài, là cơ nghiệp mà Ngài đã đem ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi lò luyện sắt.

52 Nguyện mắt Chúa đoái xem đầy tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, lắng tai nghe lời cầu nguyện và nài xin của họ mỗi khi họ kêu cầu với Ngài.

53 Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Chúa đã biệt riêng Y-sơ-ra-ên ra khỏi mọi dân tộc trên mặt đất để họ làm cơ nghiệp Ngài, như Ngài đã tuyên phán qua Môi-se là đầy tớ Ngài, khi Ngài đem tổ phụ chúng con ra khỏi Ai Cập.”

54 Khi Sa-lô-môn đã dâng lên Đức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện và nài xin nầy xong thì vua đứng dậy trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, nơi vua đã quỳ và giơ hai tay lên trời.

55 Vua đứng và lớn tiếng chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng:

56 “Ca ngợi Đức Giê-hô-va, Đấng đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài được an nghỉ như mọi lời Ngài đã phán! Trong tất cả các lời hứa tốt lành mà Ngài đã phán qua Môi-se, đầy tớ Ngài, thì chẳng có lời nào không ứng nghiệm.

57 Cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ở với chúng ta như Ngài đã ở với tổ phụ chúng ta; xin Ngài đừng lìa, đừng bỏ chúng ta.

58 Cầu xin Ngài giục lòng chúng ta hướng về Ngài, để chúng ta đi trong tất cả đường lối Ngài, tuân giữ những điều răn, luật pháp và mệnh lệnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng ta.

59 Nguyện các lời trẫm đã nài xin trước mặt Đức Giê-hô-va sẽ ở bên cạnh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ngày và đêm, để bảo vệ quyền lợi của đầy tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên Ngài, tùy theo nhu cầu mỗi ngày,

60 để muôn dân trên đất biết rằng chính Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chứ chẳng có ai khác.

61 Vậy, các ngươi hãy hết lòng trung thành với Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng ta, bước đi trong luật pháp, và tuân giữ điều răn của Ngài như các ngươi đã làm ngày nay.”

62 Sau đó, vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên ở bên vua dâng các sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va.

63 Sa-lô-môn dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va gồm hai mươi hai nghìn con bò đực và một trăm hai mươi nghìn con chiên làm tế lễ bình an. Như vậy, vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên cung hiến đền thờ lên Đức Giê-hô-va.

64 Trong ngày đó, vua biệt riêng ra thánh phần giữa của hành lang ở trước đền thờ của Đức Giê-hô-va, làm nơi dâng các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an, vì bàn thờ bằng đồng để trước mặt Đức Giê-hô-va quá nhỏ, không thể chứa các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an.

65 Trong lúc đó, Sa-lô-môn và toàn dân Y-sơ-ra-ên ở bên vua cùng dự lễ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta trong bảy ngày, rồi kéo dài thêm bảy ngày nữa, cộng tất cả là mười bốn ngày. Thật là một hội chúng đông đảo, từ cửa ải Ha-mát cho đến suối Ai Cập.

66 Vào ngày thứ tám, vua cho dân chúng ra về. Họ chúc phước cho vua rồi trở về trại mình, lòng vui mừng phấn khởi về mọi điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, đầy tớ Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.

9

1 Khi Sa-lô-môn đã hoàn thành việc xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua và mọi công trình vua dự tính thực hiện,

2 thì Đức Giê-hô-va hiện ra với Sa-lô-môn lần thứ hai, như Ngài đã hiện ra với vua tại Ga-ba-ôn.

3 Đức Giê-hô-va phán với vua: “Ta đã nghe lời cầu nguyện và nài xin của con trình dâng trước mặt Ta. Ta đã biệt riêng ra thánh đền thờ mà con đã xây cất, và đặt danh Ta tại đó đời đời. Mắt và lòng Ta sẽ ở đó mãi mãi.

4 Về phần con, nếu con bước đi trước mặt Ta như Đa-vít, cha của con, đã bước đi, lấy lòng trọn lành và ngay thẳng mà làm theo tất cả những điều Ta đã truyền cho con, tuân giữ những luật lệ và mệnh lệnh của Ta,

5 thì Ta sẽ làm cho ngôi nước con vững bền trên Y-sơ-ra-ên đến đời đời, đúng như Ta đã phán hứa với Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Con sẽ chẳng hề thiếu người kế vị trên ngai Y-sơ-ra-ên.’

6 Nhưng nếu con hoặc con cháu của con quay khỏi Ta, không tuân giữ các điều răn và luật lệ Ta đã truyền phán, mà đi phục vụ các thần khác và thờ lạy chúng,

7 thì Ta sẽ truất Y-sơ-ra-ên khỏi đất Ta đã ban cho họ. Còn đền thờ mà Ta đã biệt riêng ra thánh cho danh Ta thì Ta cũng sẽ loại bỏ khỏi mặt Ta; và Y-sơ-ra-ên sẽ trở thành đề tài cho mọi dân tộc đàm tiếu và chế nhạo.

8 Mặc dù hiện nay đền thờ nầy nguy nga nhưng nó sẽ đổ nát, mọi người đi ngang qua đó đều sẽ kinh ngạc, chế nhạo và nói: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm cho đất nước nầy và đền thờ nầy như vậy?’

9 Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Ấy là vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, Đấng đã đem tổ phụ họ ra khỏi Ai Cập. Họ đã đi theo các thần khác, thờ lạy các thần ấy và phục vụ chúng. Vì thế, Đức Giê-hô-va đã giáng trên họ các tai họa nầy.’”

10 Sau hai mươi năm xây dựng hai công trình là đền thờ Đức Giê-hô-va và cung vua,

11 Sa-lô-môn trao cho Hi-ram, vua Ty-rơ, hai mươi thành trong miền Ga-li-lê, vì Hi-ram đã cung cấp cho Sa-lô-môn gỗ bá hương, gỗ tùng và vàng theo ý vua muốn.

12 Nhưng khi Hi-ram từ Ty-rơ đến xem các thành mà Sa-lô-môn đã trao cho mình thì không hài lòng về các thành đó.

13 Vì vậy, vua nói: “Thưa ngài, ngài cho tôi những thành như thế nầy sao?” Rồi vua Hi-ram gọi các thành ấy là đất Ca-bun, và người ta vẫn còn gọi như vậy đến ngày nay.

14 Hi-ram đã gửi cho vua Sa-lô-môn ba nghìn sáu trăm ký vàng.

15 Vua Sa-lô-môn đã huy động lực lượng lao dịch để xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va và cung điện mình, công trình Mi-lô, vách thành Giê-ru-sa-lem, Hát-so, Mê-ghi-đô, và Ghê-xe.

16 (Ghê-xe vốn là một thành của người Ca-na-an bị Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, đánh chiếm, thiêu hủy thành và giết dân Ca-na-an ở trong thành, rồi ban thành ấy làm của hồi môn cho con gái mình, là vợ Sa-lô-môn.)

17 Sa-lô-môn xây thành Ghê-xe, Bết Hô-rôn Hạ,

18 Ba-lát, và Tát-mốt, trong hoang mạc của xứ,

19 và xây cất tất cả các thành có kho dự trữ lương thực của Sa-lô-môn, các thành để chiến xa, các thành cho kỵ binh, và tất cả những gì Sa-lô-môn muốn xây cất tại Giê-ru-sa-lem, Li-ban và trong toàn lãnh thổ thuộc quyền vua.

20 Tất cả những người còn sống sót thuộc các dân A-mô-rít, Hê-tít, Phê-rê-sít, Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, không phải dân Y-sơ-ra-ên;

21 tức là các con cháu của họ còn lại trong xứ, mà dân Y-sơ-ra-ên không thể tiêu diệt hoàn toàn, đều bị Sa-lô-môn bắt lao động nặng nhọc cho đến ngày nay.

22 Nhưng Sa-lô-môn không bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nô dịch. Họ là những chiến binh, quan chức, sĩ quan chỉ huy, những người điều khiển chiến xa và kỵ binh của vua.

23 Có tất cả năm trăm năm mươi quan chức cai quản các công trình của Sa-lô-môn; họ giám sát dân chúng làm việc trong các công trình.

24 Khi con gái của Pha-ra-ôn từ thành Đa-vít lên ở trong cung điện mà vua Sa-lô-môn đã xây cho nàng, thì vua bắt đầu xây dựng công trình Mi-lô.

25 Mỗi năm ba lần, Sa-lô-môn dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an trên bàn thờ mà vua đã xây cho Đức Giê-hô-va, và xông hương trên bàn thờ đã đặt trước mặt Đức Giê-hô-va. Như vậy, vua hoàn thành công trình xây cất đền thờ.

26 Vua Sa-lô-môn cũng cho đóng một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be, gần Ê-lốt, trên bờ Biển Đỏ, trong đất Ê-đôm.

27 Hi-ram phái các đầy tớ mình, là những thủy thủ thông thạo ngành hàng hải, đến giúp các đầy tớ của Sa-lô-môn trong đoàn tàu đó.

28 Họ đến Ô-phia và đem gần mười ba tấn vàng ở đó về nộp cho vua Sa-lô-môn.

10

1 Nữ hoàng nước Sê-ba nghe nói Sa-lô-môn nhờ danh của Đức Giê-hô-va mà nổi tiếng, nên đến để thử tài Sa-lô-môn với những câu hỏi hóc búa.

2 Bà đến Giê-ru-sa-lem với một đoàn tùy tùng đông đảo, có nhiều lạc đà chở hương liệu và một số lượng rất lớn vàng cùng đá quý. Bà đến gặp vua Sa-lô-môn và nói với vua tất cả những gì bà suy nghĩ trong lòng.

3 Sa-lô-môn giải đáp tất cả các vấn đề bà đưa ra, không có vấn đề nào quá bí ẩn mà vua không giải đáp cho bà được.

4 Khi nữ hoàng Sê-ba thấy tất cả sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện vua đã xây cất,

5 những món ăn trên bàn vua, chỗ ngồi của các quần thần, cung cách làm việc và trang phục của họ, các thứ rượu của vua, và các tế lễ thiêu mà vua dâng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, thì bà mất vía.

6 Bà nói với vua: “Những gì tôi đã nghe ở nước tôi về ngài và sự khôn ngoan của ngài thì quả đúng sự thật.

7 Nhưng trước khi đến đây và thấy tận mắt những điều nầy thì tôi chẳng tin. Thực ra người ta nói chưa đến được một nửa! Sự khôn ngoan và giàu có của ngài vượt trội hơn những gì tôi đã nghe.

8 Các bà vợ của ngài thật có phước! Quần thần của ngài, những người luôn đứng chầu trước mặt ngài và được nghe sự khôn ngoan của ngài, thật phước biết bao!

9 Chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngài, Đấng đã vui lòng đặt ngài trên ngai Y-sơ-ra-ên! Chính vì yêu thương Y-sơ-ra-ên đến đời đời nên Đức Giê-hô-va đã lập ngài làm vua để thực thi công lý và sự công chính.”

10 Rồi nữ hoàng tặng nhà vua ba nghìn sáu trăm ký vàng, và rất nhiều hương liệu cùng đá quý. Chưa từng có người nào đem tặng số hương liệu nhiều như nữ hoàng Sê-ba đã tặng vua Sa-lô-môn.

11 Ngoài ra, đoàn tàu của Hi-ram đem vàng từ Ô-phia về, cũng đem theo rất nhiều gỗ bạch đàn và đá quý.

12 Vua dùng gỗ bạch đàn nầy làm bao lơn cho đền thờ Đức Giê-hô-va và cung vua, làm đàn hạc và đàn lia cho các ca đoàn. Từ đó đến nay, chẳng có ai đem vào hoặc thấy số gỗ bạch đàn nhiều như thế.

13 Vua Sa-lô-môn tặng cho nữ hoàng Sê-ba tất cả những gì bà thích và xin, không kể những tặng vật mà vua Sa-lô-môn đã cho bà theo lòng hào phóng của vua. Sau đó, bà và đoàn tùy tùng lên đường về nước.

14 Số lượng vàng mà vua Sa-lô-môn thu nhận hằng năm cân nặng khoảng hai mươi tấn,

15 không kể số thu nhập qua các tay buôn, qua sự trao đổi mậu dịch của các thương gia, qua các vua Ả-rập và các tổng đốc trong nước đem nộp.

16 Vua Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn dát vàng, mỗi cái dùng gần bảy ký vàng.

17 Vua cũng làm ba trăm cái khiên nhỏ dát vàng, mỗi cái dùng gần hai ký vàng. Vua đặt các khiên ấy trong cung Rừng Li-ban.

18 Vua lại làm một cái ngai lớn bằng ngà, bọc vàng ròng.

19 Ngai nầy có sáu bậc. Phần trên chỗ tựa lưng của ngai có hình tròn, hai bên chỗ ngồi có thanh gác tay, và mỗi bên có một con sư tử đứng kề.

20 Ngoài ra còn có mười hai con sư tử khác đứng trên sáu bậc ở hai bên. Chẳng có vương quốc nào làm ngai giống như vậy.

21 Tất cả các ly chén dùng để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và tất cả vật dụng trong cung Rừng Li-ban cũng đều bằng vàng ròng. Không có vật dụng gì làm bằng bạc, vì trong thời vua Sa-lô-môn, bạc không có giá trị gì cả.

22 Cứ mỗi ba năm, đoàn tàu đi Ta-rê-si của vua vượt biển cùng với đoàn tàu của Hi-ram đem về vàng, bạc, ngà voi, khỉ và công.

23 Vì vậy, vua Sa-lô-môn vượt hơn tất cả các vua trên thế giới về sự giàu có và khôn ngoan.

24 Cả thiên hạ đều mong được gặp Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong lòng vua.

25 Ai đến gặp vua đều đem theo lễ vật như: vật dụng bằng bạc và bằng vàng, áo khoác, binh giáp, hương liệu, ngựa và la.

26 Sa-lô-môn cũng tập trung nhiều chiến xa và kỵ binh; vua có một nghìn bốn trăm cỗ xe và mười hai nghìn kỵ binh đóng trong các thành có chiến xa và ngay tại Giê-ru-sa-lem, bên cạnh vua.

27 Tại Giê-ru-sa-lem, vua đã làm cho bạc trở nên tầm thường như đá, và gỗ bá hương nhiều như cây sung mọc ở miền Sơ-phê-la.

28 Vua Sa-lô-môn cho mua ngựa từ Ai Cập; và Cơ-vê các tay buôn của vua mua từ Cơ-vê với giá phải chăng.

29 Mỗi cỗ xe mua từ Ai Cập với giá gần bảy ký bạc, còn mỗi con ngựa giá gần hai ký. Các vua dân Hê-tít và A-ram cũng nhờ những tay buôn của vua mua về theo giá ấy.

11

1 Ngoài con gái của Pha-ra-ôn, vua Sa-lô-môn còn yêu mến nhiều cô gái ngoại bang khác; đó là các cô gái người Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Si-đôn và Hê-tít.

2 Họ thuộc các dân mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Các con chớ kết thông gia với chúng, vì chắc chắn chúng sẽ quyến rũ các con theo các thần của chúng.” Tuy nhiên, Sa-lô-môn vẫn yêu say đắm các cô gái ấy.

3 Vua có bảy trăm bà vợ và ba trăm cung phi; họ làm cho lòng vua lầm lạc.

4 Thật vậy, khi Sa-lô-môn về già, các bà vợ của vua đã quyến rũ vua theo các thần khác. Lòng vua không còn trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình như Đa-vít, cha của vua,

5 vì Sa-lô-môn đã đi theo nữ thần Át-tạt-tê của người Si-đôn và thần Minh-côm, một thần đáng ghê tởm của người Am-môn.

6 Như thế, Sa-lô-môn đã làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không hết lòng theo Đức Giê-hô-va như Đa-vít, cha vua.

7 Bấy giờ, Sa-lô-môn xây một nơi cao trên núi đối diện với Giê-ru-sa-lem cho thần Kê-mốt là thần đáng ghê tởm của người Mô-áp, và cho thần Mo-lóc là thần đáng ghê tởm của người Am-môn.

8 Vua cũng làm như vậy cho tất cả các bà vợ ngoại bang của mình; họ xông hương và dâng sinh tế cho các thần của mình.

9 Đức Giê-hô-va nổi giận với Sa-lô-môn vì lòng vua lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã hai lần hiện ra với vua,

10 phán bảo vua chớ theo các thần khác, nhưng vua đã không vâng lệnh Đức Giê-hô-va.

11 Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn: “Vì con đã làm như thế, không giữ giao ước và luật pháp Ta truyền cho con nên Ta chắc chắn sẽ xé vương quốc của con ra và ban cho thuộc hạ của con.

12 Tuy nhiên, vì Đa-vít, cha của con, Ta sẽ không làm điều đó trong đời con. Nhưng Ta sẽ đoạt lấy vương quốc khỏi tay con trai con.

13 Dù vậy, Ta sẽ không đoạt lấy cả vương quốc khỏi nó; nhưng vì Đa-vít, đầy tớ Ta, và vì Giê-ru-sa-lem mà Ta đã chọn, Ta sẽ để lại một bộ tộc cho con của con.”

14 Đức Giê-hô-va khiến một người nổi lên chống lại Sa-lô-môn là Ha-đát, người Ê-đôm, vốn thuộc hoàng tộc Ê-đôm.

15 Trước đây, vào thời Đa-vít chinh phục Ê-đôm thì Giô-áp, tướng chỉ huy quân đội, đã giết tất cả người nam ở Ê-đôm trong khi đi chôn cất các tử thi.

16 Giô-áp cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên đã ở lại đó sáu tháng cho đến khi đã giết hết người nam ở Ê-đôm.

17 Lúc ấy, Ha-đát còn là một thiếu niên đã cùng với mấy người Ê-đôm, là các đầy tớ của cha mình, chạy trốn sang Ai Cập.

18 Họ đi từ Ma-đi-an đến Pha-ran. Rồi từ Pha-ran, họ đem theo một số người Pha-ran đi đến Ai Cập và ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Vua nầy cấp cho Ha-đát nhà ở, lương thực và đất đai.

19 Ha-đát rất được lòng Pha-ra-ôn nên vua gả em vợ cho ông, tức là em gái của hoàng hậu Tác-bê-ne.

20 Em gái của Tác-bê-ne sinh cho Ha-đát một con trai tên là Ghê-nu-bát, là đứa con mà Tác-bê-ne dứt sữa trong cung điện Pha-ra-ôn. Như vậy, Ghê-nu-bát sống trong cung điện Pha-ra-ôn, giữa các con trai của vua.

21 Đang ở Ai Cập, Ha-đát nghe tin Đa-vít đã an giấc cùng các tổ phụ mình, và tướng chỉ huy quân đội là Giô-áp cũng đã chết, thì thưa với Pha-ra-ôn rằng: “Xin bệ hạ cho phép tôi trở về đất nước tôi.”

22 Pha-ra-ôn hỏi: “Ở với trẫm, ngươi có thiếu gì không mà phải tìm về đất nước ngươi?” Ha-đát đáp: “Thưa, chẳng thiếu gì cả nhưng xin cho phép tôi đi.”

23 Đức Chúa Trời lại khiến một người khác nổi lên chống lại Sa-lô-môn là Rê-xôn, con của Ê-li-gia-đa, người đã trốn chủ mình là Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba.

24 Khi Đa-vít đánh giết quân của vua Xô-ba thì Rê-xôn chiêu tập một số người chung quanh mình và làm thủ lĩnh nhóm người đó. Họ kéo sang thành Đa-mách, ở đó và cai trị thành ấy.

25 Suốt đời Sa-lô-môn, Rê-xôn luôn chống lại Y-sơ-ra-ên, gây ra bao thảm họa chẳng kém gì Ha-đát. Khi đã làm vua A-ram, Rê-xôn càng thù địch với Y-sơ-ra-ên hơn.

26 Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, người Ép-ra-im, ở đất Xê-rê-đa, đã từng phục vụ Sa-lô-môn, cũng nổi lên chống lại vua. Mẹ ông là một quả phụ tên là Xê-ru-ha.

27 Đây là lý do tại sao ông nổi lên chống lại vua: Sa-lô-môn xây công trình Mi-lô, lấp vá lại lỗ hổng của thành Đa-vít mà cha vua đã xây.

28 Bấy giờ, Giê-rô-bô-am là một người mạnh khỏe và có khả năng. Sa-lô-môn thấy người còn trẻ và có tài nên đặt người phụ trách toàn bộ lực lượng lao dịch nhà Giô-sép.

29 Một hôm, trên đường từ Giê-ru-sa-lem đi ra, Giê-rô-bô-am gặp A-hi-gia, nhà tiên tri ở Si-lô, đang mặc một chiếc áo choàng mới. Lúc ấy, chỉ có hai người ở ngoài đồng mà thôi.

30 A-hi-gia nắm chiếc áo mới mình đang mặc, xé ra làm mười hai mảnh.

31 Rồi ông nói với Giê-rô-bô-am: “Hãy lấy mười mảnh về phần ông, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Kìa! Ta sẽ xé vương quốc từ tay Sa-lô-môn và trao cho ngươi mười bộ tộc.

32 Nhưng vì đầy tớ Ta là Đa-vít và vì Giê-ru-sa-lem, thành mà Ta đã chọn giữa các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, nên sẽ còn lại một bộ tộc cho dòng dõi Sa-lô-môn.

33 Bởi chúng đã lìa bỏ Ta mà thờ lạy nữ thần Át-tạt-tê của người Si-đôn, thần Kê-mốt của người Mô-áp, và thần Minh-côm của người Am-môn. Chúng không bước đi theo các đường lối của Ta để làm điều ngay thẳng dưới mắt Ta, và cũng chẳng tuân giữ luật lệ và điều răn của Ta như Đa-vít, tổ phụ chúng.

34 Tuy nhiên, Ta sẽ không truất cả vương quốc khỏi tay Sa-lô-môn mà sẽ để nó làm vua trọn đời vì cớ Đa-vít, đầy tớ Ta đã chọn, người đã tuân giữ các điều răn và luật lệ Ta.

35 Nhưng Ta sẽ lấy vương quốc khỏi tay con trai nó mà trao cho ngươi mười bộ tộc.

36 Ta sẽ dành lại một bộ tộc cho con trai nó, để cho Đa-vít, đầy tớ Ta, có người nối ngôi mãi mãi trước mặt Ta tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Ta đã chọn để đặt danh Ta tại đó.

37 Ta sẽ chọn và lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên; ngươi sẽ cai trị toàn cõi theo lòng ngươi mong muốn.

38 Nếu ngươi vâng lệnh Ta, đi theo các đường lối Ta, làm điều ngay thẳng dưới mắt Ta, tuân giữ luật lệ và điều răn của Ta như đầy tớ Ta là Đa-vít đã làm, thì Ta sẽ ở cùng ngươi, lập cho ngươi một triều đại vững chắc như Ta đã lập cho Đa-vít, và Ta sẽ ban Y-sơ-ra-ên cho ngươi.

39 Như vậy, Ta sẽ làm cho dòng dõi Đa-vít bị sỉ nhục, nhưng chẳng phải mãi mãi đâu.’”

40 Sa-lô-môn tìm cách giết Giê-rô-bô-am, nhưng Giê-rô-bô-am trốn qua Ai Cập, đến với Si-sắc, vua Ai Cập, rồi ở đó cho đến khi Sa-lô-môn băng hà.

41 Các việc khác về Sa-lô-môn, tất cả những gì vua đã thực hiện, và sự khôn ngoan của vua đều đã được ghi chép trong sách biên niên sử của Sa-lô-môn.

42 Sa-lô-môn trị vì tại Giê-ru-sa-lem trên toàn thể Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm.

43 Rồi Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít, cha của vua. Thái tử Rô-bô-am lên kế vị.

12

1 Rô-bô-am đến Si-chem vì toàn dân Y-sơ-ra-ên đã đến đó để tôn ông lên làm vua.

2 Giê-rô-bô-am, con của Nê-bát, nghe tin đó khi còn ở Ai Cập, nơi ông chạy trốn vua Sa-lô-môn.

3 Người ta sai mời Giê-rô-bô-am về. Rồi toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đến tâu với Rô-bô-am rằng:

4 “Thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi một cái ách nặng quá. Bây giờ, xin bệ hạ giảm nhẹ khổ dịch và ách nặng nề mà thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục vụ bệ hạ.”

5 Vua trả lời với họ: “Hãy lui về, ba ngày nữa trở lại đây gặp trẫm.” Dân chúng liền ra về.

6 Vua Rô-bô-am bàn với các trưởng lão đã từng hầu cận Sa-lô-môn, cha mình, lúc người còn sống. Vua hỏi: “Các ngươi góp ý để trẫm phải trả lời với dân nầy thế nào đây?”

7 Họ tâu với vua: “Nếu ngày nay bệ hạ làm đầy tớ của dân nầy, phục vụ họ, và dùng lời lẽ ôn tồn mà nói với họ thì họ sẽ làm tôi cho bệ hạ mãi mãi.”

8 Nhưng Rô-bô-am không đếm xỉa gì đến ý kiến của các trưởng lão đã bàn với mình, lại đi hỏi ý kiến những người trẻ cùng lứa tuổi với vua và đang hầu cận vua.

9 Vua hỏi họ: “Dân nầy đã tâu với trẫm rằng: ‘Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi.’ Vậy, các ngươi góp ý cho trẫm phải trả lời với họ thế nào?”

10 Những người trẻ cùng lứa tuổi với vua tâu: “Dân nầy đã xin với bệ hạ rằng: ‘Thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi một ách nặng nề, mong bệ hạ giảm nhẹ ách cho chúng tôi.’ Vậy, xin bệ hạ trả lời với họ như thế nầy: ‘Ngón tay út của ta còn mập hơn vòng bụng của cha ta.

11 Cha ta đã đặt một cái ách nặng nề cho các ngươi, ta sẽ làm cho ách các ngươi nặng nề hơn nữa. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bọ cạp’”

12 Ba ngày sau, Giê-rô-bô-am cùng tất cả dân chúng đến gặp vua Rô-bô-am như vua đã hẹn rằng: “Ba ngày nữa hãy trở lại gặp trẫm.”

13 Vua nói với dân chúng một cách gay gắt. Không đếm xỉa gì đến lời bàn của các trưởng lão,

14 vua trả lời họ theo ý kiến của những người trẻ rằng: “Cha trẫm đã đặt lên các ngươi một ách nặng nề, trẫm sẽ làm cho ách các ngươi càng nặng nề hơn nữa. Cha trẫm đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, trẫm sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.”

15 Như vậy, vua đã không nghe lời thỉnh cầu của dân chúng, vì các biến cố đó do Đức Giê-hô-va cho phép xảy ra để làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về Giê-rô-bô-am, con của Nê-bát, qua A-hi-gia, người Si-lô.

16 Khi thấy vua không chịu nghe lời thỉnh cầu của họ thì toàn dân Y-sơ-ra-ên nói với vua: “Chúng ta có phần gì cùng Đa-vít? Chúng ta chẳng có sản nghiệp gì với con của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy trở về trại mình đi. Hỡi Đa-vít! Từ nay hãy coi chừng nhà của ngươi.” Rồi dân Y-sơ-ra-ên rút về các trại của họ.

17 Còn những người Y-sơ-ra-ên đang cư ngụ trong các thành Giu-đa thì Rô-bô-am cai trị họ.

18 Khi vua Rô-bô-am sai A-đô-ni-ram, người phụ trách lực lượng lao dịch, đến với dân chúng thì toàn thể Y-sơ-ra-ên ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am vội vàng lên xe chạy trốn về Giê-ru-sa-lem.

19 Từ đó, người Y-sơ-ra-ên chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay.

20 Khi nghe tin Giê-rô-bô-am đã trở về thì dân Y-sơ-ra-ên họp đại hội, và cho người mời ông đến để tôn ông làm vua trên toàn thể Y-sơ-ra-ên. Không ai theo nhà Đa-vít cả, ngoại trừ bộ tộc Giu-đa.

21 Về đến Giê-ru-sa-lem, Rô-bô-am triệu tập toàn thể nhà Giu-đa và bộ tộc Bên-gia-min được một trăm tám mươi nghìn quân tinh nhuệ, định giao chiến với nhà Y-sơ-ra-ên để khôi phục vương quyền cho Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn.

22 Nhưng có lời Đức Chúa Trời đến với Sê-ma-gia, người của Đức Chúa Trời:

23 “Hãy nói với Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, vua Giu-đa, cùng toàn thể nhà Giu-đa, Bên-gia-min và dân chúng còn lại rằng:

24 Đây là điều Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi chớ đi lên đánh anh em mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi người hãy trở về nhà mình, vì điều nầy do Ta cho phép xảy đến.’” Vậy, họ vâng theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va mà trở về.

25 Giê-rô-bô-am xây thành Si-chem trong vùng đồi núi Ép-ra-im và ở tại đó. Rồi vua rời thành nầy đi xây thành Phê-nu-ên.

26 Bấy giờ, Giê-rô-bô-am tự nhủ: “Không khéo vương quốc có thể lại trở về với nhà Đa-vít.

27 Nếu dân nầy cứ đi lên Giê-ru-sa-lem để dâng sinh tế trong đền thờ Đức Giê-hô-va thì lòng họ chắc sẽ quay về với chủ mình là Rô-bô-am, vua Giu-đa. Họ sẽ giết ta và quay về với Rô-bô-am, vua Giu-đa.”

28 Sau khi bàn bạc, vua truyền làm hai con bò con bằng vàng, và nói với dân chúng: “Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem thật khó khăn! Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là các thần đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập.”

29 Vua đặt một tượng bò con ở Bê-tên, còn tượng kia đặt ở Đan.

30 Điều nầy đã gây cho dân chúng phạm tội, vì họ đi đến tận Đan để thờ lạy tượng bò con ấy.

31 Giê-rô-bô-am còn xây cất đền miếu trên các nơi cao, chọn người trong hàng thường dân và lập họ làm thầy tế lễ, chứ không chọn người thuộc dòng dõi Lê-vi.

32 Vua lại lập một kỳ lễ vào ngày rằm tháng tám, giống như lễ được tổ chức tại Giu-đa, và dâng các sinh tế trên bàn thờ. Vua cũng làm như thế tại Bê-tên, dâng sinh tế cho tượng bò con mà vua đã làm. Vua cũng lập tại Bê-tên những thầy tế lễ của đền miếu trên các nơi cao mà vua đã xây cất.

33 Vào ngày rằm tháng tám là tháng mà vua đã tự ý chỉ định, Giê-rô-bô-am đi đến bàn thờ đã xây tại Bê-tên. Vua lập một kỳ lễ cho dân Y-sơ-ra-ên, rồi đến trước bàn thờ để dâng hương.

13

1 Bấy giờ, theo lệnh của Đức Giê-hô-va, có một người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến Bê-tên trong lúc Giê-rô-bô-am đứng gần bàn thờ để dâng hương.

2 Vâng theo lệnh Đức Giê-hô-va, người ấy quở trách bàn thờ rằng: “Hỡi bàn thờ, bàn thờ! Đức Giê-hô-va phán: ‘Kìa! Một con trai sẽ được sinh ra cho nhà Đa-vít, tên nó là Giô-si-a. Nó sẽ dâng trên mầy những thầy tế lễ của các nơi cao, là những người xông hương trên mầy, và người ta sẽ thiêu trên mầy hài cốt người chết.’”

3 Ngay hôm ấy, người của Đức Chúa Trời cho một dấu lạ và nói: “Đây là dấu lạ để chứng tỏ rằng Đức Giê-hô-va đã phán: Bàn thờ sẽ nứt ra và tro trên bàn thờ sẽ đổ xuống.”

4 Khi nghe người của Đức Chúa Trời quở trách bàn thờ tại Bê-tên, vua Giê-rô-bô-am giơ tay ra trên bàn thờ và nói: “Hãy bắt lấy nó!” Nhưng khi vua vừa giơ tay ra chỉ vào người ấy thì cánh tay của vua bị khô cứng, không thể co lại được.

5 Bàn thờ cũng nứt ra và tro trên bàn thờ đổ xuống, đúng như dấu lạ mà người của Đức Chúa Trời đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va tỏ ra.

6 Bấy giờ, vua nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Xin ông khẩn nài Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông và cầu nguyện cho tôi để tay tôi có thể co lại được như cũ.” Người của Đức Chúa Trời cầu khẩn Đức Giê-hô-va thì tay vua co vào được như trước.

7 Vua nói với người của Đức Chúa Trời: “Xin mời ông về cung với tôi để được bổ sức lại, và tôi sẽ tặng ông một món quà.”

8 Nhưng người của Đức Chúa Trời đáp: “Dù vua có cho phân nửa tài sản, tôi cũng không thể về với vua, hoặc ăn bánh hay là uống nước tại nơi nầy,

9 vì Đức Giê-hô-va đã phán dặn tôi rằng: ‘Con chớ ăn bánh hoặc uống nước, cũng chớ theo con đường con đã đi mà trở về.’”

10 Vậy, người ấy đi đường khác, không trở lại con đường đã dẫn mình đến Bê-tên.

11 Lúc ấy, có một vị tiên tri già ở Bê-tên. Một trong các con trai của ông thuật cho ông mọi việc mà người của Đức Chúa Trời đã làm tại Bê-tên trong ngày đó, và các lời người ấy đã nói với vua.

12 Nghe xong, người cha hỏi: “Người ấy đi đường nào?” Các con trai của ông chỉ con đường mà người của Đức Chúa Trời ở Giu-đa đã đi về.

13 Ông bảo các con trai mình: “Hãy thắng yên lừa cho cha.” Họ thắng yên lừa, rồi ông cưỡi lên và

14 đuổi theo người của Đức Chúa Trời, gặp người ấy đang ngồi dưới gốc cây thông. Ông hỏi: “Có phải anh là người của Đức Chúa Trời ở Giu-đa đến không?” Người ấy đáp: “Phải, chính tôi đây.”

15 Ông nói với người ấy: “Mời anh về nhà dùng bữa với tôi.”

16 Nhưng người ấy đáp: “Tôi không thể trở về với ông, cũng không thể vào nhà ông, hoặc ăn bánh hay là uống nước với ông nơi nầy,

17 vì Đức Giê-hô-va đã phán dặn tôi rằng: ‘Con chớ ăn bánh, chớ uống nước tại đó, và cũng đừng trở lại con đường mà con đã đi.’”

18 Vị tiên tri già lại nói tiếp: “Tôi cũng là nhà tiên tri như anh. Một thiên sứ đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng: ‘Hãy dẫn người ấy về nhà với con để người ăn bánh và uống nước.’” Nhưng thật ra vị tiên tri già nầy đã nói dối.

19 Người của Đức Chúa Trời quay trở lại với vị tiên tri già, và ăn uống tại nhà ông ấy.

20 Khi hai người đang ngồi ăn, có lời của Đức Giê-hô-va phán với vị tiên tri đã đem người kia trở lại.

21 Ông liền nói lớn với người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì con đã bất chấp lời của Đức Giê-hô-va, không tuân giữ mệnh lệnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền cho con,

22 nhưng đã trở lại ăn bánh uống nước tại nơi mà Đức Chúa Trời đã nghiêm cấm, nên xác của con sẽ không được chôn trong mồ mả của tổ phụ con.’”

23 Sau khi ăn uống xong, vị tiên tri già thắng yên lừa cho nhà tiên tri mà mình đã dẫn về.

24 Người nầy ra đi, dọc đường gặp một con sư tử và bị nó giết chết. Xác người ấy nằm sải trên đường, có con lừa đứng một bên, còn sư tử cũng đứng gần bên xác chết.

25 Có người đi ngang qua đó, thấy xác chết trên đường và sư tử đứng kế bên thì vào thành của vị tiên tri già ở, thuật lại điều mình đã thấy.

26 Khi vị tiên tri già, người đã khiến người của Đức Chúa Trời quay trở lại, nghe điều ấy thì nói rằng: “Ấy là người của Đức Chúa Trời đã bất chấp lời của Đức Giê-hô-va. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phó người ấy cho sư tử xé xác và giết chết, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.”

27 Rồi ông bảo các con trai mình: “Hãy thắng yên lừa cho cha.” Họ thắng yên lừa.

28 Ông đi và gặp xác chết trên đường, có con lừa và sư tử đứng bên cạnh xác chết. Sư tử không ăn xác chết và cũng không cắn xé con lừa.

29 Vị tiên tri già đem xác của người Đức Chúa Trời đặt lên lưng lừa, đưa về thành mình để than khóc và chôn cất.

30 Ông chôn xác người ấy trong mộ mình, rồi than khóc: “Ôi! Người anh em của tôi ôi!”

31 Chôn cất xong, ông nói với các con trai mình rằng: “Khi cha chết, các con hãy chôn cha vào mộ đã chôn người của Đức Chúa Trời, để hài cốt cha ở bên hài cốt người ấy.

32 Vì những lời người ấy vâng lệnh Đức Giê-hô-va quở trách bàn thờ tại Bê-tên và các đền miếu trên những nơi cao ở trong các thành Sa-ma-ri hẳn sẽ được ứng nghiệm.”

33 Sau việc ấy, Giê-rô-bô-am vẫn không từ bỏ đường lối gian ác của mình, nhưng vua cứ lập những người trong số thường dân làm thầy tế lễ cho các nơi cao; bất cứ ai tình nguyện thì được vua phong làm thầy tế lễ tại các nơi cao ấy.

34 Điều nầy đã trở thành một trọng tội của nhà Giê-rô-bô-am, đến nỗi triều đại của vua bị sụp đổ và bị tiêu diệt khỏi mặt đất.

14

1 Lúc ấy, A-bi-gia, con của Giê-rô-bô-am, lâm bệnh.

2 Giê-rô-bô-am nói với vợ: “Nầy, bà hãy cải trang để người ta không biết bà là vợ tôi, rồi lên đường đến Si-lô. Tại đó có nhà tiên tri A-hi-gia, người đã báo trước cho tôi về việc tôi sẽ làm vua của dân nầy.

3 Bà hãy đem theo mười ổ bánh, một ít bánh ngọt và một bình mật ong mà đến gặp nhà tiên tri. Ông ấy sẽ nói cho bà điều sẽ xảy đến cho đứa trẻ.”

4 Vợ Giê-rô-bô-am làm đúng như vậy. Bà lên đường đi Si-lô, và đến nhà A-hi-gia. Lúc ấy, A-hi-gia không thấy được, mắt ông đã mờ vì tuổi già.

5 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Kìa, vợ của Giê-rô-bô-am đến hỏi con về con trai bà ấy đang lâm bệnh. Con sẽ trả lời thế nầy, thế nầy. Khi đến, bà ấy sẽ giả dạng một người khác.”

6 Khi A-hi-gia nghe tiếng chân bà bước qua ngưỡng cửa thì nói: “Vợ vua Giê-rô-bô-am đó à, mời bà vào. Tại sao bà lại giả làm người khác? Tôi được lệnh báo cho bà một tin dữ. Hãy về nói với Giê-rô-bô-am rằng

7 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: ‘Ta đã cất nhắc ngươi từ một thường dân lên làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên là dân Ta.

8 Ta đã tước đoạt vương quốc khỏi nhà Đa-vít mà trao cho ngươi. Nhưng ngươi không giống như Đa-vít, đầy tớ Ta, là người tuân giữ các điều răn của Ta, hết lòng theo Ta và chỉ làm điều thiện trước mặt Ta.

9 Còn ngươi, trái lại, đã làm điều ác hơn các tiền bối ngươi, lập cho mình những thần khác, đúc tượng để chọc giận Ta và chối bỏ Ta.

10 Vì thế, Ta sẽ giáng tai họa trên nhà Giê-rô-bô-am: Ta sẽ tiêu diệt mọi người nam khỏi nhà ấy, dù nô lệ hay tự do trong Y-sơ-ra-ên, và quét sạch nhà Giê-rô-bô-am như người ta quét phân cho đến khi chẳng còn sót lại gì cả.

11 Người nào thuộc về Giê-rô-bô-am chết trong thành sẽ bị chó ăn thịt, còn người nào chết ngoài đồng thì sẽ bị chim trời ăn.’ Đó là lời Đức Giê-hô-va đã phán.

12 Thế thì, bà nên trở về nhà đi. Ngay khi bà đặt chân vào thành thì con bà sẽ chết.

13 Toàn thể Y-sơ-ra-ên sẽ than khóc và chôn cất nó. Trong số những người thuộc Giê-rô-bô-am, chỉ một mình nó được chôn nơi mồ mả, vì trong cả nhà Giê-rô-bô-am nó là người còn có một chút gì đẹp lòng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

14 Đức Giê-hô-va sẽ cất nhắc một người lên làm vua Y-sơ-ra-ên, vua nầy sẽ tiêu diệt nhà Giê-rô-bô-am ngay hôm nay. Vâng, ngay bây giờ!

15 Đức Giê-hô-va sẽ hành hại Y-sơ-ra-ên như một cây sậy bị lắc lư trong nước, truất Y-sơ-ra-ên khỏi xứ tốt đẹp mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ, và làm tản lạc họ phía bên kia sông Ơ-phơ-rát, vì họ đã lấy hình tượng chọc giận Đức Giê-hô-va.

16 Vì tội Giê-rô-bô-am đã phạm, tức là tội khiến cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên Đức Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên vào tay kẻ thù.”

17 Vợ của Giê-rô-bô-am đứng dậy ra về và đến Tiệt-sa. Bà vừa đặt chân trên ngưỡng cửa thì đứa trẻ chết.

18 Người ta chôn nó; toàn thể Y-sơ-ra-ên đều than khóc nó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua đầy tớ Ngài, là nhà tiên tri A-hi-gia.

19 Mọi công việc khác của Giê-rô-bô-am, tức là các cuộc chiến tranh, và cách cai trị của vua đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

20 Giê-rô-bô-am trị vì hai mươi hai năm rồi an giấc cùng các tổ phụ mình. Con trai của vua là Na-đáp lên ngôi kế vị.

21 Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, cai trị Giu-đa. Khi lên ngôi, vua đã được bốn mươi mốt tuổi. Vua trị vì mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, thành Đức Giê-hô-va đã chọn trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ vua tên là Na-a-ma, người Am-môn.

22 Dân Giu-đa làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va. Vì các tội đã phạm, họ chọc giận Đức Giê-hô-va hơn các tổ phụ mình đã làm.

23 Họ cũng xây cất cho mình những nơi cao, trụ thờ và tượng A-sê-ra trên các đồi cao và dưới những tàn cây rậm rạp.

24 Trong xứ cũng có mại dâm nam phục vụ trong các đền miếu. Chúng làm theo những điều ghê tởm của các dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.

25 Vào năm thứ năm của triều đại Rô-bô-am, vua Ai Cập là Si-sắc tiến đánh Giê-ru-sa-lem.

26 Si-sắc đoạt lấy các châu báu của đền thờ Đức Giê-hô-va và hoàng cung, cũng đoạt lấy tất cả những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.

27 Vua Rô-bô-am truyền làm những khiên bằng đồng để thay thế các khiên ấy và giao cho các quan chỉ huy vệ binh của hoàng cung.

28 Mỗi khi vua vào đền thờ Đức Giê-hô-va, vệ binh mang các khiên ấy. Sau đó, họ đem cất chúng vào phòng vệ binh.

29 Các công việc khác của Rô-bô-am và mọi việc vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa.

30 Chiến tranh xảy ra liên tục giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am.

31 Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng với họ trong thành Đa-vít. Mẹ vua tên là Na-a-ma, người Am-môn. Con của vua là A-bi-giam, lên ngôi kế vị.

15

1 Vào năm thứ mười tám đời vua Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, thì A-bi-giam lên làm vua Giu-đa.

2 A-bi-giam trị vì ba năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm.

3 Vua đi theo con đường tội lỗi mà vua cha đã đi. Lòng vua không trọn thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời như Đa-vít, tổ phụ mình.

4 Nhưng vì Đa-vít, Giê-hô-va Đức Chúa Trời dành cho vua một người nối ngôi tại Giê-ru-sa-lem, nên lập con trai vua lên kế vị và khiến cho Giê-ru-sa-lem tồn tại.

5 Vì Đa-vít đã làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, trọn đời không bỏ qua bất cứ điều gì Đức Giê-hô-va đã truyền bảo, ngoại trừ vụ U-ri, người Hê-tít.

6 Cuộc chiến giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am vẫn tiếp diễn suốt triều đại A-bi-giam.

7 Các công việc khác của A-bi-giam, mọi việc vua làm, chẳng phải đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao? A-bi-giam và Giê-rô-bô-am luôn có chiến tranh với nhau.

8 A-bi-giam an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít. Con trai vua là A-sa, lên ngôi kế vị.

9 Vào năm thứ hai mươi, đời Giê-rô-bô-am làm vua Y-sơ-ra-ên thì A-sa lên ngôi vua Giu-đa.

10 Vua cai trị bốn mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Bà nội của vua tên là Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm.

11 A-sa làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va như Đa-vít, tổ phụ mình, đã làm.

12 Vua trục xuất các mại dâm nam khỏi xứ và dẹp tất cả hình tượng mà tổ phụ vua đã làm.

13 Vua cũng cách chức thái hậu của Ma-a-ca, bà nội mình, vì bà đã dựng tượng A-sê-ra. A-sa triệt hạ hình tượng đó và đốt trong thung lũng Xết-rôn.

14 Nhưng vua không phá bỏ các nơi cao. Dù vậy, lòng A-sa vẫn trọn thành với Đức Giê-hô-va suốt đời.

15 Vua đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va những vật thánh mà vua cha và chính vua đã biệt riêng ra thánh, hoặc vàng, bạc, hay là các vật dụng.

16 Vua Giu-đa là A-sa và vua Y-sơ-ra-ên là Ba-ê-sa giao chiến suốt thời gian trị vì của mình.

17 Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, lên đánh Giu-đa, xây đồn lũy Ra-ma để không cho ai ra vào lãnh thổ của A-sa, vua Giu-đa.

18 Khi ấy, A-sa lấy hết bạc vàng còn lại trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong kho của cung vua giao cho đầy tớ mình, rồi sai họ đến gặp Bên Ha-đát, con trai Táp-ri-môn, cháu Hê-xi-ôn, vua A-ram ở Đa-mách mà nói rằng:

19 “Chúng ta hãy lập một hiệp ước với nhau, như cha của ngài và cha tôi đã làm. Nay tôi cho đem lễ vật bằng bạc và vàng để tặng ngài. Xin ngài hủy bỏ hiệp ước của ngài với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để hắn rút lui khỏi xứ tôi.”

20 Bên Ha-đát nghe lời vua A-sa, sai các quan tướng mình hãm đánh những thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn, Đan, A-bên Bết Ma-ca, và cả xứ Ki-nê-rết với xứ Nép-ta-li.

21 Ba-ê-sa hay được điều đó liền ngưng xây đồn Ra-ma và ở tại Tiệt-sa.

22 Vua A-sa liền tập hợp tất cả người Giu-đa, không trừ một ai để họ dời đá và gỗ mà Ba-ê-sa đã dùng xây đồn Ra-ma. Vua A-sa dùng các thứ ấy xây cất Ghê-ba trong xứ Bên-gia-min và Mích-pa.

23 Các công việc khác của A-sa, quyền thế của vua, mọi việc vua làm, và các thành vua xây cất, chẳng phải đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao? Lúc về già, vua bị đau chân.

24 A-sa an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng với họ trong thành Đa-vít. Con trai của vua là Giô-sa-phát lên ngôi kế vị.

25 Vào năm thứ hai đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì Na-đáp, con trai Giê-rô-bô-am, lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên và trị vì trên Y-sơ-ra-ên hai năm.

26 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của tổ phụ mình, phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm và khiến cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội nữa.

27 Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia, thuộc nhà Y-sa-ca, mưu phản vua. Trong lúc Na-đáp và cả Y-sơ-ra-ên vây Ghi-bê-thôn, vốn thuộc về dân Phi-li-tin, thì Ba-ê-sa giết vua tại đó.

28 Vào năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ba-ê-sa giết Na-đáp và chiếm ngôi vua.

29 Vừa lên ngôi, Ba-ê-sa giết hết mọi người thuộc về Giê-rô-bô-am, không để một ai sống sót cho đến khi đã tận diệt nhà Giê-rô-bô-am, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua A-hi-gia, đầy tớ Ngài ở Si-lô;

30 vì tội lỗi Giê-rô-bô-am đã phạm, làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội và chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

31 Các việc khác của Na-đáp và những gì vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

32 Giữa A-sa và Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, luôn có chiến tranh với nhau suốt thời gian trị vì của họ.

33 Vào năm thứ ba triều vua A-sa của Giu-đa thì Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia, lên làm vua toàn cõi Y-sơ-ra-ên và trị vì hai mươi bốn năm tại Tiệt-sa.

34 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am và tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm, làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội.

16

1 Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va quở trách Ba-ê-sa, qua Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, rằng:

2 “Ta đã cất nhắc ngươi lên khỏi bụi đất và lập ngươi làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên, dân Ta. Nhưng ngươi đã đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, xui cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội và vì tội đó, chúng chọc giận Ta.

3 Vì thế, Ta sẽ quét sạch Ba-ê-sa và nhà nó, làm cho nhà nó giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát vậy.

4 Bất cứ ai thuộc về Ba-ê-sa chết trong thành sẽ bị chó ăn, còn người nào chết ngoài đồng sẽ bị chim trời ăn.”

5 Các công việc khác của Ba-ê-sa, những việc vua đã làm, và quyền thế của vua đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

6 Ba-ê-sa an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng tại Tiệt-sa. Con trai của vua là Ê-la lên ngôi kế vị.

7 Như vậy, Đức Giê-hô-va dùng nhà tiên tri Giê-hu, con trai Ha-na-ni, quở trách Ba-ê-sa và nhà người vì các tội ác của vua đã làm trước mặt Đức Giê-hô-va, lấy công việc của tay mình mà chọc giận Ngài giống như nhà Giê-rô-bô-am, dù chính vua đã hủy diệt nhà ấy.

8 Vào năm thứ hai mươi sáu đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì Ê-la, con trai Ba-ê-sa, làm vua Y-sơ-ra-ên tại Tiệt-sa, và trị vì hai năm.

9 Nhưng Xim-ri, cận thần của Ê-la, là chỉ huy trưởng phân nửa số chiến xa, đã âm mưu chống lại vua. Nhân lúc Ê-la uống rượu say trong nhà Ạt-sa, quản đốc hoàng cung tại thành Tiệt-sa,

10 thì Xim-ri vào giết Ê-la và chiếm ngôi vua; đó là năm hai mươi bảy đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa.

11 Vừa lên ngôi vua, Xim-ri giết hết cả nhà Ba-ê-sa, chẳng để lại một người nam nào hết, dù là bà con hay bằng hữu.

12 Xim-ri đã tận diệt cả nhà Ba-ê-sa, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã dùng nhà tiên tri Giê-hu quở trách Ba-ê-sa,

13 vì các tội lỗi mà Ba-ê-sa và Ê-la con vua đã phạm, tức là việc gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, và vì sự thờ lạy hình tượng hư không của chúng chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

14 Các việc khác của Ê-la và mọi việc vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

15 Vào năm thứ hai mươi bảy đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì Xim-ri lên ngôi, làm vua bảy ngày tại Tiệt-sa. Bấy giờ, quân Y-sơ-ra-ên đang vây Ghi-bê-thôn, một thành vốn thuộc về dân Phi-li-tin.

16 Khi quân lính hay tin rằng Xim-ri đã phản loạn và giết vua thì cũng trong ngày đó, toàn thể Y-sơ-ra-ên lập Ôm-ri, là tư lệnh quân đội đang ở trong doanh trại, lên làm vua Y-sơ-ra-ên.

17 Ôm-ri và toàn thể Y-sơ-ra-ên từ Ghi-bê-thôn đi lên vây Tiệt-sa.

18 Khi Xim-ri thấy thành đã bị vây hãm thì vào pháo đài của hoàng cung, phóng hỏa hoàng cung và tự thiêu trong đó.

19 Đó là vì những tội lỗi Xim-ri đã phạm, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, và phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm, tức là việc gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.

20 Các việc khác của Xim-ri và việc phản loạn của ông đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

21 Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên chia làm hai phe: Phe nầy theo Típ-ni, con trai Ghi-nát, và muốn lập ông làm vua; phe kia theo Ôm-ri.

22 Nhưng phe theo Ôm-ri thắng thế hơn phe theo Típ-ni, con trai Ghi-nát. Vậy, Típ-ni chết và Ôm-ri cai trị.

23 Vào năm thứ ba mươi mốt đời A-sa, vua Giu-đa, Ôm-ri làm vua Y-sơ-ra-ên và trị vì mười hai năm; vua cai trị sáu năm tại Tiệt-sa.

24 Vua mua ngọn đồi Sa-ma-ri của Sê-me với giá sáu mươi ký bạc. Trên đồi ấy, vua xây một thành, đặt tên là Sa-ma-ri, theo tên của chủ ngọn đồi là Sê-me.

25 Ôm-ri làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, và còn làm điều ác hơn các vua trước mình.

26 Trong mọi sự, vua đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm, tức là việc gây cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, và lấy sự thờ lạy hình tượng hư không mà chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

27 Các việc khác của Ôm-ri, những việc vua đã làm, và quyền thế của vua, đều được ghi trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

28 Ôm-ri an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng tại Sa-ma-ri. Con trai vua là A-háp lên ngôi kế vị.

29 Vào năm thứ ba mươi tám đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì A-háp, con trai Ôm-ri, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên. Vua cai trị Y-sơ-ra-ên hai mươi hai năm tại Sa-ma-ri.

30 A-háp, con trai Ôm-ri, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va hơn tất cả các vua trước mình.

31 Vua cho việc bắt chước theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là việc nhỏ, nên đã cưới con gái Ết-ba-anh, vua dân Si-đôn, là Giê-sa-bên làm vợ. Vua cũng phục vụ và thờ lạy Ba-anh.

32 Vua lập một bàn thờ cho Ba-anh trong đền miếu của Ba-anh mà vua đã cất tại Sa-ma-ri.

33 A-háp cũng dựng một hình tượng A-sê-ra. Vậy, A-háp làm nhiều điều ác, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hơn các vua Y-sơ-ra-ên trước mình.

34 Trong đời A-háp, Hi-ên ở Bê-tên xây lại thành Giê-ri-cô. Khi ông đặt nền thì mất A-bi-ram, con trưởng nam mình; lúc dựng các cửa thì mất Sê-gúp, con út mình, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua Giô-suê, con trai của Nun.

17

1 Ê-li, người Thi-sê-be, là một trong những người cư ngụ tại Ga-la-át, nói với A-háp rằng: “Ta đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên mà thề rằng: Những năm sắp tới đây, nếu không có lời của ta thì sẽ không có sương, cũng chẳng có mưa.”

2 Rồi có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li:

3 “Hãy rời khỏi nơi nầy, qua hướng đông và ẩn mình bên khe Kê-rít, phía đông sông Giô-đanh.

4 Con sẽ uống nước khe, và Ta đã truyền cho chim quạ nuôi con tại đó.”

5 Ê-li ra đi và làm theo lời Đức Giê-hô-va. Ông đến ở bên khe Kê-rít, phía đông sông Giô-đanh.

6 Mỗi buổi sáng và buổi chiều, chim quạ đem bánh và thịt cho ông, và ông uống nước khe.

7 Nhưng sau đó ít lâu thì khe cạn khô, vì trong xứ không có mưa.

8 Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li:

9 “Hãy mau đi đến Sa-rép-ta là thành thuộc về Si-đôn, và ở lại đó. Kìa, Ta đã truyền cho một bà góa ở thành ấy cung cấp thức ăn cho con.”

10 Vậy, ông lên đường đến Sa-rép-ta. Khi đến cửa thành, ông thấy một bà góa lượm củi thì gọi bà và nói: “Xin bà đem cho tôi một chút nước trong bình để tôi uống.”

11 Bà ấy đi múc nước. Nhưng ông gọi lại và nói với bà: “Xin bà cũng đem cho tôi một miếng bánh nữa.”

12 Bà góa đáp: “Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, tôi không có bánh, chỉ còn một nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình. Nầy, tôi lượm hai khúc củi, rồi nấu cho tôi và con trai tôi; khi ăn xong, chúng tôi sẽ chết.”

13 Nhưng Ê-li nói: “Đừng sợ, hãy trở về làm đúng như bà đã nói. Nhưng trước hết, hãy lấy bột ấy làm một cái bánh nhỏ rồi đem cho tôi. Sau đó, hãy làm cho bà và con trai bà.

14 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Bột sẽ không hết trong vò, và dầu sẽ không thiếu trong bình, cho đến ngày Đức Giê-hô-va ban mưa xuống đất.’”

15 Bà ấy đi và làm như lời Ê-li đã nói. Bà cùng với Ê-li và con bà có đủ ăn lâu ngày.

16 Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong bình, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua Ê-li.

17 Ít lâu sau, con trai của người đàn bà, tức là chủ nhà, ngã bệnh. Bệnh tình rất nặng đến nỗi nó tắt thở.

18 Người đàn bà nói với Ê-li: “Thưa ông là người của Đức Chúa Trời, tôi có làm gì phiền đến ông không? Có phải ông đến nhà tôi để nhắc lại những tội lỗi tôi và khiến cho con tôi chết không?”

19 Ê-li nói với bà: “Hãy giao con bà cho tôi.” Ông bồng đứa trẻ từ tay mẹ nó, đem lên phòng cao chỗ ông ở, và để nó nằm trên giường mình.

20 Rồi ông kêu cầu với Đức Giê-hô-va rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Sao Ngài giáng tai họa trên người đàn bà góa nầy là chủ nhà nơi con trú ngụ, để cho con trai bà ấy phải chết?”

21 Ông nằm ấp trên mình đứa trẻ ba lần và kêu cầu với Đức Giê-hô-va rằng: “Ôi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin Chúa khiến sinh khí của đứa trẻ nầy trở lại với nó.”

22 Đức Giê-hô-va nhậm lời của Ê-li, sinh khí của đứa trẻ trở về với nó và nó sống lại.

23 Ê-li bồng đứa trẻ từ phòng cao xuống nhà dưới, giao cho mẹ nó và nói: “Hãy xem, con bà đã sống!”

24 Bà nói với Ê-li: “Bây giờ tôi nhìn biết ông là người của Đức Chúa Trời, và lời phán của Đức Giê-hô-va qua miệng ông là chân thật.”

18

1 Sau một thời gian dài, có lời Đức Giê-hô-va phán với Ê-li vào năm hạn hán thứ ba rằng: “Hãy đi gặp A-háp, Ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.”

2 Ê-li đi gặp A-háp. Bấy giờ, tại Sa-ma-ri có nạn đói trầm trọng.

3 A-háp sai gọi Áp-đia, là quản đốc hoàng cung. (Áp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va.

4 Khi Giê-sa-bên giết các nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va thì Áp-đia có đem một trăm nhà tiên tri giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, lấy bánh và nước mà nuôi họ.)

5 A-háp nói với Áp-đia rằng: “Hãy đi khắp xứ, xem tất cả các suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ để cứu sống ngựa và la; nếu không, các súc vật của ta sẽ chết hết?”

6 Hai người chia nhau đi tuần khắp xứ. A-háp đích thân đi hướng nầy, còn Áp-đia thì đi hướng kia.

7 Áp-đia đang đi trên đường thì gặp Ê-li ra đón mình. Áp-đia nhận ra Ê-li, sấp mình xuống trước mặt ông và hỏi: “Thưa có phải ông đây là Ê-li, chúa tôi, không?”

8 Ông đáp: “Phải, chính ta. Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: ‘Ê-li đang ở đây.’”

9 Áp-đia nói: “Tôi phạm tội gì mà ông lại phó đầy tớ ông vào tay A-háp để ông ấy giết tôi?

10 Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông. Và khi người ta đáp rằng: ‘Ê-li không có đây,’ thì vua bắt nước ấy và dân ấy phải thề là không gặp ông.

11 Thế mà bây giờ ông lại bảo đầy tớ ông đi nói với vua rằng: ‘Ê-li đang ở đây.’

12 Rồi khi tôi rời khỏi ông, thần của Đức Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết. Vậy, nếu tôi thuật lại cùng A-háp mà vua không thấy ông thì hẳn sẽ giết tôi đi. Đầy tớ ông vốn kính sợ Đức Giê-hô-va từ khi còn thơ ấu.

13 Khi Giê-sa-bên giết các nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va thì tôi đã giấu một trăm nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, đem bánh và nước mà nuôi họ. Người ta không nói điều đó cho chúa tôi biết sao?

14 Vậy mà bây giờ ông bảo tôi đi nói với vua rằng: ‘Ê-li đang ở đây,’ ông ấy hẳn sẽ giết tôi.”

15 Ê-li đáp: “Ta chỉ Đức Giê-hô-va vạn quân hằng sống, là Đấng ta phụng sự, mà thề rằng: Chính hôm nay ta sẽ đi gặp A-háp.”

16 Vậy, Áp-đia đi đón A-háp và báo cho vua biết. A-háp liền đi đón Ê-li.

17 Vừa thấy Ê-li, A-háp nói: “Có phải ông là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?”

18 Ê-li đáp: “Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu, nhưng chính là vua và nhà cha của vua. Vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va mà theo thần Ba-anh.

19 Vậy bây giờ, vua hãy sai người đi triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên lại bên tôi trên núi Cạt-mên, cùng với bốn trăm năm mươi tiên tri Ba-anh, và bốn trăm tiên tri A-sê-ra, là những người ăn tại bàn Giê-sa-bên.”

20 Vua A-háp sai người đi triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên và các tiên tri ấy đến núi Cạt-mên.

21 Ê-li đến trước dân chúng và nói: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến bao giờ? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; còn nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, thì cứ theo hắn.” Nhưng dân chúng không đáp một lời.

22 Bấy giờ, Ê-li nói với dân chúng: “Trong số những nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va chỉ còn lại một mình ta, còn các tiên tri Ba-anh có đến bốn trăm năm mươi người.

23 Hãy đem đến đây hai con bò đực; chúng phải chọn một con cho mình, xả ra từng miếng, chất trên củi, nhưng đừng châm lửa. Còn ta, ta sẽ làm thịt con bò kia, đặt nó trên củi, cũng không châm lửa.

24 Sau đó, hãy kêu cầu danh của thần các ngươi đi! Còn ta, ta sẽ kêu cầu danh Đức Giê-hô-va. Thần nào đáp lời bằng lửa, chính là Đức Chúa Trời.” Toàn dân đều nói: “Lời ấy rất phải.”

25 Ê-li nói với các tiên tri Ba-anh: “Hãy chọn một con bò đực và làm thịt nó trước đi, vì các ngươi đông. Rồi hãy kêu cầu danh của thần các ngươi, nhưng đừng châm lửa.”

26 Chúng bắt con bò mà người ta đã đưa cho và làm thịt. Rồi từ sáng sớm đến trưa, chúng kêu cầu danh của Ba-anh rằng: “Hỡi Ba-anh! Xin đáp lời chúng tôi.” Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời. Chúng nhảy múa chung quanh bàn thờ mình đã dựng lên.

27 Đến trưa, Ê-li chế nhạo chúng rằng: “Hãy la lớn lên đi, vì Ba-anh là thần mà! Có lẽ thần còn đang ngẫm nghĩ, hoặc bận đi ngoài, hoặc đang đi đường, hoặc đang ngủ và cần phải đánh thức chăng!”

28 Chúng càng kêu lớn tiếng hơn và lấy gươm giáo rạch mình đến chảy máu theo thói tục của chúng.

29 Khi đã quá trưa, chúng vẫn cứ nói lảm nhảm như thế cho đến giờ dâng tế lễ chay buổi chiều. Nhưng vẫn không có tiếng nói, không một ai đáp lời, cũng không có thần nào quan tâm đến.

30 Bấy giờ, Ê-li nói với dân chúng: “Hãy đến gần ta.” Dân chúng đến gần ông. Rồi Ê-li sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va đã bị phá hủy.

31 Ông lấy mười hai hòn đá theo số mười hai bộ tộc của các con trai Gia-cốp, là người mà Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Y-sơ-ra-ên sẽ là tên con.”

32 Ông dùng mười hai hòn đá ấy dựng lên một bàn thờ nhân danh Đức Giê-hô-va. Chung quanh bàn thờ, ông cho đào một cái mương chứa khoảng mười lăm lít hạt giống.

33 Rồi ông chất củi, chặt con bò ra từng miếng và sắp lên trên củi. Ông nói:

34 “Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên tế lễ thiêu và củi.” Ông lại nói: “Hãy làm lần thứ nhì,” thì họ làm lần thứ nhì. Ông nói tiếp: “Hãy làm lần thứ ba,” và họ làm lần thứ ba.

35 Nước chảy tràn chung quanh bàn thờ đến nỗi đầy cả mương.

36 Đến giờ dâng tế lễ chay buổi chiều, nhà tiên tri Ê-li đến gần và cầu nguyện rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác, và Y-sơ-ra-ên. Hôm nay xin cho mọi người biết rằng trong Y-sơ-ra-ên Ngài là Đức Chúa Trời, con là đầy tớ của Ngài, và con vâng lời Ngài mà làm mọi điều nầy.

37 Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời con, xin đáp lời con, để dân nầy biết rằng chính Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ quay trở lại.”

38 Lửa của Đức Giê-hô-va giáng xuống, thiêu đốt tế lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.

39 Thấy vậy, tất cả dân chúng sấp mình xuống đất và tung hô: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!”

40 Ê-li nói với dân chúng: “Hãy bắt bọn tiên tri Ba-anh, đừng để một tên nào trốn thoát.” Họ liền bắt chúng. Ê-li đem chúng xuống khe Ki-sôn và giết chúng tại đó.

41 Ê-li nói với A-háp: “Xin vua đi lên và ăn uống, vì tôi có nghe tiếng mưa lớn.”

42 Vua A-háp đi lên ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên đỉnh núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt mình giữa hai đầu gối.

43 Rồi ông bảo đầy tớ mình: “Hãy đi lên, nhìn về hướng biển.” Người đầy tớ đi lên nhìn, rồi nói: “Không có gì cả.” Ê-li lại nói: “Hãy trở lên bảy lần.”

44 Đến lần thứ bảy, người đầy tớ đáp: “Kìa, từ phía biển có một cụm mây nhỏ bằng bàn tay nổi lên.” Ê-li nói tiếp: “Hãy đi nói với vua A-háp rằng: ‘Xin vua thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm chân vua lại chăng.’”

45 Trong chốc lát, bầu trời bị mây che đen kịt, gió nổi dậy, và có cơn mưa rất to. A-háp liền lên xe chạy đến Gít-rê-ên.

46 Tay Đức Giê-hô-va đặt trên Ê-li; ông thắt lưng và chạy trước A-háp cho đến khi vào thành Gít-rê-ên.

19

1 A-háp thuật cho Giê-sa-bên mọi việc Ê-li đã làm, kể cả việc ông dùng gươm giết tất cả tiên tri Ba-anh.

2 Giê-sa-bên sai một sứ giả đến gặp Ê-li và nói: “Nếu vào giờ nầy ngày mai, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của một trong những tiên tri mà ngươi đã giết, nguyện các thần phạt ta cách nặng nề.”

3 Ê-li sợ hãi và đứng dậy chạy trốn để cứu mạng sống mình. Đến Bê-e Sê-ba thuộc Giu-đa, ông để đầy tớ mình ở lại đó.

4 Còn ông thì đi một ngày đường nữa vào trong hoang mạc. Ông đến ngồi dưới một cây giếng giêng và cầu xin được chết: “Ôi Đức Giê-hô-va! Đã đủ rồi. Xin cất mạng sống con đi, vì con không hơn gì các tổ phụ con.”

5 Rồi ông nằm ngủ dưới cây giếng giêng. Có một thiên sứ chạm vào ông và bảo: “Hãy dậy mà ăn.”

6 Ông nhìn thấy phía trên đầu mình một cái bánh nhỏ nướng trên than, và một bình nước. Ăn uống xong, ông lại nằm xuống.

7 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, chạm vào ông và nói: “Hãy dậy mà ăn thêm đi, vì đường còn xa lắm cho con.” Ông thức dậy và ăn uống,

8 rồi nhờ lương thực ấy, ông có sức để đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm đến Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời.

9 Đến nơi, ông vào trong hang đá và ngủ đêm ở đó. Có lời của Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hỡi Ê-li, con đang làm gì ở đây?”

10 Ông thưa rằng: “Con rất nhiệt thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã loại bỏ giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài; chỉ một mình con còn lại, và họ cũng đang truy tìm để lấy mạng sống con.”

11 Đức Chúa Trời phán với ông: “Hãy đi ra, đứng trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va.” Kìa, Đức Giê-hô-va đang đi ngang qua; có một ngọn gió thổi rất mạnh, xé núi ra và làm vỡ các tảng đá trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong ngọn gió ấy. Sau ngọn gió, có trận động đất, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận động đất ấy.

12 Sau trận động đất, có đám lửa, nhưng cũng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa ấy. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.

13 Vừa nghe tiếng ấy, Ê-li lấy áo choàng phủ kín mặt mình, ra đứng nơi miệng hang. Bấy giờ, có tiếng hỏi ông: “Hỡi Ê-li, con đang làm gì ở đây?”

14 Ông thưa: “Con rất nhiệt thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã loại bỏ giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài; chỉ một mình con còn lại, và họ cũng đang truy tìm để lấy mạng sống con.”

15 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy theo con đường hoang mạc đi đến Đa-mách. Khi đến nơi, con sẽ xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua A-ram;

16 con cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của Nim-si, làm vua Y-sơ-ra-ên; và con sẽ xức dầu cho Ê-li-sê, con trai Sa-phát, ở A-bên Mê-hô-la, làm nhà tiên tri thế cho con.

17 Ai thoát khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết, ai thoát khỏi gươm của Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết.

18 Nhưng trong Y-sơ-ra-ên, Ta đã để dành cho Ta bảy nghìn người chẳng hề quỳ gối trước thần Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó.”

19 Từ đó, Ê-li ra đi và thấy Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, đang cày ruộng. Có mười hai đôi bò đang kéo cày trước mặt Ê-li-sê, và chính ông cầm đôi thứ mười hai. Ê-li đi ngang qua và ném áo choàng mình trên Ê-li-sê.

20 Ê-li-sê liền bỏ đôi bò lại, chạy theo Ê-li và nói: “Xin cho phép con hôn cha mẹ rồi con sẽ theo ông.” Ê-li đáp: “Hãy đi đi, rồi trở lại, vì ta đã làm gì ngươi đâu.”

21 Rời Ê-li, Ê-li-sê về nhà bắt một đôi bò giết đi, và lấy cày làm củi nấu thịt đãi mọi người. Rồi Ê-li-sê lên đường, đi theo Ê-li và phục vụ ông.

20

1 Vua A-ram là Bên Ha-đát tập hợp toàn quân lại. Vua cùng với ba mươi hai vua khác, có cả ngựa và xe, kéo lên bao vây và tấn công Sa-ma-ri.

2 Vua sai sứ giả đến gặp vua A-háp của Y-sơ-ra-ên ở trong thành, và nói rằng: “Bên Ha-đát nói thế nầy:

3 ‘Bạc và vàng của ngươi thuộc về ta. Vợ đẹp con xinh hơn hết của ngươi cũng thuộc về ta.’”

4 Vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Thưa đức vua là chúa tôi, cứ như lời ngài nói, tôi và mọi vật của tôi đều thuộc về ngài.”

5 Nhưng các sứ giả trở lại cùng vua Y-sơ-ra-ên và nói: “Bên Ha-đát bảo thế nầy: ‘Ta đã sai sứ đến nói với ngươi rằng: “Hãy đưa bạc vàng và vợ con ngươi cho ta.”

6 Ngoài ra, ngày mai vào giờ nầy, ta sẽ sai các đầy tớ ta đến với ngươi, chúng sẽ lục soát cung điện ngươi và nhà của quần thần ngươi. Bất cứ món gì ngươi coi là quý, chúng sẽ lấy và đem đi hết.’”

7 Vua Y-sơ-ra-ên mời tất cả trưởng lão trong nước đến, và nói với họ: “Các ông hãy biết và thấy rõ rằng người nầy đang tìm cách hại chúng ta. Vì người đã sai sứ đòi trẫm phải nộp vợ con, bạc vàng, và trẫm đã không từ chối gì hết.”

8 Các trưởng lão và tất cả dân chúng đều tâu với vua: “Xin bệ hạ đừng nghe, cũng đừng chấp nhận gì cả.”

9 Vậy, A-háp đáp cùng sứ giả của Bên Ha-đát rằng: “Hãy tâu với đức vua là chúa tôi: ‘Mọi điều đức vua đòi hỏi lần trước thì tôi là đầy tớ ngài sẽ làm; nhưng lần nầy thì tôi không thể làm được.’” Các sứ giả về thuật lại lời đó cho Bên Ha-đát.

10 Bên Ha-đát lại sai sứ nói rằng: “Nếu bụi đất ở Sa-ma-ri đủ cho các chiến sĩ ta mỗi người một nắm, nguyện các thần giáng tai họa cho ta cách nặng nề!”

11 Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Hãy nói với vua rằng: ‘Người mặc áo giáp chớ khoe mình như người cởi nó ra.’”

12 Bên Ha-đát đang uống rượu với các vua trong trại, vừa nghe các lời đó, liền ra lệnh cho các đầy tớ mình: “Hãy dàn trận đi!” Chúng liền dàn trận để tấn công thành.

13 Lúc ấy, có một nhà tiên tri đến gặp A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Con thấy đoàn quân rất đông nầy chăng? Kìa, ngày nay Ta sẽ phó chúng vào tay con, và con sẽ biết Ta là Giê-hô-va.’”

14 A-háp hỏi: “Ai sẽ ra trận?” Người ấy đáp: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Những viên chức của các quan đầu tỉnh.’” Vua hỏi tiếp: “Ai sẽ khai chiến?” Nhà tiên tri đáp: “Chính vua!”

15 A-háp duyệt lại số viên chức của các quan đầu tỉnh, có tất cả hai trăm ba mươi hai người. Sau đó, vua điểm lại toàn quân Y-sơ-ra-ên, được bảy nghìn người.

16 Giữa trưa, trong khi Bên Ha-đát uống rượu say trong trại mình cùng với ba mươi hai vua đồng minh, thì người Y-sơ-ra-ên kéo quân ra.

17 Những viên chức trẻ của các quan đầu tỉnh đi ra trước. Bên Ha-đát sai người quan sát. Họ báo lại cho vua: “Có người từ Sa-ma-ri kéo ra.”

18 Vua nói: “Dù chúng đến có ý cầu hòa, hoặc có ý khiêu chiến, cũng hãy bắt sống chúng.”

19 Những viên chức trẻ của các quan đầu tỉnh kéo ra ngoài thành, và đạo quân đi theo.

20 Họ giao chiến với kẻ thù. Quân A-ram tháo chạy, và quân Y-sơ-ra-ên truy đuổi. Bên Ha-đát, vua A-ram, lên ngựa chạy thoát với một vài kỵ binh.

21 Vua Y-sơ-ra-ên kéo ra tấn công ngựa và chiến xa, đánh bại quân A-ram và gây tổn thất nặng nề cho họ.

22 Bấy giờ, nhà tiên tri đến gặp vua Y-sơ-ra-ên và nói: “Vua hãy đi củng cố lực lượng, và xem xét kỹ điều mình phải làm, vì năm tới vua A-ram sẽ trở lại đánh vua.”

23 Các triều thần của vua A-ram nói với người rằng: “Thần của chúng là thần núi, nên chúng mạnh hơn chúng ta. Nhưng nếu giao chiến với chúng dưới đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng chúng nó.

24 Xin bệ hạ làm thế nầy: Thay các vua bằng các tướng chỉ huy,

25 rồi tuyển mộ một đạo quân như đạo quân đã mất, với số ngựa và xe bằng lần trước. Chúng ta sẽ giao chiến với dân Y-sơ-ra-ên trong đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ thắng.” Vua nghe và làm theo lời các triều thần.

26 Đầu năm sau, Bên Ha-đát điểm quân A-ram và kéo đến A-phéc để giao chiến với Y-sơ-ra-ên.

27 Người Y-sơ-ra-ên cũng điểm quân, chuẩn bị lương thực, và ra nghênh chiến. Quân Y-sơ-ra-ên đóng trại đối diện quân A-ram. Họ giống như hai bầy dê nhỏ, còn quân A-ram tràn ngập khắp xứ.

28 Bấy giờ, người của Đức Chúa Trời đến gần vua Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va phán: Vì người A-ram nói rằng: ‘Đức Giê-hô-va là thần núi chứ không phải thần thung lũng,’ nên Ta sẽ phó đoàn quân rất đông đảo nầy vào tay con, và các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va.”

29 Hai bên đóng trại đối diện nhau trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, cuộc chiến bùng nổ. Trong một ngày, dân Y-sơ-ra-ên đánh giết một trăm nghìn bộ binh A-ram.

30 Tàn quân chạy trốn trong thành A-phéc, nhưng các tường thành đổ xuống, đè lên hai mươi bảy nghìn người còn sót lại. Bên Ha-đát cũng chạy trốn vào thành, ẩn trong một phòng kín.

31 Các đầy tớ Bên Ha-đát tâu với vua: “Chúng tôi nghe nói các vua nhà Y-sơ-ra-ên vốn nhân từ. Vì vậy, xin cho chúng tôi lấy vải bố thắt lưng và quấn dây trên đầu, rồi chúng tôi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên; may ra vua ấy để cho bệ hạ sống chăng!”

32 Vậy, họ lấy vải bố thắt lưng và quấn dây trên đầu, rồi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên, và tâu rằng: “Đầy tớ của bệ hạ là Bên Ha-đát cầu xin với bệ hạ rằng: ‘Xin để cho tôi sống.’” A-háp đáp: “Vua ấy còn sống chăng? Người vốn là anh em ta.”

33 Những người đó thấy có điềm lành, vội vàng nhận ngay lời ấy và nói: “Vâng, Bên Ha-đát là anh em của bệ hạ.” A-háp nói tiếp: “Hãy đưa ông ấy đến gặp ta.” Bên Ha-đát đến ra mắt A-háp, vua mời Bên Ha-đát lên xe của mình.

34 Bên Ha-đát nói với A-háp: “Tôi xin trả lại cho ngài các thành mà cha tôi đã chiếm của cha ngài, và ngài có thể thiết lập phố chợ tại Đa-mách, như cha tôi đã làm tại Sa-ma-ri.” A-háp đáp: “Tôi chấp thuận thỏa ước nầy và sẽ để cho ngài ra đi.” Thế rồi A-háp lập thỏa ước với Bên Ha-đát, và để cho vua ấy ra về.

35 Bấy giờ, có một người trong số các nhà tiên tri, vâng lệnh Đức Giê-hô-va, nói với bạn mình: “Xin anh đánh tôi đi!” Nhưng người bạn không chịu đánh.

36 Người ấy nói tiếp: “Vì anh không vâng lời Đức Giê-hô-va nên ngay sau khi anh rời khỏi tôi, sẽ có một con sư tử giết anh.” Khi người bạn vừa rời khỏi nhà tiên tri thì gặp một con sư tử vồ anh ta chết.

37 Nhà tiên tri gặp một người khác, và nói: “Xin anh đánh tôi đi!” Người ấy đánh nhà tiên tri và làm cho ông bị thương.

38 Rồi nhà tiên tri đi và đứng bên đường đợi vua đi qua. Ông lấy vải che mặt để giả dạng.

39 Khi vua đi ngang qua, ông kêu la với vua rằng: “Đầy tớ của bệ hạ đang ở giữa chiến trận thì có người dẫn đến một tù binh, và bảo: ‘Hãy canh giữ người nầy, nếu để nó chạy thoát thì mạng anh phải đền mạng nó, hoặc anh phải đền ba mươi ký bạc.’

40 Nhưng trong khi đầy tớ của bệ hạ đang bận việc nầy việc nọ thì tên tù binh trốn mất.” Vua Y-sơ-ra-ên liền nói với người ấy: “Đó là án phạt của ngươi, chính ngươi đã tuyên án cho mình.”

41 Lập tức người ấy vén tấm vải che mặt mình lên, và vua Y-sơ-ra-ên nhận ra đó là một trong các nhà tiên tri.

42 Nhà tiên tri nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì con đã để thoát khỏi tay mình kẻ mà Ta đã định phải bị tận diệt, nên mạng con phải đền mạng nó và dân con thế cho dân nó.’”

43 Vua Y-sơ-ra-ên trở về cung điện tại Sa-ma-ri, cảm thấy buồn rầu và tức giận.

21

1 Sau các việc ấy, có chuyện nầy xảy ra cho Na-bốt, người Gít-rê-ên. Ông có một vườn nho ở Gít-rê-ên, gần cung điện của A-háp, vua Sa-ma-ri.

2 A-háp nói với Na-bốt: “Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho trẫm để trẫm làm vườn rau, vì nó ở gần cung điện trẫm. Trẫm sẽ đổi cho ngươi một vườn nho tốt hơn; hoặc nếu ngươi muốn, trẫm sẽ trả cho ngươi bằng bạc đúng theo giá của nó.”

3 Nhưng Na-bốt tâu lại với A-háp: “Đức Giê-hô-va không cho phép tôi nhượng cho bệ hạ di sản của tổ phụ tôi!”

4 A-háp trở về cung điện, buồn rầu và tức giận, vì lời Na-bốt người Gít-rê-ên đã nói với vua rằng: “Tôi không nhượng cho bệ hạ di sản của tổ phụ tôi.” A-háp nằm trên giường, quay mặt đi, không chịu ăn uống gì.

5 Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần vua và hỏi: “Sao bệ hạ buồn rầu và không chịu ăn uống như vậy?”

6 Vua đáp: “Vì trẫm có nói chuyện với Na-bốt người Gít-rê-ên, và bảo: ‘Hãy nhượng cho trẫm vườn nho của ngươi mà lấy bạc, hoặc nếu ngươi muốn, trẫm sẽ đổi cho ngươi một vườn nho khác.’ Nhưng nó trả lời rằng: ‘Tôi không nhượng cho bệ hạ vườn nho của tôi được.’”

7 Hoàng hậu Giê-sa-bên nói: “Chẳng phải bệ hạ đang cầm quyền trên Y-sơ-ra-ên sao? Hãy dậy, ăn uống và vui lên. Thiếp sẽ tặng bệ hạ vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên.”

8 Giê-sa-bên nhân danh A-háp viết thư, đóng ấn vua, gửi cho các trưởng lão và quý tộc đang cư ngụ cùng thành với Na-bốt.

9 Trong thư bà viết: “Hãy truyền lễ kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt ở hàng đầu dân chúng.

10 Hãy đặt trước mặt nó hai tên vô lại để chúng tố cáo nó rằng: ‘Ông đã nguyền rủa Đức Chúa Trời và vua,’ rồi đem nó ra ngoài và ném đá cho chết.”

11 Những người trong thành, tức là các trưởng lão và quý tộc ở đó, đều làm theo lời Giê-sa-bên truyền dặn trong thư đã gửi cho họ.

12 Họ công bố lễ kiêng ăn và đặt Na-bốt ở hàng đầu dân chúng.

13 Bấy giờ, hai tên vô lại đến ngồi trước mặt Na-bốt. Hai tên đó cáo gian ông trước mặt dân chúng rằng: “Na-bốt đã nguyền rủa Đức Chúa Trời và vua.” Rồi họ dẫn ông ra ngoài thành và ném đá ông chết.

14 Họ cho người đến nói với Giê-sa-bên rằng: “Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi.”

15 Khi Giê-sa-bên nghe tin Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi, thì nói với A-háp: “Xin bệ hạ đi chiếm vườn nho mà Na-bốt, người Gít-rê-ên, đã từ chối nhượng cho bệ hạ để lấy bạc, đó đi. Vì Na-bốt không còn sống nữa, nó đã chết rồi.”

16 Vừa nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp liền đi xuống vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên, để chiếm làm của mình.

17 Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be, rằng:

18 “Hãy đứng dậy, đi xuống đón A-háp, vua Y-sơ-ra-ên ở Sa-ma-ri. Kìa, nó đang ở trong vườn nho của Na-bốt mà nó vừa chiếm để làm sản nghiệp.

19 Con nói với A-háp rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán: Chẳng phải ngươi đã giết người, rồi bây giờ lại chiếm đoạt sản nghiệp của nó sao?’ Con phải nói tiếp: ‘Đức Giê-hô-va phán: Tại chỗ mà chó đã liếm máu của Na-bốt thì chó cũng sẽ liếm máu của chính ngươi.’”

20 A-háp nói với Ê-li: “Hỡi kẻ thù của ta, ngươi đã tìm được ta sao?” Ê-li đáp: “Phải, tôi đã tìm được vua, vì vua đã tự bán mình để làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.

21 Vì vậy, Ngài phán: ‘Ta sẽ giáng họa trên ngươi. Ta sẽ quét sạch hậu duệ ngươi, tiêu diệt các người nam của nhà A-háp, dù là kẻ nô lệ hay người tự do trong Y-sơ-ra-ên.

22 Vì ngươi đã chọc giận Ta, xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên Ta sẽ làm cho nhà của ngươi giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và giống như nhà Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.’

23 Đức Giê-hô-va cũng phán về Giê-sa-bên rằng: ‘Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên gần tường thành Gít-rê-ên.

24 Bất cứ ai thuộc về A-háp chết trong thành sẽ bị chó ăn thịt, còn ai chết ngoài đồng sẽ bị chim trời ăn thịt.’”

25 Thật, chẳng có ai giống như A-háp, đã tự bán mình làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, vì bị hoàng hậu Giê-sa-bên xúi giục.

26 Vua đã làm điều rất ghê tởm là thờ các tượng thần như dân A-mô-rít, là dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.

27 Khi nghe những lời nầy, A-háp liền xé áo, khoác áo vải bố, kiêng ăn, nằm quấn bao và tỏ ra hạ mình khiêm tốn.

28 Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be, rằng:

29 “Con có thấy A-háp đã hạ mình trước mặt Ta như thế nào không? Vì nó đã hạ mình trước mặt Ta nên Ta không giáng họa trong đời nó. Nhưng đến đời con nó, Ta sẽ giáng họa trên nhà nó.”

22

1 Suốt ba năm, không có chiến tranh giữa A-ram và Y-sơ-ra-ên.

2 Nhưng vào năm thứ ba, khi Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đến thăm vua Y-sơ-ra-ên,

3 thì vua Y-sơ-ra-ên nói với quần thần mình rằng: “Các khanh chẳng biết rằng Ra-mốt Ga-la-át thuộc về chúng ta sao? Thế mà chúng ta lại để yên, không lấy lại khỏi tay vua A-ram!”

4 Rồi vua nói với Giô-sa-phát: “Ngài có muốn cùng tôi đánh Ra-mốt Ga-la-át không?” Giô-sa-phát đáp với vua Y-sơ-ra-ên: “Tôi cũng như ngài, dân tôi cũng như dân của ngài, và ngựa chiến của tôi cũng như ngựa chiến của ngài.”

5 Tuy nhiên, Giô-sa-phát nói thêm với vua Y-sơ-ra-ên: “Nhưng trước hết, xin ngài cầu hỏi Đức Giê-hô-va.”

6 Vậy, vua Y-sơ-ra-ên tập hợp các nhà tiên tri lại, khoảng bốn trăm người, và hỏi họ: “Trẫm có nên đi đánh Ra-mốt Ga-la-át không?” Họ tâu: “Nên đi đánh, vì Chúa sẽ phó nó vào tay bệ hạ.”

7 Nhưng Giô-sa-phát hỏi: “Ở đây còn có nhà tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu hỏi Chúa qua người ấy không?”

8 Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát: “Còn có một người, tên là Mi-chê, con của Giêm-la. Chúng ta có thể nhờ ông ấy cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Nhưng tôi ghét ông ấy, vì ông ấy chẳng bao giờ nói tiên tri lành về tôi mà chỉ nói toàn là điều dữ.” Giô-sa-phát nói: “Xin ngài đừng nói như vậy.”

9 Vua Y-sơ-ra-ên gọi một hoạn quan đến và bảo: “Hãy lập tức mời Mi-chê, con của Giêm-la, đến đây.”

10 Lúc ấy, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đang mặc vương bào và ngồi trên ngai trong sân đập lúa, nơi lối vào cổng thành Sa-ma-ri. Tất cả các nhà tiên tri đang nói tiên tri trước mặt hai vua.

11 Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, làm một cặp sừng bằng sắt, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Với các sừng nầy, con sẽ đánh dân A-ram cho đến khi tiêu diệt chúng.’”

12 Tất cả các nhà tiên tri đều nói như thế. Họ nói: “Hãy tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át, bệ hạ sẽ thắng, vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay bệ hạ.”

13 Trong lúc đó, sứ giả đã đi mời Mi-chê nói với ông rằng: “Kìa, các nhà tiên tri đều đồng thanh báo điều lành cho vua. Xin ông cũng nói như họ mà báo điều lành.”

14 Nhưng Mi-chê đáp: “Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, tôi sẽ nói điều gì Đức Giê-hô-va phán với tôi.”

15 Khi Mi-chê đến, vua hỏi ông: “Nầy Mi-chê, chúng ta nên tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át, hay chẳng nên đi?” Mi-chê đáp: “Hãy đi, vua sẽ chiến thắng. Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.”

16 Nhưng vua nói với ông: “Đã bao lần trẫm lấy lời thề buộc ngươi chỉ được nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói thật với trẫm.”

17 Bấy giờ, Mi-chê nói: “Tôi thấy toàn dân Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi, như bầy chiên không có người chăn; và Đức Giê-hô-va phán: ‘Những người ấy không có chủ, ai nấy hãy trở về nhà mình bình an.’”

18 Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Chẳng phải tôi đã nói với ngài rằng người nầy không bao giờ tiên báo điều lành cho tôi mà chỉ toàn nói điều dữ đó sao?”

19 Mi-chê lại nói tiếp: “Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngai, và toàn thể thiên binh đứng chầu bên phải và bên trái của Ngài.

20 Đức Giê-hô-va phán hỏi: ‘Ai sẽ đi dụ A-háp để nó tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át và ngã chết tại đó?’ Người trả lời cách nầy, kẻ trả lời cách khác.

21 Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: ‘Tôi sẽ đi dụ ông ấy.’ Đức Giê-hô-va hỏi: ‘Dụ cách nào?’

22 Thần ấy thưa: ‘Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những nhà tiên tri của ông ấy.’ Đức Giê-hô-va phán: ‘Phải, ngươi sẽ dụ nó được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói.’

23 Vậy bây giờ, kìa, Đức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các nhà tiên tri của vua, vì Đức Giê-hô-va đã định giáng họa cho vua.”

24 Bấy giờ, Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, đến gần tát vào má của Mi-chê và hỏi: “Bằng cách nào Thần của Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi tôi để đến nói với ông?”

25 Mi-chê đáp: “Ông sẽ biết điều đó trong ngày ông chạy từ phòng nầy đến phòng kia để lẩn trốn.”

26 Vua Y-sơ-ra-ên ra lệnh: “Hãy bắt Mi-chê giao cho thị trưởng A-môn và hoàng tử Giô-ách,

27 và dặn họ: ‘Vua bảo: Hãy bỏ tù người nầy, chỉ nuôi nó bằng bánh và nước đủ sống cầm hơi, cho đến khi trẫm trở về bình an.’”

28 Mi-chê nói: “Nếu vua trở về bình an thì Đức Giê-hô-va đã không phán qua tôi.” Ông lại nói tiếp: “Tất cả mọi người hãy nghe những lời tôi vừa nói!”

29 Thế rồi, vua Y-sơ-ra-ên cùng với Giô-sa-phát, vua Giu-đa lên đánh Ra-mốt Ga-la-át.

30 Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Tôi sẽ cải trang và ra trận, còn ngài cứ mặc vương bào.” Như vậy, vua Y-sơ-ra-ên cải trang mà ra trận.

31 Lúc bấy giờ, vua A-ram đã ra lệnh cho ba mươi hai quan chỉ huy chiến xa rằng: “Các khanh đừng đánh ai, dù lớn hay nhỏ, nhưng chỉ đánh giết một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.”

32 Vì vậy, khi các quan chỉ huy chiến xa thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: “Đúng là vua Y-sơ-ra-ên đây rồi.” Vì thế, chúng quay sang tấn công ông, nhưng Giô-sa-phát kêu thét lên.

33 Khi các quan chỉ huy chiến xa thấy không phải là vua Y-sơ-ra-ên thì dừng lại, không đuổi theo nữa.

34 Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn trúng vua Y-sơ-ra-ên, ngay chỗ nối của áo giáp. Vua nói với người đánh xe của mình rằng: “Hãy quay cương lại, đưa trẫm ra khỏi trận địa, vì trẫm bị thương nặng.”

35 Nhưng trận chiến hôm đó trở nên ác liệt, cho nên phải có người đỡ vua đứng trong xe để chiến đấu với quân A-ram. Đến chiều tối thì vua chết, máu từ vết thương chảy xuống cả sàn xe.

36 Lúc mặt trời lặn, có lời loan báo khắp trại quân rằng: “Ai nấy hãy trở về thành và xứ mình.”

37 Vậy vua băng hà, xác vua được đem về Sa-ma-ri và chôn cất tại đó.

38 Người ta rửa xe của vua tại ao Sa-ma-ri, là nơi những gái mại dâm thường tắm; và chó đến liếm máu vua, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

39 Các việc khác của A-háp, những công trình vua thực hiện, gồm cung điện được trang trí bằng ngà, và các thành vua xây cất, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.

40 A-háp an giấc cùng tổ phụ mình. Con của vua là A-cha-xia lên ngôi kế vị.

41 Vào năm thứ tư đời A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-sa-phát, con trai A-sa, lên làm vua Giu-đa.

42 Giô-sa-phát lên ngôi vua lúc ba mươi lăm tuổi, và trị vì hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-xu-ba, con gái của Si-chi.

43 Vua đi theo đường lối của vua cha là A-sa, không hề sai lệch. Vua làm điều thiện dưới mắt Đức Giê-hô-va.

44 Nhưng vua không phá bỏ các nơi cao, dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao đó.

45 Giô-sa-phát giao hảo với vua Y-sơ-ra-ên.

46 Các việc khác của Giô-sa-phát, thế lực của vua, những cuộc chiến vua tham dự, đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa.

47 Vua quét sạch khỏi xứ bọn mại dâm nam trong các miếu thờ còn lại từ thời A-sa, cha mình.

48 Lúc ấy, ở Ê-đôm không có vua, chỉ có một quan tổng đốc cai trị.

49 Giô-sa-phát đóng một đoàn tàu Ta-rê-si để đi Ô-phia chở vàng, nhưng không đến đó được, vì tàu bị vỡ tại Ê-xi-ôn Ghê-be.

50 A-cha-xia, con của A-háp, nói với Giô-sa-phát: “Xin cho các đầy tớ tôi đi tàu với các đầy tớ ngài.” Nhưng Giô-sa-phát không đồng ý.

51 Giô-sa-phát an giấc cùng các tổ phụ và được chôn với họ trong thành Đa-vít, tổ phụ vua. Giô-ram, con trai vua, lên ngôi kế vị.

52 Vào năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên và cai trị hai năm tại Sa-ma-ri.

53 Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của cha mẹ mình, và theo đường lối của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người khiến cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.

54 Vua phục vụ và thờ lạy Ba-anh, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, như cha vua đã làm.