1

1 Sau khi Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê, con trai của Nun, phụ tá của Môi-se, rằng:

2 “Môi-se, đầy tớ Ta, đã chết. Bây giờ con và cả dân nầy hãy đứng dậy đi qua sông Giô-đanh, vào đất mà Ta sắp ban cho dân Y-sơ-ra-ên.

3 Bất cứ nơi nào bàn chân các con đạp đến thì Ta ban cho các con, như Ta đã phán với Môi-se.

4 Địa phận các con sẽ từ hoang mạc và Li-ban nầy cho đến sông Cái, là sông Ơ-phơ-rát, luôn cả đất của dân Hê-tít cho đến Biển Lớn về hướng mặt trời lặn.

5 Trọn đời con sẽ không ai có thể đứng nổi trước mặt con. Ta sẽ ở với con như Ta đã ở với Môi-se; Ta sẽ không lìa con, không bỏ con đâu.

6 Hãy mạnh dạn và can đảm vì con sẽ dẫn dân nầy đi nhận lấy đất mà Ta đã thề ban cho tổ phụ họ.

7 Hãy mạnh dạn, thật can đảm và cẩn thận làm theo tất cả luật pháp mà Môi-se, đầy tớ Ta, đã truyền cho con; đừng xây qua bên phải hoặc bên trái, để con đi đâu cũng đều được thịnh vượng.

8 Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng con, hãy suy ngẫm ngày và đêm, để cẩn thận làm theo mọi điều đã chép trong đó. Vì như thế, con mới được thịnh vượng trong con đường mình và mới thành công.

9 Chẳng phải Ta đã truyền phán với con sao? Hãy mạnh dạn, can đảm! Chớ run sợ, chớ kinh hãi! Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con vẫn ở cùng con trong mọi nơi con đi.”

10 Bấy giờ, Giô-suê truyền lệnh cho những người lãnh đạo của dân chúng rằng:

11 “Hãy chạy khắp trại quân và truyền lệnh nầy cho dân chúng rằng: ‘Hãy chuẩn bị lương thực! Trong ba ngày nữa anh em sẽ vượt qua sông Giô-đanh nầy, để chiếm lấy đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ban cho anh em.’”

12 Giô-suê cũng nói với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se rằng:

13 “Hãy nhớ lại lời Môi-se, đầy tớ của Giê-hô-va, đã truyền cho anh em rằng: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em cho anh em một nơi an nghỉ và ban đất nầy cho anh em.’

14 Vợ, con cái, và bầy súc vật của anh em sẽ ở lại trong đất mà Môi-se ban cho anh em ở bên nầy sông Giô-đanh; nhưng anh em, tức là tất cả những người mạnh dạn, phải cầm vũ khí vượt qua trước anh em mình, và giúp đỡ họ,

15 cho đến khi Đức Giê-hô-va ban sự an nghỉ cho anh em của anh em, như đã ban cho anh em, và họ cũng nhận được phần đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ban cho họ. Bấy giờ, anh em sẽ trở về chiếm lấy sản nghiệp là phần đất mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho anh em ở phía bên nầy sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc.”

16 Những người ấy thưa với Giô-suê: “Chúng tôi sẽ làm mọi điều ông truyền bảo và đi bất cứ nơi nào ông sai phái.

17 Chúng tôi sẽ vâng lời ông mọi việc như đã vâng lời Môi-se. Chỉ mong Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông ở với ông, như Ngài đã ở với Môi-se vậy!

18 Kẻ nào chống lại mệnh lệnh của ông và không vâng theo bất cứ điều gì ông truyền bảo sẽ bị xử tử. Chỉ xin ông hãy mạnh dạn và thật can đảm.”

2

1 Từ Si-tim, Giô-suê, con trai của Nun, bí mật sai hai người đi do thám. Ông bảo: “Hãy đi do thám xứ, đặc biệt là Giê-ri-cô.” Vậy hai người ấy đi đến nhà của một kỹ nữ tên là Ra-háp, và trọ tại đó.

2 Người ta tâu với vua Giê-ri-cô rằng: “Tâu bệ hạ, đêm nay có mấy người Y-sơ-ra-ên đã đến do thám xứ.”

3 Vua Giê-ri-cô sai nói với Ra-háp: “Hãy đem những người đã vào nhà ngươi ra đây, vì chúng đến để do thám cả xứ nầy.”

4 Nhưng người đàn bà đem giấu hai người nầy, rồi thưa: “Thật họ đã đến nhà tôi, nhưng tôi không biết họ từ đâu đến.

5 Lúc trời tối, khi cổng thành sắp đóng thì những người ấy đi ra, tôi không biết đi đâu. Vậy hãy mau đuổi theo, các ông sẽ theo kịp được họ.”

6 Thật ra, cô ấy đã đem họ lên mái nhà, giấu dưới đống cây gai mà cô trải trên mái.

7 Những người của vua đuổi theo họ về hướng sông Giô-đanh cho đến chỗ cạn. Vừa khi những người đuổi theo đó ra khỏi thành thì người ta đóng cổng thành lại.

8 Trước khi hai người do thám đi ngủ, nàng trèo lên mái nhà,

9 và nói với họ: “Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã ban cho các ông xứ nầy; nỗi sợ hãi vì các ông đã ập xuống trên chúng tôi đến nỗi tất cả cư dân trong xứ đều nản lòng thối chí trước các ông.

10 Vì chúng tôi có nghe rằng khi các ông ra khỏi Ai Cập thì Đức Giê-hô-va đã khiến nước Biển Đỏ khô cạn trước mặt các ông, và cũng nghe điều các ông đã làm cho Si-hôn và Óc, hai vua dân A-mô-rít, ở bên kia sông Giô-đanh mà các ông đã tuyệt diệt.

11 Khi chúng tôi nghe điều đó thì lòng chúng tôi tan nát, chẳng ai trong chúng tôi còn can đảm trước mặt các ông nữa, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia và ở dưới đất thấp nầy.

12 Vậy bây giờ, hãy chỉ Đức Giê-hô-va mà thề với tôi rằng vì tôi đã đối xử nhân từ với hai ông, thì hai ông cũng phải đối xử nhân từ với nhà cha tôi và cho tôi một dấu hiệu bảo đảm

13 rằng các ông sẽ để cho cha mẹ, anh em, chị em tôi cùng tất cả người thân của họ được sống, và cứu chúng tôi khỏi chết.”

14 Hai người đáp: “Mạng sống chúng tôi sẽ đền cho mạng sống cô! Nếu cô không tiết lộ việc của chúng tôi thì chúng tôi sẽ lấy chữ tín và lòng nhân mà đối xử với cô khi Đức Giê-hô-va ban đất nầy cho chúng tôi.”

15 Vậy cô ấy dùng một sợi dây thòng hai người xuống qua cửa sổ vì nhà cô sát tường thành và cô ở bên trong tường thành.

16 Cô nói với họ: “Hãy đi về hướng núi, đừng để những người đuổi theo bắt gặp các ông. Hãy ẩn núp ở đó ba ngày cho đến khi những người đuổi theo trở về, sau đó các ông cứ đường mình mà đi.”

17 Hai người nói với nàng: “Đây là cách chúng tôi giữ lời thề mà cô đã bắt chúng tôi thề:

18 Khi nào chúng tôi vào xứ, cô phải cột sợi dây màu điều nầy nơi cửa sổ mà cô đã thòng chúng tôi xuống, rồi tập hợp cha mẹ, anh em, và tất cả người nhà của cha cô lại trong nhà cô.

19 Nếu người nào đi ra ngoài cửa nhà cô thì máu người ấy sẽ đổ lại trên đầu người ấy, còn chúng tôi vô tội. Nhưng nếu ai tra tay vào người nào ở với cô trong nhà thì máu của người đó sẽ đổ lại trên đầu chúng tôi.

20 Còn nếu cô tiết lộ việc của chúng tôi thì chúng tôi sẽ khỏi mắc lời thề mà cô đã bắt chúng tôi thề.”

21 Cô trả lời: “Hãy làm đúng như lời hai ông đã nói.” Rồi cô để cho họ đi, và họ ra đi. Cô buộc sợi đây màu điều nơi cửa sổ.

22 Vậy, hai người đi về hướng núi, ở lại đó ba ngày cho đến khi những người truy đuổi họ trở về. Những người ấy đi lùng sục khắp mọi nẻo đường nhưng không tìm được họ.

23 Hai người do thám xuống núi trở về, vượt sông Giô-đanh và đến với Giô-suê, con trai Nun, thuật cho ông mọi điều đã xảy ra cho họ.

24 Họ nói với Giô-suê: “Thật, Đức Giê-hô-va đã trao cả xứ ấy vào tay chúng ta; tất cả dân trong xứ đều nao núng trước mặt chúng ta.”

3

1 Từ Si-tim, Giô-suê dậy sớm, đi cùng dân Y-sơ-ra-ên đến sông Giô-đanh, và họ ngủ đêm tại đó trước khi qua sông.

2 Sau ba ngày, những người lãnh đạo đi khắp trại quân,

3 truyền lệnh cho dân chúng rằng: “Khi anh em thấy Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em được các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi khiêng đi thì anh em phải rời chỗ mình ở mà đi theo sau nó.

4 Tuy nhiên, giữa anh em và Hòm Giao Ước phải cách nhau một khoảng chín trăm mét, chớ đến gần để anh em có thể biết đường mình đi, vì anh em chưa đi đường ấy bao giờ.”

5 Giô-suê nói với dân chúng: “Hãy thánh hóa chính mình, vì ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ làm những việc kỳ diệu giữa anh em.”

6 Giô-suê nói với các thầy tế lễ: “Hãy khiêng Hòm Giao Ước đi qua sông trước dân chúng.” Vậy họ khiêng Hòm Giao Ước và đi phía trước dân chúng.

7 Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hôm nay Ta sẽ bắt đầu làm cho con được tôn trọng trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên để họ biết rằng Ta sẽ ở cùng con như Ta đã ở cùng Môi-se vậy.

8 Con phải truyền lệnh cho các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước rằng: ‘Khi nào anh em đến mé sông Giô-đanh thì hãy đứng dưới sông.’”

9 Giô-suê nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy lại gần, nghe lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.”

10 Và ông nói: “Bởi điều nầy, anh em sẽ biết rằng Đức Chúa Trời hằng sống ngự giữa anh em, Ngài hẳn sẽ đuổi đi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Hê-vít, dân Phê-rê-sít, dân Ghi-rê-ga-sít, dân A-mô-rít và dân Giê-bu-sít khỏi mắt anh em.

11 Nầy, Hòm Giao Ước của Chúa cả thế gian đi trước anh em, vượt qua sông Giô-đanh.

12 Vậy hãy chọn mười hai người trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, mỗi bộ tộc một người.

13 Khi các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, là Chúa cả thế gian, vừa đặt chân xuống nước sông Giô-đanh thì nước sông ngừng chảy, và nước từ thượng nguồn chảy xuống sẽ dồn lại thành một khối.”

14 Khi dân chúng nhổ trại để vượt qua sông Giô-đanh thì các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước đi trước mặt dân chúng.

15 Lúc ấy, nước sông Giô-đanh dâng lên tràn bờ trong suốt mùa gặt. Khi các người khiêng Hòm Giao Ước đến sông Giô-đanh, và khi chân của các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước vừa chạm xuống nước

16 thì nước từ thượng nguồn chảy xuống dừng lại, dồn thành một khối, cách một khoảng đến thành A-đam, là thành ở cạnh Xát-than; còn nước chảy về biển A-ra-ba, tức Biển Chết, thì hoàn toàn bị chận lại, và dân chúng vượt qua sông, chỗ đối diện Giê-ri-cô.

17 Những thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đứng lại trên đất khô giữa sông Giô-đanh trong khi toàn dân Y-sơ-ra-ên đi qua trên đất khô, cho đến khi tất cả dân chúng đã qua sông Giô-đanh hết.

4

1 Khi toàn dân đã vượt qua sông Giô-đanh rồi, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê:

2 “Hãy chọn trong dân chúng mười hai người, mỗi bộ tộc một người

3 và truyền lệnh cho họ: ‘Hãy lấy mười hai tảng đá giữa sông Giô-đanh, nơi chân những thầy tế lễ đã đứng và đem chúng theo, đặt tại nơi mà các con ngủ đêm nay.’”

4 Vậy Giô-suê gọi mười hai người đã chọn trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi bộ tộc một người,

5 và nói với họ: “Hãy đến trước Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em tại giữa sông Giô-đanh, rồi mỗi người, theo số bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên, vác một tảng đá trên vai mình,

6 để điều nầy làm một dấu hiệu ở giữa anh em. Mai sau, khi con cháu anh em hỏi rằng: ‘Những tảng đá nầy có ý nghĩa gì?’

7 thì anh em hãy trả lời rằng: Nước sông Giô-đanh đã bị cắt ngang trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Khi Hòm Giao Ước vượt qua sông Giô-đanh thì nước sông cắt ngang và các hòn đá nầy là vật kỷ niệm đời đời cho con dân Y-sơ-ra-ên.”

8 Vậy dân Y-sơ-ra-ên làm theo điều Giô-suê đã bảo, lấy mười hai tảng đá từ giữa lòng sông Giô-đanh theo số bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên và đem chúng qua sông, đến chỗ họ ngủ qua đêm và đặt tại đó đúng như Đức Giê-hô-va đã phán bảo Giô-suê.

9 Giô-suê cũng dựng mười hai tảng đá giữa sông Giô-đanh, nơi chân những thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước đã đứng. Các tảng đá ấy vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.

10 Các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước cứ đứng giữa lòng sông Giô-đanh cho đến khi hoàn tất mọi việc mà Đức Giê-hô-va đã phán bảo Giô-suê truyền lại cho dân chúng theo đúng mọi điều mà Môi-se đã truyền cho Giô-suê. Rồi dân chúng vội vã qua sông.

11 Khi tất cả dân chúng đã qua sông thì Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va và những thầy tế lễ cũng đi qua trước mặt dân chúng.

12 Con cháu Ru-bên, con cháu Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se cầm khí giới đi trước dân Y-sơ-ra-ên, đúng như Môi-se đã dặn bảo họ.

13 Có chừng bốn chục nghìn người được vũ trang để ra trận, đi qua trước mặt Đức Giê-hô-va, tiến đến các đồng bằng Giê-ri-cô, để đánh giặc.

14 Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va làm cho Giô-suê được tôn trọng trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên; họ kính trọng ông suốt đời như đã kính trọng Môi-se vậy.

15 Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê:

16 “Hãy truyền cho các thầy tế lễ khiêng Hòm Chứng Ước lên khỏi sông Giô-đanh.”

17 Vậy Giô-suê truyền lệnh cho các thầy tế lễ: “Hãy lên khỏi sông Giô-đanh.”

18 Khi các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ giữa lòng sông đi lên, và khi bàn chân của họ vừa đặt trên đất khô thì nước sông Giô-đanh trở về chỗ cũ, chảy tràn cả hai bờ như trước.

19 Ngày mồng mười tháng giêng, dân chúng lên khỏi sông Giô-đanh và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.

20 Giô-suê dựng tại Ghinh-ganh mười hai hòn đá mà dân chúng đã lấy dưới sông Giô-đanh.

21 Ông nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Mai sau, khi con cháu anh em hỏi cha ông chúng rằng: ‘Các hòn đá nầy có ý nghĩa gì?’

22 thì anh em sẽ nói cho con cháu mình biết rằng: ‘Y-sơ-ra-ên đã đi qua sông Giô-đanh trên đất khô,

23 vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã làm cho sông Giô-đanh khô cạn trước mặt anh em cho đến khi anh em đã đi qua khỏi, giống như Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã làm tại Biển Đỏ, khiến nó khô cạn trước mặt chúng ta cho đến khi chúng ta đã qua biển vậy.’

24 Như thế, các dân tộc thế gian biết được bàn tay quyền năng của Đức Giê-hô-va, và anh em cũng luôn luôn kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.”

5

1 Khi tất cả các vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh về phía tây, và tất cả các vua Ca-na-an ở gần biển hay tin rằng Đức Giê-hô-va đã làm cho nước sông Giô-đanh khô cạn trước mặt dân Y-sơ-ra-ên cho đến khi đã đi qua khỏi thì mất hết tinh thần và chẳng còn gan dạ nào đối đầu với dân Y-sơ-ra-ên nữa.

2 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hãy làm những con dao bằng đá lửa và cắt bì lần thứ hai cho dân Y-sơ-ra-ên.”

3 Vậy Giô-suê làm những con dao bằng đá lửa và cắt bì cho dân Y-sơ-ra-ên tại đồi A-ra-lốt.

4 Đây là lý do Giô-suê cắt bì cho họ: Các người nam trong dân chúng đã ra khỏi Ai Cập, tức là các chiến sĩ, đều đã chết dọc đường trong hoang mạc sau khi rời Ai Cập.

5 Tất cả dân chúng đã ra khỏi Ai Cập đều được cắt bì, nhưng tất cả những người sinh ra dọc đường trong hoang mạc sau khi rời Ai Cập thì chưa được cắt bì.

6 Vì dân Y-sơ-ra-ên đã đi trong hoang mạc bốn mươi năm cho đến khi tất cả dân chúng và những chiến sĩ đã rời Ai Cập đều chết hết, vì không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va đã thề với họ rằng Ngài không cho họ thấy đất mà Đức Giê-hô-va đã hứa với tổ phụ họ là sẽ ban cho chúng ta, tức là đất đượm sữa và mật.

7 Và Ngài đã dấy con cháu họ lên để thế vào chỗ của họ, tức là những người được Giô-suê cắt bì, vì họ không được cắt bì dọc đường.

8 Khi tất cả dân chúng được cắt bì xong, thì họ ở lại chỗ mình trong trại quân cho đến khi được lành.

9 Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hôm nay Ta đã cất khỏi các con nỗi ô nhục của Ai Cập.” Vì thế, người ta gọi chỗ ấy là Ghinh-ganh cho đến ngày nay.

10 Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh trong đồng bằng Giê-ri-cô, và giữ lễ Vượt Qua nhằm ngày mười bốn tháng ấy, vào lúc chiều tối.

11 Vào ngày sau lễ Vượt Qua, chính ngày đó, họ ăn thổ sản trong xứ, bánh không men, và hột rang.

12 Khi họ ăn thổ sản trong xứ thì đến ngày hôm sau, ma-na cũng dứt và dân Y-sơ-ra-ên không có ma-na nữa, nhưng trong năm đó họ ăn hoa màu của đất Ca-na-an.

13 Lúc Giô-suê đang ở gần Giê-ri-cô, ông ngước mắt lên nhìn thì thấy một người cầm gươm trần đứng đối diện với mình. Giô-suê đến gần người ấy và hỏi: “Ngươi thuộc về phe chúng ta hay là phe địch?”

14 Người ấy đáp: “Chẳng thuộc phe nào cả, nhưng bây giờ ta đến để làm tướng chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va.” Giô-suê liền sấp mặt xuống đất, thờ lạy và hỏi: “Chúa truyền cho đầy tớ Chúa điều gì?”

15 Tướng chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va nói với Giô-suê: “Hãy cởi giày khỏi chân vì nơi con đứng là đất thánh.” Giô-suê làm như vậy.

6

1 Bấy giờ, Giê-ri-cô đóng cổng thành và canh gác cách nghiêm ngặt đối với dân Y-sơ-ra-ên, không cho người vào ra.

2 Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Kìa, Ta đã phó Giê-ri-cô, vua, và các dũng sĩ của nó vào tay con.

3 Vậy con cùng tất cả chiến sĩ hãy đi vòng quanh thành một lần và phải làm như vậy trong sáu ngày.

4 Bảy thầy tế lễ sẽ cầm bảy cây kèn bằng sừng đi trước Hòm Giao Ước. Nhưng qua ngày thứ bảy, các con phải đi vòng quanh thành bảy lần, và các thầy tế lễ sẽ thổi kèn lên.

5 Khi những thầy tế lễ thổi một hồi kèn dài và khi các con vừa nghe tiếng kèn thì tất cả dân chúng phải la lớn lên, tường thành sẽ đổ sập xuống, rồi dân chúng sẽ trèo lên, mỗi người tiến thẳng về phía trước.”

6 Vậy Giô-suê, con trai của Nun, gọi những thầy tế lễ và bảo: “Hãy khiêng Hòm Giao Ước, và bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn bằng sừng đi trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.”

7 Ông lại nói với dân chúng: “Hãy tiến tới, đi vòng quanh thành; những người được vũ trang phải đi trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.”

8 Khi Giô-suê đã truyền lệnh cho dân chúng xong, bảy thầy tế lễ cầm bảy kèn bằng sừng trước mặt Đức Giê-hô-va, vừa đi tới vừa thổi kèn, còn Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va theo sau.

9 Những người được vũ trang đi trước những thầy tế lễ thổi kèn; đội quân hậu vệ đi theo sau Hòm Giao Ước. Họ vừa đi vừa thổi kèn.

10 Nhưng Giô-suê đã truyền lệnh cho dân chúng rằng: “Anh em đừng la lớn, đừng để ai nghe tiếng mình, cũng đừng nói một lời nào cho đến ngày ta bảo hãy reo hò thì anh em hãy sẽ hò reo lớn lên.”

11 Vậy Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi vòng quanh thành một lần, rồi họ vào trại quân và ngủ đêm tại đó.

12 Sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm và những thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.

13 Bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn bằng sừng đi trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, vừa đi vừa thổi. Những người được vũ trang đi trước; đội quân hậu vệ đi theo sau Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Họ vừa đi vừa thổi kèn.

14 Ngày thứ hai, họ đi vòng quanh thành một lần rồi trở về trại quân. Họ làm như vậy trong sáu ngày.

15 Sang ngày thứ bảy, họ dậy sớm từ lúc rạng đông, đi vòng quanh thành bảy lần theo cách thức giống như trước. Chỉ riêng ngày hôm đó họ mới đi vòng quanh thành bảy lần.

16 Đến lần thứ bảy, khi những thầy tế lễ thổi kèn thì Giô-suê nói với dân chúng: “Hãy reo hò lên vì Đức Giê-hô-va đã ban thành nầy cho anh em.

17 Thành và mọi vật trong thành sẽ bị phú dâng cho Đức Giê-hô-va để hủy diệt đi. Chỉ một mình kỹ nữ Ra-háp và mọi người ở trong nhà với cô sẽ được sống, vì cô đã giấu sứ giả chúng ta sai đến.

18 Nhưng hãy tránh xa các vật đáng bị hủy diệt nầy. Vì nếu anh em lấy những vật đáng bị hủy diệt đó thì anh em sẽ làm cho trại quân Y-sơ-ra-ên thành vật đáng bị hủy diệt, và đem sự rối loạn vào trong đó.

19 Tất cả bạc, vàng, và các bình bằng đồng, bằng sắt đều được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ nhập vào kho của Đức Giê-hô-va.”

20 Vậy dân chúng la lên và những thầy tế lễ thổi kèn. Vừa khi dân chúng nghe tiếng kèn thì reo hò vang dội và tường thành liền đổ sập; dân chúng trèo lên thành, mỗi người tiến thẳng tới phía trước và chiếm lấy thành.

21 Họ dùng gươm hủy diệt mọi sinh vật ở trong thành, cả nam phụ lão ấu lẫn bò, chiên, và lừa.

22 Bấy giờ, Giô-suê bảo hai người đã đi do thám xứ rằng: “Hãy vào nhà kỹ nữ, đem cô ấy và mọi người thuộc về cô ra khỏi nhà, như anh em đã thề với cô.”

23 Vậy hai thanh niên đã đi do thám xứ bước vào nhà, đem Ra-háp, cha mẹ, anh em cô, và mọi vật gì thuộc về cô ra khỏi nhà. Họ đem cả gia quyến cô ra và để ở bên ngoài trại quân Y-sơ-ra-ên.

24 Rồi họ phóng hỏa đốt thành và mọi vật trong thành, chỉ nhập vào kho của nhà Đức Giê-hô-va bạc, vàng, các bình bằng đồng, bằng sắt mà thôi.

25 Nhưng Giô-suê bảo tồn mạng sống cho kỹ nữ Ra-háp cùng cả nhà cha cô và mọi vật gì thuộc về cô. Cô ấy sống ở giữa Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay vì cô đã giấu sứ giả mà Giô-suê sai đi do thám Giê-ri-cô.

26 Bấy giờ, Giô-suê phát thề rằng: “Ai trỗi dậy và xây lại thành Giê-ri-cô nầy Sẽ bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va! Ai đặt nền nó lại thì con trưởng nam mình phải chết; Ai dựng cửa nó lại thì con út mình phải chết.”

27 Vậy Đức Giê-hô-va ở với Giô-suê, và danh tiếng ông đồn ra khắp xứ.

7

1 Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội bất trung về các vật đáng bị diệt, vì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách thuộc bộ tộc Giu-đa, đã lấy các vật đáng bị diệt ấy, và cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi bừng với dân Y-sơ-ra-ên.

2 Từ Giê-ri-cô, Giô-suê sai người đến thành A-hi gần Bết A-ven, về phía đông Bê-tên, truyền lệnh rằng: “Hãy đi lên do thám thành A-hi.” Vậy, họ đi lên do thám A-hi.

3 Rồi họ trở về, trình với Giô-suê: “Không cần đem cả dân chúng đi lên đó mà chỉ cho khoảng vài ba nghìn người đi lên đó để đánh thành A-hi thôi. Đừng làm cho cả dân chúng nhọc công tốn sức ở đó vì dân A-hi quá ít.”

4 Vậy có khoảng ba nghìn người đi lên đó nhưng họ đã chạy trốn người A-hi.

5 Người A-hi giết khoảng ba mươi sáu người, rượt đuổi họ từ cổng thành cho đến Sê-ba-rim, và đánh bại lúc họ chạy xuống dốc. Lòng dân chúng tan ra như nước.

6 Giô-suê xé áo mình và cùng với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên sấp mặt xuống đất trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối và rải bụi đất lên đầu mình.

7 Giô-suê nói: “Ôi! Chúa Giê-hô-va, sao Ngài đem dân nầy qua sông Giô-đanh rồi lại phó chúng con vào tay người A-mô-rít mà tiêu diệt đi? Ôi! Giá như chúng con quyết định ở lại bên kia sông Giô-đanh thì có hơn không?

8 Than ôi! Lạy Chúa! Con biết nói làm sao khi Y-sơ-ra-ên đã quay lưng chạy trốn trước kẻ thù mình?

9 Dân Ca-na-an và tất cả cư dân xứ nầy sẽ nghe điều đó, bao vây chúng con và diệt danh tiếng chúng con khỏi đất. Lúc ấy, Chúa sẽ làm sao cho danh lớn của Ngài?”

10 Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hãy đứng dậy đi! Tại sao con sấp mặt xuống đất như vậy?

11 Y-sơ-ra-ên đã phạm tội, họ vi phạm giao ước mà Ta đã truyền phán: lấy các vật đáng bị hủy diệt, ăn cắp, lừa dối, thậm chí giấu các vật đó trong các vật dụng của mình.

12 Vì thế, dân Y-sơ-ra-ên không thể chống cự nổi kẻ thù của mình mà phải xây lưng chạy trốn chúng, bởi Y-sơ-ra-ên đã trở nên kẻ đáng bị tiêu diệt. Nếu các con không tiêu trừ các vật đáng diệt ấy, thì Ta không còn ở với các con nữa.

13 Hãy đứng dậy, thánh hóa dân chúng và nói rằng: ‘Ngày mai, anh em hãy thanh tẩy chính mình vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, các con còn giữ các vật đáng diệt ở giữa các con! Các con không thể chống cự nổi kẻ thù mình cho đến khi các con loại bỏ các vật đáng diệt ấy.”

14 Vậy sáng mai, anh em sẽ đến theo từng bộ tộc; bộ tộc nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra, sẽ đến theo từng gia tộc; gia tộc nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra, sẽ đến theo từng gia đình; gia đình nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra, sẽ đến từng người.

15 Người nào bị chỉ ra là kẻ giữ các vật đáng bị hủy diệt đó thì sẽ bị hỏa thiêu cùng với tất cả những gì thuộc về nó, vì nó đã vi phạm giao ước của Đức Giê-hô-va và làm điều ô nhục trong Y-sơ-ra-ên.’”

16 Vậy sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm, cho dân Y-sơ-ra-ên đến gần theo từng bộ tộc và bộ tộc Giu-đa bị chỉ ra.

17 Ông cho các gia tộc của Giu-đa đến gần và gia tộc Xê-rách bị chỉ ra; ông cho gia tộc Xê-rách đến gần theo từng gia đình và Xáp-đi bị chỉ ra.

18 Ông cho gia đình Xáp-đi đến gần từng người một, thì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách về bộ tộc Giu-đa, bị chỉ ra.

19 Giô-suê nói với A-can: “Nầy con, hãy tôn vinh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và ca ngợi Ngài. Hãy thú thật với ta điều con đã làm, chớ giấu giếm gì cả.”

20 A-can thưa với Giô-suê: “Thật, con đã phạm tội với Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và đây là điều con đã làm:

21 Khi con thấy trong chiến lợi phẩm có một áo choàng Si-nê-a, rất đẹp, khoảng hai ký bạc, và một nén vàng nặng gần sáu trăm gam thì con đã tham muốn và lấy các vật ấy. Kìa, chúng được giấu dưới đất trong trại của con và bạc thì ở bên dưới.”

22 Giô-suê sai người chạy đến trại, thấy áo choàng giấu tại đó, và bạc thì ở dưới.

23 Họ lấy các vật đó ra khỏi trại, đem về cho Giô-suê và tất cả con dân Y-sơ-ra-ên, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va.

24 Bấy giờ, Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên bắt A-can, con cháu Xê-rách, cùng lấy bạc, áo choàng, nén vàng, các con trai, con gái, bò, lừa, chiên, trại, và tất cả những gì thuộc về nó, rồi dẫn đến thung lũng A-cô.

25 Giô-suê nói: “Sao con khuấy rối chúng ta? Đức Giê-hô-va chắc sẽ khuấy rối con hôm nay.” Rồi cả Y-sơ-ra-ên ném đá nó; họ hỏa thiêu chúng và lấy đá lấp lại.

26 Kế đó, họ chất lên trên nó một đống đá lớn, vẫn còn cho đến ngày nay. Đức Giê-hô-va liền nguôi cơn thịnh nộ. Vì thế, người ta gọi chỗ nầy là thung lũng A-cô cho đến ngày nay.

8

1 Sau đó, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Đừng sợ, cũng đừng nản chí! Hãy đem tất cả chiến sĩ đi theo con, đứng dậy và đi lên đánh thành A-hi. Kìa, Ta đã phó vua A-hi, dân chúng, thành trì, và đất đai của nó vào tay con.

2 Con phải đối xử với A-hi và vua nó như con đã đối xử với Giê-ri-cô và vua nó. Các con chỉ thu chiến lợi phẩm và súc vật cho mình thôi. Hãy đặt quân mai phục phía sau thành.”

3 Vậy Giô-suê đứng dậy cùng tất cả các chiến sĩ đi lên đánh A-hi. Ông chọn ba chục nghìn quân dũng cảm và sai họ đi ban đêm.

4 Ông truyền lệnh: “Nầy, anh em sẽ mai phục phía sau thành, đừng ra quá xa. Tất cả hãy sẵn sàng chiến đấu.

5 Còn tôi và tất cả những người cùng đi với tôi sẽ tiến đến gần thành. Khi chúng ra nghênh chiến với chúng ta như lần trước thì chúng tôi sẽ chạy trốn trước mặt chúng.

6 Chúng sẽ đuổi theo chúng tôi cho đến khi chúng tôi nhử chúng ra xa ngoài thành, vì chúng nói rằng: ‘Họ chạy trốn chúng ta như lần trước.’ Trong lúc chúng tôi chạy trốn chúng

7 thì anh em sẽ ra khỏi nơi mai phục và chiếm lấy thành, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ phó thành ấy vào tay anh em.

8 Khi anh em chiếm thành rồi thì phải phóng hỏa đốt thành. Hãy làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền. Đó là lệnh tôi truyền cho anh em.”

9 Vậy Giô-suê sai các người đó ra đi; họ mai phục giữa khoảng Bê-tên và A-hi, về phía tây của A-hi; còn Giô-suê ngủ qua đêm ở giữa dân chúng.

10 Sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm, điểm quân, rồi cùng các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên dẫn quân tiến về thành A-hi.

11 Tất cả các chiến sĩ theo ông cùng đi lên đến gần thành và đóng trại về phía bắc A-hi; giữa họ và thành A-hi cách nhau một thung lũng.

12 Giô-suê đem khoảng năm nghìn quân mai phục giữa Bê-tên và A-hi, về phía tây của thành.

13 Khi dân chúng đã đóng trại về phía bắc thành và quân mai phục được bố trí về phía tây thành rồi, thì đêm đó Giô-suê đi vào thung lũng.

14 Thấy vậy, vua A-hi và cả dân chúng vội vàng ra nghênh chiến với Y-sơ-ra-ên từ sáng sớm ở nơi đã định, về phía đồng bằng, nhưng vua không biết rằng có một đạo quân mai phục ở phía sau thành.

15 Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên giả vờ thua và bỏ chạy về phía hoang mạc.

16 Vậy tất cả dân trong thành họp lại để đuổi theo. Chúng chạy đuổi theo Giô-suê và bị nhử ra xa ngoài thành.

17 Không một ai ở thành A-hi hay Bê-tên mà không chạy ra đuổi theo Y-sơ-ra-ên. Chúng bỏ trống thành để rượt đuổi Y-sơ-ra-ên.

18 Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hãy giơ ngọn giáo mà con cầm trong tay hướng về thành A-hi, vì Ta sẽ trao thành ấy vào tay con.” Giô-suê giơ ngọn giáo đang cầm trong tay hướng về thành ấy.

19 Khi ông vừa giơ tay lên thì quân mai phục lập tức đứng dậy khỏi chỗ mình núp mà chạy vào thành, chiếm lấy và nhanh chóng phóng hỏa đốt thành.

20 Khi người A-hi ngoái lại nhìn thấy khói trong thành bay lên trời thì chúng không còn cách nào để chạy trốn đường nầy hay đường kia nữa, vì quân Y-sơ-ra-ên đang chạy trốn về phía hoang mạc đã quay lại đánh những kẻ rượt đuổi theo mình.

21 Khi Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên thấy quân mai phục đã chiếm thành và khói đốt thành bay lên thì họ quay lại đánh giết người A-hi.

22 Những người khác cũng ra khỏi thành đón đánh dân A-hi, và như vậy chúng bị dân Y-sơ-ra-ên bao vây tứ phía. Dân Y-sơ-ra-ên đánh giết chúng đến nỗi không còn kẻ nào sống sót hay trốn thoát được.

23 Họ bắt sống vua A-hi và dẫn đến cho Giô-suê.

24 Khi người Y-sơ-ra-ên đã giết hết cư dân thành A-hi, hoặc ngoài đồng ruộng hay trong hoang mạc, là nơi chúng bị rượt đuổi, và khi tất cả chúng đã ngã chết dưới lưỡi gươm cho đến người cuối cùng, thì toàn dân Y-sơ-ra-ên trở về A-hi và dùng gươm giết những kẻ còn lại.

25 Tất cả người A-hi, cả nam lẫn nữ, bị ngã chết trong ngày ấy, tổng cộng là mười hai nghìn người.

26 Giô-suê cứ cầm ngọn giáo giơ ra, không rút tay lại cho đến khi ông diệt tất cả cư dân thành A-hi.

27 Dân Y-sơ-ra-ên chỉ lấy cho mình những súc vật và chiến lợi phẩm của thành nầy, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Giô-suê.

28 Vậy, Giô-suê đốt thành A-hi và làm cho nó thành đống tro tàn vĩnh viễn cho đến ngày nay.

29 Ông cho treo vua A-hi trên cây và để đó cho đến chiều. Nhưng khi mặt trời lặn, Giô-suê bảo người ta hạ thây xuống khỏi cây và ném nó ở lối vào cổng thành, rồi chất một đống đá lớn lên trên, vẫn còn đến ngày nay.

30 Bấy giờ, Giô-suê lập một bàn thờ cho Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên trên núi Ê-banh,

31 theo lệnh Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên, như đã chép trong sách luật pháp Môi-se. Đó là một bàn thờ bằng đá nguyên khối, chưa bị đục bởi đồ bằng sắt. Trên đó, dân chúng dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, và dâng tế lễ bình an.

32 Và tại đó, trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê cũng viết trên các bia đá một bản sao luật pháp mà Môi-se đã viết.

33 Toàn dân Y-sơ-ra-ên, cả những khách lạ lẫn người bản xứ cùng với các trưởng lão, các quan chức, và các thẩm phán đứng hai bên Hòm Giao Ước trước mặt những thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi là những người khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Phân nửa dân chúng đứng đối diện núi Ga-ri-xim, và phân nửa kia đứng đối diện núi Ê-banh, theo lệnh Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, trước đây đã dặn mà chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên.

34 Sau đó, Giô-suê đọc toàn bộ luật pháp, gồm lời chúc lành và lời rủa sả như đã chép trong sách luật pháp.

35 Không một lời nào trong tất cả các lời Môi-se đã truyền dặn mà Giô-suê không đọc trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, kể cả phụ nữ, trẻ em, và khách lạ ở giữa họ.

9

1 Khi nghe tin ấy, tất cả các vua ở bên nầy sông Giô-đanh, hoặc ở trên núi, dưới chân núi, hay dọc bờ Biển Lớn đối diện Li-ban, tức là các vua dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít,

2 đồng ý liên kết với nhau để chiến đấu chống lại Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.

3 Nhưng khi dân Ga-ba-ôn nghe điều Giô-suê đã làm cho Giê-ri-cô và A-hi

4 thì chúng lại dùng mưu kế: Chúng giả vờ đi sứ, lấy bao cũ chất trên lừa, vai đeo bầu rượu cũ rách vá lại,

5 chân mang giày cũ vá lại, và trên người mặc quần áo cũ mòn. Tất cả bánh dự trữ của chúng đều khô và nát vụn.

6 Chúng đến với Giô-suê tại trại quân Ghinh-ganh, nói với ông và dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Chúng tôi ở xứ xa đến; bây giờ xin hãy lập hòa ước với chúng tôi.”

7 Dân Y-sơ-ra-ên nói với dân Hê-vít: “Có lẽ các người sống ở gần chúng tôi thì làm sao chúng tôi có thể lập hòa ước với các người được?”

8 Nhưng chúng nói với Giô-suê: “Chúng tôi là đầy tớ của ông.” Giô-suê hỏi: “Các người là ai, từ đâu đến?”

9 Chúng trả lời: “Đầy tớ của ông từ xứ rất xa đến vì nghe danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của ông. Vì chúng tôi có nghe nói về Ngài, và mọi điều Ngài đã làm tại Ai Cập;

10 lại cũng nghe về mọi điều Ngài đã làm cho hai vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, là Si-hôn, vua Hết-bôn, và Óc, vua Ba-san ở Ách-ta-rốt.

11 Các trưởng lão và tất cả dân trong nước chúng tôi bảo chúng tôi rằng: ‘Hãy mang theo lương thực đi đường và đến gặp dân ấy mà nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ các ông; và bây giờ, hãy lập hòa ước với chúng tôi.”’

12 Đây là bánh của chúng tôi: Ngày chúng tôi rời nhà để đến với các ông, chúng tôi mang bánh nầy theo làm lương thực đi đường lúc hãy còn nóng hổi mà nay đã khô và nát vụn;

13 những bầu da khi chúng tôi đổ đầy rượu hãy còn mới tinh mà nay đã rách; còn quần áo và giày chúng tôi thì đã cũ mòn vì đi đường xa.”

14 Vậy người Y-sơ-ra-ên nhận lương thực của chúng mà không cầu hỏi Đức Giê-hô-va.

15 Giô-suê lập hòa ước với chúng và cam kết để cho chúng sống, và các nhà lãnh đạo của hội chúng cũng thề hứa với chúng nữa.

16 Nhưng ba ngày sau khi lập giao ước với chúng, dân Y-sơ-ra-ên biết được rằng chúng vốn là dân lân cận và ở gần họ.

17 Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên lên đường, và ngày thứ ba đến thành của chúng. Các thành của chúng là Ga-ba-ôn, Kê-phi-ra, Bê-ê-rốt, và Ki-ri-át Giê-a-rim.

18 Dân Y-sơ-ra-ên không đánh giết chúng vì các nhà lãnh đạo của hội chúng đã chỉ danh Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với dân đó; nhưng cả hội chúng lằm bằm với các nhà lãnh đạo.

19 Các nhà lãnh đạo nói với cả hội chúng: “Chúng ta đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với dân đó; vậy, từ bây giờ chúng ta không được đụng đến chúng.

20 Chúng ta phải đối xử với dân đó như thế nầy: Phải để cho chúng sống, kẻo cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên chúng ta vì lời mà chúng ta đã thề với chúng.”

21 Vậy các nhà lãnh đạo nói tiếp: “Hãy để cho chúng sống nhưng chúng phải đốn củi, xách nước cho cả hội chúng.” Họ làm đúng như các nhà lãnh đạo đã nói với chúng.

22 Giô-suê gọi dân Ga-ba-ôn đến và bảo: “Sao các người gạt chúng tôi mà nói rằng: ‘Chúng tôi ở rất xa các ông’ mà thực ra các người ở gần chúng tôi?

23 Vì thế, các người bị rủa sả và sẽ mãi mãi làm nô lệ, cứ đốn củi, xách nước cho nhà Đức Chúa Trời của ta.”

24 Chúng thưa với Giô-suê: “Vì đầy tớ ông biết chắc chắn rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã ra lệnh cho Môi-se, đầy tớ Ngài, ban toàn xứ nầy cho các ông, và tiêu diệt khỏi họ tất cả các cư dân trong xứ. Do đó, vì sợ các ông giết hại mạng sống nên chúng tôi mới làm như vậy.

25 Bây giờ chúng tôi ở trong tay ông, xin đối xử với chúng tôi tùy ý ông cho là tốt, là phải.”

26 Giô-suê làm như ông đã nói và giải cứu chúng khỏi tay dân Y-sơ-ra-ên, không giết hại chúng.

27 Từ ngày đó, ông sai chúng đốn củi, xách nước cho hội chúng và cho bàn thờ của Đức Giê-hô-va ở nơi Ngài chọn lựa cho đến ngày nay.

10

1 Khi A-đô-ni Xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, nghe tin Giô-suê đã đánh chiếm thành A-hi và phá hủy hoàn toàn thành ấy, đối xử với A-hi và vua thành ấy như đã đối xử với Giê-ri-cô và vua nó; cũng nghe tin dân Ga-ba-ôn đã cầu hòa với dân Y-sơ-ra-ên và chung sống với họ

2 thì vua rất kinh hãi vì Ga-ba-ôn là một thành lớn, như một đế đô; thành ấy lớn hơn thành A-hi, và tất cả dân thành ấy đều là những dũng sĩ.

3 Vậy A-đô-ni Xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, sai người đến với Hô-ham, vua Hếp-rôn, với Phi-ram, vua Giạt-mút, với Gia-phia, vua La-ki, và với Đê-bia, vua Éc-lôn, mà nói rằng:

4 “Hãy lên với tôi và giúp tôi đánh thành Ga-ba-ôn vì chúng đã cầu hòa với Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.”

5 Vậy năm vua A-mô-rít, tức là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Éc-lôn liên minh với nhau, đem toàn quân kéo lên đóng trại trước Ga-ba-ôn, và tiến đánh thành.

6 Dân Ga-ba-ôn phái người đến trại quân Ghinh-ganh, thưa với Giô-suê: “Xin đừng bỏ rơi đầy tớ ông. Hãy mau lên với chúng tôi, giải cứu và giúp đỡ chúng tôi vì tất cả các vua A-mô-rít trên núi đã kết hiệp lại đánh chúng tôi.”

7 Vậy Giô-suê từ Ghinh-ganh đi lên với những chiến sĩ dũng cảm cùng toàn quân.

8 Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Đừng sợ, vì Ta đã phó chúng vào tay con, sẽ không một kẻ nào đứng nổi trước mặt con đâu.”

9 Vậy Giô-suê từ Ghinh-ganh đi suốt cả đêm, rồi bất ngờ tiến công chúng.

10 Đức Giê-hô-va khiến chúng chạy hoảng loạn trước Y-sơ-ra-ên, và chúng đại bại ở Ga-ba-ôn. Quân Y-sơ-ra-ên rượt đuổi chúng theo đường dốc Bết Hô-rôn, và đánh giết chúng cho đến tận A-xê-ca và Ma-kê-đa.

11 Trong khi chúng chạy trốn trước Y-sơ-ra-ên thì Đức Giê-hô-va khiến đá tảng từ trời rơi xuống trên đường từ dốc Bết Hô-rôn đến A-xê-ca, và chúng đều bị giết. Số người chết do mưa đá nhiều hơn số người chết do gươm của quân Y-sơ-ra-ên.

12 Trong ngày Đức Giê-hô-va phó dân A-mô-rít vào tay dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê thưa với Đức Giê-hô-va trước mặt Y-sơ-ra-ên rằng: “Hỡi mặt trời, hãy đứng yên lại trên Ga-ba-ôn! Hỡi mặt trăng, hãy dừng lại trên thung lũng A-gia-lôn!”

13 Vậy mặt trời đứng yên và mặt trăng cũng dừng lại, Cho đến khi dân Chúa báo trả xong kẻ thù mình. Chẳng phải điều nầy được chép trong sách Gia-sa sao? Mặt trời dừng lại giữa trời, và không vội lặn khoảng một ngày trọn.

14 Trước đó và từ đó về sau, chẳng có ngày nào như ngày ấy, là ngày Đức Giê-hô-va lắng nghe tiếng của một người vì Đức Giê-hô-va chiến đấu cho dân Y-sơ-ra-ên.

15 Rồi Giô-suê và toàn thể Y-sơ-ra-ên trở về trại quân tại Ghinh-ganh.

16 Năm vua kia chạy trốn, và ẩn núp trong một hang đá tại Ma-kê-đa.

17 Có người báo cho Giô-suê biết: “Đã tìm thấy năm vua ấy đang trốn trong hang đá tại Ma-kê-đa.”

18 Giô-suê bảo: “Hãy lăn tảng đá lớn lấp cửa hang lại và sai người canh giữ chúng.

19 Còn anh em chớ dừng lại mà phải đuổi theo quân thù, chặn đánh phía sau, không cho chúng chạy vào thành của chúng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã phó chúng vào tay anh em.”

20 Khi Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại chúng cho đến khi quét sạch chúng, chỉ trừ số tàn quân rút vào trong những thành kiên cố,

21 thì cả dân chúng trở về với Giô-suê cách bình an trong trại quân tại Ma-kê-đa, và chẳng một kẻ nào dám hé môi nói nghịch với dân Y-sơ-ra-ên.

22 Bấy giờ, Giô-suê nói: “Hãy mở cửa hang đem năm vua đó ra và dẫn đến cho tôi.”

23 Họ làm như vậy, đem năm vua ra khỏi hang đá và dẫn đến cho ông, đó là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Éc-lôn.

24 Khi người ta dẫn năm vua ấy đến với Giô-suê thì Giô-suê gọi tất cả người nam của Y-sơ-ra-ên và bảo các vị chỉ huy quân đội đã đi với mình rằng: “Hãy lại gần, đạp chân lên cổ các vua nầy.” Họ đến gần, đạp chân trên cổ các vua ấy.

25 Giô-suê nói với họ: “Chớ e ngại hay kinh hãi; hãy mạnh dạn và can đảm vì Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy cho tất cả kẻ thù mà anh em sẽ giao chiến.”

26 Sau đó, Giô-suê đánh giết các vua ấy, bảo đem treo trên năm ngọn cây, và năm vua ấy bị treo trên cây cho đến chiều tối.

27 Khi mặt trời lặn, Giô-suê truyền lệnh đem thây xuống khỏi cây. Họ quăng những thây ấy trong hang đá, là chỗ các vua ấy đã trốn, rồi lấy những tảng đá lớn chặn cửa hang lại; những tảng đá ấy vẫn còn cho đến ngày nay.

28 Trong ngày đó, Giô-suê cũng đánh chiếm Ma-kê-đa, và lấy gươm giết cả thành cùng với vua thành ấy. Ông tiêu diệt thành và mọi sinh vật trong đó, không để một ai sống sót. Ông đối xử với vua Ma-kê-đa như đã đối xử với vua Giê-ri-cô vậy.

29 Sau đó, Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên từ Ma-kê-đa đi qua Líp-na và hãm đánh Líp-na.

30 Đức Giê-hô-va cũng phó Líp-na cùng vua thành ấy vào tay Y-sơ-ra-ên. Họ cầm gươm diệt thành và mọi người trong đó, không để một ai sống sót. Ông đối xử với vua thành nầy như đã đối xử với vua Giê-ri-cô vậy.

31 Kế đó, Giô-suê cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên từ Líp-na đi qua La-ki, vây hãm và tiến công thành.

32 Đức Giê-hô-va trao La-ki vào tay Y-sơ-ra-ên. Ngày thứ hai họ đánh chiếm thành, lấy gươm diệt thành và mọi sinh vật trong đó như đã làm cho Líp-na vậy.

33 Bấy giờ, Hô-ram, vua Ghê-xe, đi lên tiếp viện cho La-ki, nhưng Giô-suê đánh bại vua ấy và quân đội của vua nầy, không để một ai sống sót.

34 Giô-suê cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên từ La-ki đi qua Éc-lôn, vây hãm và tiến công thành.

35 Ngày ấy, họ đánh chiếm và lấy gươm diệt thành. Cũng trong ngày ấy, Giô-suê tận diệt thành và mọi người trong đó như đã làm cho La-ki vậy.

36 Kế đó, Giô-suê cùng toàn quân Y-sơ-ra-ên từ Éc-lôn đi lên Hếp-rôn, và tấn công nó.

37 Họ chiếm và lấy gươm diệt thành, vua, các thị trấn và mọi sinh vật trong đó, không để một ai sống sót. Ông tận diệt thành và mọi sinh vật trong đó như đã làm cho Éc-lôn vậy.

38 Giô-suê cùng toàn quân Y-sơ-ra-ên quay sang tiến công Đê-bia.

39 Ông chiếm thành và tất cả các thị trấn, rồi bắt vua nó và lấy gươm diệt chúng. Ông tận diệt mọi người trong đó, không để một ai sống sót. Ông cũng đối xử với Đê-bia và vua thành ấy như đã đối xử với Hếp-rôn và Líp-na cùng với vua của nó.

40 Như vậy Giô-suê đánh chiếm toàn xứ, nào miền núi, nào miền nam, nào miền chân núi, nào đồi dốc và tất cả các vua xứ đó. Ông không để một ai sống sót, tận diệt mọi vật có hơi thở, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền phán.

41 Giô-suê đánh bại các vua ấy từ Ca-đe Ba-nê-a cho đến Ga-xa, và toàn vùng Gô-sen cho đến Ga-ba-ôn.

42 Giô-suê bắt các vua nầy và chiếm lấy đất của họ chỉ trong một chiến dịch thôi, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên chiến đấu cho Y-sơ-ra-ên.

43 Sau đó, Giô-suê và toàn dân Y-sơ-ra-ên trở về trại quân ở Ghinh-ganh.

11

1 Khi nghe tin ấy, Gia-bin, vua Hát-so, sai sứ giả đến với Giô-báp, vua Ma-đôn, đến với vua Sim-rôn, vua Ạc-sáp,

2 và đến với các vua ở miền núi phía bắc, trong đồng bằng Ki-nê-rết phía nam, ở miền chân núi và trên cao nguyên Đô-rơ phía tây.

3 Vua cũng sai người đến với dân Ca-na-an về phía đông và phía tây, đến với dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít ở vùng đồi núi, và đến với dân Hê-vít ở dưới chân núi Hẹt-môn, trong đất Mích-pa.

4 Các vua nầy đem toàn quân ra trận, hợp thành một đạo quân đông như cát nơi bờ biển cùng với vô số ngựa và xe.

5 Tất cả các vua nầy liên kết lại và đóng quân chung với nhau gần các suối nước Mê-rôm để đánh dân Y-sơ-ra-ên.

6 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Đừng sợ, vì ngày mai ngay giờ nầy, Ta sẽ trao tất cả chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên để giết chúng. Con sẽ cắt nhượng ngựa và phóng hỏa đốt các xe cộ của chúng.”

7 Vậy Giô-suê và tất cả các chiến sĩ bất ngờ ập đến, tấn công chúng ở gần các suối nước Mê-rôm,

8 và Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay Y-sơ-ra-ên. Giô-suê và tất cả chiến sĩ đánh, truy đuổi chúng cho đến Đại Si-đôn, đến Mít-rê-phốt Ma-im, và đến thung lũng Mích-pê về phía đông. Họ giết chúng, không để một ai sống sót.

9 Giô-suê xử chúng đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn: cắt nhượng ngựa, và phóng hỏa đốt xe của chúng.

10 Lúc ấy, Giô-suê quay về chiếm Hát-so và dùng gươm giết vua thành nầy. Hát-so xưa vốn đứng đầu các vương quốc đó.

11 Giô-suê và quân lính dùng gươm giết tất cả người trong thành, không để một vật có hơi thở nào còn sống sót, và phóng hỏa đốt thành Hát-so.

12 Giô-suê cũng bắt các vua ấy giết bằng gươm rồi chiếm và hủy diệt các thành của chúng đúng như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền dặn.

13 Nhưng Y-sơ-ra-ên không đốt một thành nào ở trên đồi núi, trừ ra Hát-so mà Giô-suê đã đốt.

14 Dân Y-sơ-ra-ên tịch thu tất cả các chiến lợi phẩm và súc vật của các thành ấy, nhưng dùng gươm giết mọi người và tận diệt chúng. Họ không để cho một người nào sống sót.

15 Điều gì mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se, đầy tớ Ngài, thì Môi-se cũng đã truyền lại cho Giô-suê, và Giô-suê làm đúng theo mọi điều Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se, không bỏ sót điều nào cả.

16 Vậy, Giô-suê chiếm lấy toàn xứ nầy, gồm núi đồi, toàn miền Nê-ghép, toàn miền Gô-sen, miền chân núi và đồng bằng, miền núi Y-sơ-ra-ên cùng miền chân núi của nó;

17 từ phía núi Ha-lát chạy lên phía Sê-i-rơ cho đến Ba-anh Gát trong thung lũng Li-ban, dưới chân núi Hẹt-môn. Ông bắt tất cả vua các miền đó, đánh và giết đi.

18 Giô-suê tiến hành chiến tranh chống lại tất cả các vua ấy trong một thời gian khá lâu.

19 Chẳng có một thành nào lập hòa ước với dân Y-sơ-ra-ên, trừ ra dân Hê-vít ở Ga-ba-ôn. Dân Y-sơ-ra-ên chinh phục tất cả các thành bằng chiến tranh.

20 Vì Đức Giê-hô-va đã khiến cho các vua ấy cứng lòng chống cự Y-sơ-ra-ên để bị tiêu diệt hoàn toàn chứ không được thương xót, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

21 Trong lúc đó, Giô-suê quét sạch dân A-na-kim ở miền đồi núi, gồm Hếp-rôn, Đê-bia, A-náp, và ở khắp miền đồi núi Giu-đa cũng như khắp miền đồi núi Y-sơ-ra-ên. Giô-suê tận diệt chúng luôn với các thành của chúng.

22 Chẳng còn người A-na-kim nào trong đất của dân Y-sơ-ra-ên; chỉ còn lại một số ít ở Ga-xa, Gát, và Ách-đốt.

23 Vậy Giô-suê đã chiếm cả xứ như Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se, và ban xứ ấy cho Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp, theo sự phân chia cho từng bộ tộc. Sau đó, xứ được yên ổn, không còn giặc giã.

12

1 Đây là các vua trong xứ bị dân Y-sơ-ra-ên đánh bại và chiếm lấy đất của chúng ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc, từ thung lũng Ạt-nôn đến núi Hẹt-môn, và cả đồng bằng phía đông:

2 Si-hôn là vua dân A-mô-rít ở Hết-bôn. Vua nầy cai trị từ A-rô-e, là thành ở bên thung lũng Ạt-nôn, và từ giữa thung lũng nầy cho đến sông Gia-bốc, biên giới của dân Am-môn, tức là phân nửa xứ Ga-la-át.

3 Vua nầy cũng cai trị vùng đồng bằng cho đến biển Ki-nê-rết phía đông, cho đến tận biển của đồng bằng tức là Biển Chết, về hướng Bết Giê-si-mốt, ở phía nam dưới chân núi Phích-ga.

4 Vua Ba-san là Óc, một người còn sót của dân Rê-pha-im, sống tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i.

5 Vua nầy cai trị miền núi Hẹt-môn, miền Sanh-ca, và cả xứ Ba-san, cho đến biên giới dân Giê-su-rít và dân Ma-ca-thít, luôn cả phân nửa xứ Ga-la-át cho đến biên giới của Si-hôn, vua của Hết-bôn.

6 Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại chúng. Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, cấp đất ấy cho người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se làm sản nghiệp.

7 Và đây là các vua của xứ mà Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại ở bờ tây sông Giô-đanh, từ Ba-anh Gát trong thung lũng Li-ban, cho đến núi Ha-lát chạy về hướng Sê-i-rơ. Giô-suê cấp đất ấy cho các bộ tộc Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp theo sự phân chia của từng bộ tộc,

8 bao gồm miền núi, miền chân núi, đồng bằng, đồi dốc, hoang mạc và miền Nê-ghép, tức là cả vùng đất của dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít:

9 Vua Giê-ri-cô, vua A-hi ở cạnh Bê-tên,

10 vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn,

11 vua Giạt-mút, vua La-ki,

12 vua Éc-lôn, vua Ghê-xe,

13 vua Đê-bia, vua Ghê-đe,

14 vua Họt-ma, vua A-rát,

15 vua Líp-na, vua A-đu-lam,

16 vua Ma-kê-đa, vua Bê-tên,

17 vua Tháp-bu-ách, vua Hê-phe,

18 vua A-phéc, vua Sa-rôn,

19 vua Ma-đôn, vua Hát-so,

20 vua Sim-rôn Mê-rôn, vua Ạc-sáp,

21 vua Tha-a-nác, vua Mê-ghi-đô,

22 vua Kê-đe, vua Giốc-nê-am, ở tại Cạt-mên,

23 vua Đô-rơ ở trên cao nguyên Đô-rơ, vua Gô-im ở Ghinh-ganh,

24 và vua Tiệt-sa. Tất cả là ba mươi mốt vua.

13

1 Khi Giô-suê về già, tuổi đã cao, Đức Giê-hô-va phán với ông rằng: “Con đã già, tuổi đã cao, mà đất phải đánh chiếm thì còn nhiều lắm.

2 Đây là đất còn lại: Tất cả các địa phận của dân Phi-li-tin và tất cả các địa phận của dân Ghê-su-rít gồm

3 từ sông Si-cô đối diện Ai Cập cho đến biên giới Éc-rôn về phía bắc, vốn được coi là thuộc về dân Ca-na-an (năm vua Phi-li-tin là vua Ga-xa, vua Ách-đốt, vua Ách-ca-lôn, vua Gát, và vua Éc-rôn). Địa phận của dân A-vim

4 từ phía nam, toàn xứ Ca-na-an và Mê-a-ra, vốn thuộc về dân Si-đôn, cho đến A-phéc và đến tận biên giới dân A-mô-rít.

5 Địa phận của dân Ghi-bê-lít, và cả Li-ban về hướng mặt trời mọc, từ Ba-anh Gát ở chân núi Hẹt-môn cho đến cửa khẩu của Ha-mát.

6 Còn tất cả cư dân miền đồi núi, từ Li-ban cho đến Mít-rê-phốt Ma-im, luôn cả dân Si-đôn, chính Ta sẽ đuổi chúng khỏi dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng con hãy phân chia xứ nầy cho Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp như Ta đã truyền cho con.

7 Vậy bây giờ, hãy chia xứ nầy cho chín bộ tộc, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se.”

8 Người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lãnh từ Môi-se phần sản nghiệp của mình ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông, như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã cấp cho họ.

9 Địa phận của họ từ A-rô-e trên bờ thung lũng Ạt-nôn và thành ở giữa thung lũng nầy, cùng cả vùng cao nguyên từ Mê-đê-ba đến Đi-bôn,

10 và tất cả những thành của Si-hôn, vua A-mô-rít, trị vì tại Hết-bôn cho đến tận biên giới dân Am-môn;

11 Ga-la-át cùng địa phận dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít, khắp núi Hẹt-môn, cả Ba-san cho đến Sanh-ca,

12 và toàn vương quốc của vua Óc ở Ba-san. Vua nầy vốn cai trị tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i, và là người còn sót lại của dân Rê-pha-im mà Môi-se đánh bại và đuổi đi.

13 Tuy nhiên, dân Y-sơ-ra-ên không đuổi dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít. Vì thế, dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít còn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay.

14 Môi-se không cấp sản nghiệp cho bộ tộc Lê-vi vì những tế lễ dâng bằng lửa cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là sản nghiệp của họ như Ngài đã phán với Môi-se.

15 Môi-se cấp sản nghiệp cho bộ tộc Ru-bên theo từng gia tộc của họ.

16 Địa phận của họ chạy từ A-rô-e trên bờ thung lũng Ạt-nôn, và thành ở giữa thung lũng nầy, cùng toàn vùng cao nguyên gần Mê-đê-ba;

17 Hết-bôn và tất cả các thành của nó ở cao nguyên, là Đi-bôn, Ba-mốt Ba-anh, Bết Ba-anh Mê-ôn,

18 Gia-hát, Kê-đê-mốt, Mê-phát,

19 Ki-ri-a-ta-im, Síp-ma, Xê-rết Ha-sa-cha ở trên đồi trong thung lũng,

20 Bết Pê-o, các triền núi Pít-ga và Bết Giê-si-mốt,

21 tất cả các thành trên cao nguyên và toàn vương quốc của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, là vua từng cai trị tại Hết-bôn. Môi-se đã đánh bại vua nầy với các thủ lĩnh Ma-đi-an, là Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ, và Rê-ba, là các chư hầu của Si-hôn ở trong vùng đất đó.

22 Trong những người bị giết bởi gươm của dân Y-sơ-ra-ên có thuật sĩ Ba-la-am, con trai của Bê-ô.

23 Địa phận người Ru-bên lấy sông Giô-đanh làm ranh giới. Đó là sản nghiệp của người Ru-bên theo từng gia tộc, thành trì, và làng mạc của họ.

24 Môi-se cũng cấp một phần đất cho bộ tộc Gát, theo từng gia tộc của họ.

25 Địa phận của bộ tộc Gát là Gia-ê-xe, tất cả các thành của Ga-la-át, phân nửa xứ của dân Am-môn, cho đến A-rô-e đối diện với Ráp-ba;

26 và từ Hết-bôn cho đến Ra-mát Mít-pê, cùng Bê-tô-nim; và từ Ma-ha-na-im cho đến biên giới của Đê-bia.

27 Còn trong thung lũng có Bết Ha-ram, Bết Nim-ra, Su-cốt, và Xa-phôn, tức là phần còn lại của vương quốc Si-hôn, vua Hết-bôn, lấy sông Giô-đanh làm ranh giới cho đến cuối biển Ki-nê-rết, ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông.

28 Đó là sản nghiệp của người Gát theo từng gia tộc với thành trì và làng mạc của họ.

29 Môi-se cũng cấp một phần đất cho phân nửa bộ tộc Ma-na-se, tức là sản nghiệp của nửa bộ tộc Ma-na-se theo từng gia tộc của họ.

30 Địa phận của họ từ Ma-ha-na-im, toàn vùng Ba-san, cả vương quốc của Óc, vua của Ba-san, và tất cả các thị trấn của Giai-rơ thuộc Ba-san, có sáu mươi thành.

31 Phân nửa xứ Ga-la-át, Ách-ta-rốt, và Ết-rê-i, là các thành thuộc vương quốc của Óc tại Ba-san, được cấp cho phân nửa con cháu Ma-ki, chít của Ma-na-se, theo từng gia tộc của họ.

32 Đó là sản nghiệp mà Môi-se đã phân chia tại đồng bằng Mô-áp, ở bên kia sông Giô-đanh, về phía đông Giê-ri-cô.

33 Nhưng Môi-se không cấp sản nghiệp nào cho bộ tộc Lê-vi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là phần sản nghiệp của họ, đúng như Ngài đã phán với họ.

14

1 Đây là sản nghiệp mà dân Y-sơ-ra-ên nhận lãnh trong xứ Ca-na-an, do thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai Nun, và các trưởng gia tộc của các bộ tộc dân Y-sơ-ra-ên phân phát cho họ.

2 Họ bắt thăm để phân chia sản nghiệp cho chín bộ tộc và phân nửa bộ tộc, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

3 Môi-se đã cấp sản nghiệp cho hai bộ tộc và phân nửa bộ tộc ở bên kia sông Giô-đanh nhưng ông không cấp cho người Lê-vi sản nghiệp nào giữa các bộ tộc.

4 Con cháu Giô-sép đã trở thành hai bộ tộc là Ma-na-se và Ép-ra-im. Người Lê-vi không được cấp phần đất nào làm sản nghiệp mà chỉ được cấp các thành để ở, với những đồng cỏ chung quanh thành dùng cho các bầy súc vật và là tài sản của họ.

5 Dân Y-sơ-ra-ên đã phân chia đất đai đúng theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

6 Bấy giờ, con cháu Giu-đa đến với Giô-suê tại Ghinh-ganh, và Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, nói với ông rằng: “Ông biết những gì Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se, người của Đức Chúa Trời, tại Ca-đe Ba-nê-a liên quan đến ông và tôi.

7 Khi Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, ở Ca-đe Ba-nê-a sai tôi đi do thám xứ, thì tôi đã được bốn mươi tuổi; và tôi tường trình cho người cách trung thực.

8 Nhưng các anh em cùng đi lên với tôi đã làm cho dân chúng sờn lòng, còn tôi trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi.

9 Trong ngày đó, Môi-se có thề rằng: ‘Vùng đất mà chân anh đã đạp đến chắc chắn sẽ thuộc về anh và con cháu anh làm sản nghiệp đời đời, vì anh trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi.’

10 Kìa, trong bốn mươi lăm năm nay, từ khi Đức Giê-hô-va phán lời nầy với Môi-se trong lúc Y-sơ-ra-ên còn đi trong hoang mạc, Đức Giê-hô-va đã bảo tồn mạng sống tôi đến bây giờ, và nay tôi được tám mươi lăm tuổi.

11 Hiện nay tôi vẫn còn mạnh khỏe như ngày Môi-se sai tôi đi; tôi vẫn còn sức lực như ngày xưa để đi đánh giặc, hoặc vào ra.

12 Vậy hãy cấp cho tôi vùng đồi núi nầy mà Đức Giê-hô-va đã phán hứa trong ngày đó, vì lúc ấy ông đã nghe rằng ở đó có dân A-na-kim cùng các thành lớn và kiên cố. Xin Đức Giê-hô-va ở với tôi để tôi đuổi chúng đi như Ngài đã phán.”

13 Giô-suê chúc phước và cấp Hếp-rôn cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.

14 Vì thế, Hếp-rôn trở thành sản nghiệp của Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, cho đến ngày nay vì ông trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

15 Khi xưa Hếp-rôn gọi là Ki-ri-át A-ra-ba; A-ra-ba là người cao lớn hơn hết trong dân A-na-kim. Từ đó về sau, xứ sở được bình yên, không còn giặc giã.

15

1 Phần đất mà bộ tộc Giu-đa bắt thăm được theo từng gia tộc, chạy về phía nam ranh giới Ê-đôm đến hoang mạc Xin ở miền cực nam.

2 Ranh giới phía nam của họ chạy từ cuối Biển Muối, tức là từ vùng vịnh hướng về phía nam;

3 và từ dốc Ạc-ráp-bim chạy dài xuống miền nam, đi ngang qua Xin, lên phía nam Ca-đe Ba-nê-a, đi ngang qua Hết-rôn, lên hướng Át-đa, vòng qua Cạt-ca,

4 đi ngang về hướng Át-môn, nhập vào Suối Ai Cập và chạy đến tận biển. Đó sẽ là ranh giới phía nam của anh em.

5 Ranh giới phía đông là từ Biển Chết cho đến cửa sông Giô-đanh. Ranh giới phía bắc chạy từ vùng vịnh nơi cửa sông Giô-đanh,

6 đi lên Bết Hốt-la, trải qua phía bắc Bết A-ra-ba, và chạy đến hòn đá Bô-han, con trai của Ru-bên.

7 Biên giới nầy chạy lên đến Đê-bia, từ thung lũng A-cô chạy về hướng bắc vòng qua Ghinh-ganh, đối diện dốc A-đu-mim về phía nam của thung lũng; rồi chạy dọc mé nước Ên Sê-mết và đến Ên Rô-ghên.

8 Từ đó, ranh giới chạy lên gần thung lũng Bên Hi-nôm, dọc sườn đồi phía nam của Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem. Kế đó, nó chạy lên cho đến đỉnh núi nằm đối diện thung lũng Hi-nôm về hướng tây, ở cuối phía bắc thung lũng Rê-pha-im.

9 Ranh giới lại chạy từ đỉnh núi đến suối nước Nép-thô-ách, và kéo dài về hướng các thành của núi Ép-rôn; rồi chạy xuống đến Ba-la, là Ki-ri-át Giê-a-rim.

10 Nó chạy vòng từ Ba-la qua hướng tây đến núi Sê-i-rơ, rồi bọc theo sườn phía bắc của núi Giê-a-rim, tức là Kê-sa-lôn, chạy xuống đến Bết Sê-mết và ngang qua Thim-na.

11 Ranh giới nầy cứ chạy theo triền núi phía bắc Éc-rôn rồi vòng về Siếc-rôn, chạy qua núi Ba-la, thẳng đến Giáp-nê-ên, và dừng lại ở biển.

12 Còn ranh giới phía tây là bờ Biển Lớn. Đó là ranh giới bao quanh con cháu Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.

13 Theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, Giô-suê cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, một phần đất ở giữa người Giu-đa, là thành của A-ra-ba, cha A-nác. Đó là thành Hếp-rôn.

14 Ca-lép đuổi được ba con trai của A-nác, là Sê-sai, A-hi-man, và Tha-mai.

15 Từ đó ông đi lên đánh dân thành Đê-bia. Đê-bia trước kia tên là Ki-ri-át Sê-phe.

16 Ca-lép nói: “Ta sẽ gả con gái ta là Ạc-sa cho người nào đánh và chiếm lấy Ki-ri-át Sê-phe.”

17 Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na là anh Ca-lép, chiếm được thành và Ca-lép gả con gái ông là Ạc-sa cho chàng làm vợ.

18 Khi về với Ốt-ni-ên, nàng thuyết phục chàng xin cha nàng một thửa ruộng. Khi nàng xuống lừa, Ca-lép hỏi: “Con muốn điều gì?”

19 Nàng thưa: “Xin cha ban cho con một món quà, vì cha đặt con nơi đất Nê-ghép, nên xin cha cũng cho con luôn mấy suối nước”. Ca-lép liền cho nàng các suối nước ở miền trên và miền dưới.

20 Đó là sản nghiệp của bộ tộc Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.

21 Các thành ở cực nam của bộ tộc Giu-đa, gần biên giới Ê-đôm là: Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua,

22 Ki-na, Đi-mô-na, A-đê-a-đa,

23 Kê-đe, Hát-so, Gít-nan,

24 Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt,

25 Hát-so Ha-đa-tha, Kê-ri-giốt Hết-rôn, tức là Hát-so,

26 A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa,

27 Hát-sa-ga-đa, Hết-môn, Bết Pha-lết,

28 Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba, Bi-sốt-gia,

29 Ba-la, Y-dim, Ê-xem,

30 Ê-thô-lát, Kê-sinh, Họt-ma,

31 Xiếc-lác, Mát-ma-na, San-sa-na,

32 Lê-ba-ốt, Si-lim, A-in, và Rim-môn: tất cả là hai mươi chín thành với các làng mạc của chúng.

33 Trong miền chân núi có: Ết-tha-ôn, Xô-rê-a, Át-na,

34 Xa-nô-ách, Ên Ga-nim, Tháp-bu-ách, Ên-nam,

35 Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca,

36 Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đê-ra, và Ghê-đê-rô-tha-im: tất cả là mười bốn thành với các làng mạc của chúng.

37 Cũng có Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đanh Gát,

38 Đi-lan, Mích-pê, Giốc-thê-ên,

39 La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn,

40 Cáp-bôn, Lách-ma, Kít-lít,

41 Ghê-đê-rốt, Bết Đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa: tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng.

42 Líp-na, Ê-the, A-san,

43 Díp-tách, Át-na, Nết-síp,

44 Kê-i-la, Ạc-xíp, và Ma-rê-sa: tất cả là chín thành với các làng mạc của chúng.

45 Éc-rôn, với các thị trấn và làng mạc của nó;

46 từ Éc-rôn đến biển, tất cả các thành ở gần Ách-đốt cùng các làng mạc của chúng;

47 Ách-đốt, các thị trấn và các làng mạc của nó; Ga-xa, các thị trấn và các làng mạc của nó, cho đến Suối Ai Cập và bờ Biển Lớn.

48 Trong miền núi có: Sa-mia, Giạt-thia, Sô-cô,

49 Đa-na, Ki-ri-át Sa-na, tức là Đê-bia,

50 A-náp, Ết-thê-mô, A-nim,

51 Gô-sen, Hô-lôn, Ghi-lô: tất cả là mười một thành cùng các làng mạc của chúng.

52 A-ráp, Ru-ma, Ê-sê-an,

53 Gia-num, Bết Tháp-bu-ách, A-phê-ca,

54 Hum-ta, Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, và Si-ô: tất cả là chín thành với các làng mạc của chúng.

55 Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giu-ta,

56 Gít-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-ách;

57 Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na: tất cả là mười thành với các làng mạc của chúng.

58 Hanh-hun, Bết Xu-rơ, Ghê-đô,

59 Ma-a-rát, Bết A-nốt, và Ên-thê-côn: tất cả là sáu thành với các làng mạc của chúng.

60 Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, và Ráp-ba: tất cả là hai thành với các làng mạc của chúng.

61 Trong hoang mạc có Bết A-ra-ba, Mi-đin, Sê-ca-ca,

62 Níp-san, Thành Muối, và Ên-ghê-đi: tất cả là sáu thành với các làng mạc của chúng.

63 Người Giu-đa không đuổi được dân Giê-bu-sít ở tại Giê-ru-sa-lem nên dân Giê-bu-sít còn ở chung với người Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.

16

1 Phần đất mà con cháu Giô-sép đã bắt thăm được chạy từ sông Giô-đanh gần Giê-ri-cô, phía đông các suối Giê-ri-cô, băng qua hoang mạc, và từ thành Giê-ri-cô lên đến vùng đồi núi Bê-tên.

2 Ranh giới chạy dài từ Bê-tên đến Lu-xơ, đi qua địa phận dân A-rê-kít tại A-ta-rốt,

3 chạy xuống phía tây đến địa phận dân Giáp-lê-tít, cho đến địa phận Bết Hô-rôn Hạ và Ghê-xe rồi dừng lại ở biển.

4 Đó là phần sản nghiệp mà con cháu của Giô-sép là Ma-na-se và Ép-ra-im đã nhận lãnh.

5 Địa phận của Ép-ra-im theo từng gia tộc của họ như sau: ranh giới của sản nghiệp họ ở về phía đông, từ A-tê-rốt A-đa cho đến Bết Hô-rôn Thượng,

6 và từ đó chạy thẳng ra biển; về phía bắc là Mít-mê-thát; về phía đông, đường ranh giới nầy vòng về hướng Tha-a-nát Si-lô, và chạy về phía đông đến Gia-nô-ách,

7 rồi từ Gia-nô-ách, nó chạy xuống A-ta-rốt và Na-ra-tha, gặp Giê-ri-cô, và dừng lại ở sông Giô-đanh.

8 Từ Tháp-bu-ách, ranh giới nầy chạy về hướng tây đến suối Ca-na, rồi dừng lại ở biển. Đó là sản nghiệp của bộ tộc Ép-ra-im, theo từng gia tộc của họ.

9 Ngoài những thành trì và làng mạc đó, người Ép-ra-im cũng có những thành dành riêng cho họ trong sản nghiệp của người Ma-na-se.

10 Tuy nhiên, họ không đuổi dân Ca-na-an ở tại Ghê-xe nên dân Ca-na-an ở giữa Ép-ra-im cho đến ngày nay, nhưng chúng bị cưỡng bách lao động như nô lệ.

17

1 Bộ tộc Ma-na-se được bắt thăm chia đất vì ông là người con đầu lòng của Giô-sép. Con đầu lòng của Ma-na-se là Ma-ki, cha của Ga-la-át, là một chiến sĩ, nên được cấp cho vùng đất Ga-la-át và Ba-san.

2 Những người con khác của Ma-na-se cũng được bắt thăm chia đất theo từng gia tộc của họ: A-bi-ê-se, Hê-léc, Át-ri-ên, Si-chem, Hê-phe, Sê-mi-đa. Đó là các con trai của Ma-na-se, cháu Giô-sép, theo từng gia tộc của họ.

3 Xê-lô-phát, con trai của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, không có con trai, chỉ có các con gái tên là: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa.

4 Các cô ấy đến trước thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, trước Giô-suê, con trai Nun, và trước các nhà lãnh đạo mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se ban cho chúng tôi một phần sản nghiệp cùng với anh em chúng tôi.” Vậy, Giô-suê vâng lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho các cô ấy một phần sản nghiệp như các anh em của cha các cô.

5 Vậy Ma-na-se bắt thăm được mười phần, không kể đất Ga-la-át và Ba-san ở bên kia sông Giô-đanh,

6 vì các con gái Ma-na-se có một phần sản nghiệp cùng với các con trai ông, còn đất Ga-la-át được chia cho các con trai khác của Ma-na-se.

7 Ranh giới của Ma-na-se từ A-se đến Mít-mê-thát đối diện Si-chem, rồi chạy về phía nam đến chỗ ở của dân Ên Tháp-bu-ách.

8 Đất Tháp-bu-ách thuộc về Ma-na-se, nhưng thị trấn Tháp-bu-ách gần ranh giới của Ma-na-se thì thuộc về con cháu Ép-ra-im.

9 Từ đó, ranh giới nầy chạy xuống tận suối Ca-na; trong số các thành Ma-na-se ở phía nam của suối nầy, có những thành thuộc về Ép-ra-im. Ranh giới của Ma-na-se chạy về phía bắc của suối và dừng lại ở biển.

10 Phần đất phía nam thuộc về Ép-ra-im, phần đất phía bắc thuộc về Ma-na-se, lấy biển làm ranh giới. Phía bắc tiếp giáp với A-se, phía đông tiếp giáp với Y-sa-ca.

11 Trong địa phận Y-sa-ca và A-se, Ma-na-se còn có thành Bết Sê-an cùng các thị trấn phụ thuộc và thành Gíp-lê-am cùng các thị trấn phụ thuộc, bao gồm cả cư dân của Đô-rơ cùng các thị trấn phụ thuộc, cư dân của Ên-đô-rơ cùng các thị trấn phụ thuộc, cư dân của Tha-na-ác cùng các thị trấn phụ thuộc, cư dân của Mê-ghi-đô cùng các thị trấn phụ thuộc, và thành thứ ba là Na-phốt.

12 Tuy nhiên, con cháu Ma-na-se không thể chiếm các thành ấy nên dân Ca-na-an cứ ở trong xứ đó.

13 Nhưng khi dân Y-sơ-ra-ên trở nên hùng mạnh, họ cưỡng bách dân Ca-na-an lao động chứ không đuổi hết chúng được.

14 Con cháu của Giô-sép nói với Giô-suê: “Chúng tôi đã thành một dân đông người, vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho chúng tôi đến hôm nay. Vậy tại sao ông cho chúng tôi chỉ có một phần đất làm sản nghiệp thôi?”

15 Giô-suê đáp: “Nếu anh em đông như vậy và vùng núi Ép-ra-im quá hẹp thì anh em hãy lên khai phá rừng và tạo dựng cho mình một chỗ trong đất của dân Phê-rê-sít và dân Rê-pha-im.”

16 Nhưng con cháu Giô-sép đáp: “Miền núi không đủ chỗ cho chúng tôi, còn miền đồng bằng thì tất cả dân Ca-na-an ở đó đều có thiết xa, cả dân Bết Sê-an cùng các thị trấn của nó và dân ở thung lũng Gít-rê-ên, cũng vậy.”

17 Giô-suê nói với nhà Giô-sép, tức là Ép-ra-im và Ma-na-se, rằng: “Anh em là một dân đông, có sức mạnh thì sẽ không chỉ lãnh một phần đất thôi,

18 nhưng miền đồi núi sẽ thuộc về anh em, dù chỉ là đất rừng, anh em cũng sẽ khai phá nó, và biên cương của nó sẽ thuộc về anh em; vì anh em sẽ đuổi được dân Ca-na-an mặc dù chúng có thiết xa và hùng mạnh.”

18

1 Cả hội chúng dân Y-sơ-ra-ên nhóm họp tại Si-lô và dựng Lều Hội Kiến tại đó. Toàn xứ đều ở dưới quyền kiểm soát của họ.

2 Nhưng trong dân Y-sơ-ra-ên còn lại bảy bộ tộc chưa được phân chia sản nghiệp.

3 Giô-suê nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Anh em lần lữa cho đến chừng nào mới đi chiếm xứ mà Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, đã ban cho anh em?

4 Hãy chọn mỗi bộ tộc ba người và tôi sẽ sai đi. Họ sẽ đứng dậy đi khắp xứ, vẽ bản đồ theo từng phần sản nghiệp, rồi trở lại với tôi.

5 Họ sẽ chia xứ làm bảy phần. Giu-đa sẽ lưu lại trong địa phận của mình ở miền nam, nhà Giô-sép sẽ lưu lại trong địa phận của mình ở miền bắc.

6 Vậy, anh em hãy vẽ bản đồ của bảy phần đất và đem về đây cho tôi và tôi sẽ bắt thăm cho anh em tại đây trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.

7 Nhưng người Lê-vi không được chia đất với anh em vì chức tế lễ của Đức Giê-hô-va là phần sản nghiệp của họ. Còn Gát, Ru-bên, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lãnh phần sản nghiệp mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, ban cho họ ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông.”

8 Vậy những người ấy đứng dậy ra đi. Giô-suê truyền lệnh cho họ đi vẽ bản đồ của xứ, và nói: “Hãy đi khắp xứ vẽ bản đồ rồi trở lại với tôi và tại đây tôi sẽ bắt thăm cho anh em trước mặt Đức Giê-hô-va ở Si-lô.”

9 Các người ấy đi khắp xứ, vẽ bản đồ trên một quyển sách chia làm bảy phần, theo từng thị trấn, rồi trở lại với Giô-suê ở trại quân tại Si-lô.

10 Giô-suê bắt thăm cho họ tại Si-lô trước mặt Đức Giê-hô-va và tại đó Giô-suê phân chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên theo các bộ tộc của họ.

11 Bộ tộc thuộc con cháu Bên-gia-min bắt thăm theo từng gia tộc của họ và địa phận mà họ bắt thăm được nằm giữa bộ tộc Giu-đa và bộ tộc Giô-sép.

12 Ranh giới của Bên-gia-min về phía bắc chạy từ Giô-đanh, đi lên phía sau Giê-ri-cô về hướng bắc, băng qua miền đồi núi phía tây rồi dừng lại tại hoang mạc Bết A-ven.

13 Từ đó ranh giới chạy thẳng về hướng nam Lu-xơ, cũng gọi là Bê-tên, rồi chạy xuống A-ta-rốt A-đa trên ngọn đồi về phía nam Bết Hô-rôn Hạ.

14 Ranh giới đi vòng từ phía tây qua phía nam, tức là từ núi đối diện Bết Hô-rôn về phía nam và dừng lại ở Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, thành của người Giu-đa. Đó là ranh giới phía tây.

15 Biên giới phía nam bắt đầu từ ngoại thành Ki-ri-át Giê-a-rim về phía tây, chạy đến suối nước Nép-thô-ách,

16 rồi xuống đến chân núi nằm đối diện thung lũng Bên Hi-nôm, về phía bắc thung lũng Rê-pha-im. Nó chạy xuống thung lũng Hi-nôm ở sau lưng thành của dân Giê-bu-sít, về phía nam, rồi xuống đến Ên Rô-ghên.

17 Sau đó, ranh giới chạy về phía bắc đến Ên Sê-mết; từ đó đi thẳng về Ghê-li-lốt, đối diện dốc A-đu-mim, chạy xuống đến hòn đá Bô-han (Bô-han là con trai Ru-bên)

18 rồi đi ngang triền núi phía bắc A-ra-ba và chạy xuống A-ra-ba.

19 Ranh giới nầy đi qua Bết Hốt-la về hướng bắc, rồi dừng lại ở vịnh bắc của Biển Chết, phía cực nam của sông Giô-đanh. Đó là ranh giới về phía nam.

20 Phía đông giáp giới với sông Giô-đanh. Đó là sản nghiệp của con cháu Bên-gia-min và ranh giới bốn phía, theo từng gia tộc của họ.

21 Các thành của bộ tộc Bên-gia-min, theo từng gia tộc của họ là: Giê-ri-cô, Bết Hốt-la, Ê-méc-kê-sít,

22 Bết A-ra-ba, Xê-ma-ra-im, Bê-tên,

23 A-vim, Pha-ra, Óp-ra,

24 Kê-pha A-mô-nai, Óp-ni, và Ghê-ba: tất cả là mười hai thành và các làng mạc của chúng.

25 Ga-ba-ôn, Ra-ma, Bê-ê-rốt,

26 Mích-pê, Kê-phi-ra, Một-sa,

27 Rê-kem, Giệt-bê-ên, Tha-rê-a-la,

28 Xê-la, Ê-lép, Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem, Ghi-bê-át, Ki-ri-át. Tất cả là mười bốn thành với các làng mạc của chúng. Đó là sản nghiệp của con cháu Bên-gia-min theo từng gia tộc của họ.

19

1 Bộ tộc thuộc con cháu Si-mê-ôn bắt thăm được phần đất thứ nhì theo từng gia tộc của họ. Sản nghiệp của bộ tộc nầy ở giữa sản nghiệp của con cháu Giu-đa.

2 Sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn gồm có: Bê-e Sê-ba, Sê-ba, Mô-la-đa,

3 Hát-sa Su-anh, Ba-la, Ê-xem,

4 Ên-thô-lát, Bê-thu, Họt-ma,

5 Xiếc-lác, Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sa,

6 Bết Lê-ba-ốt, và Sê-a-ru-chen: tất cả là mười ba thành cùng các làng mạc của chúng.

7 A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san. Tất cả là bốn thành cùng các làng mạc của chúng,

8 bao gồm tất cả các thị trấn chung quanh những thành ấy cho đến Ba-lát Bê-e, tức là Ra-ma ở miền Nê-ghép. Đó là sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn theo từng gia tộc của họ.

9 Sản nghiệp của con cháu Si-mê-ôn lấy từ phần đất của người Giu-đa vì phần đất của con cháu Giu-đa rất rộng. Như vậy, con cháu Si-mê-ôn được sản nghiệp giữa phần đất của con cháu Giu-đa.

10 Con cháu của Sa-bu-lôn bắt thăm được phần đất thứ ba theo từng gia tộc của họ. Ranh giới của họ chạy đến Sa-rít.

11 Ranh giới đi lên phía tây về hướng Ma-rê-a-la, gặp Đáp-bê-sết rồi đến suối đối diện Giốc-nê-am.

12 Từ Sa-rít, ranh giới vòng qua hướng đông, tức hướng mặt trời mọc, tiếp giáp Kít-lốt Tha-bô, rồi đi về hướng Đáp-bê-rát, và lên đến Gia-phia.

13 Từ đó, nó chạy về phía đông, tức hướng mặt trời mọc đến Gát Hê-phe và Ết Cát-sin, đi vòng qua Nê-a rồi đến Rim-môn.

14 Sau đó, ranh giới ấy vòng lên phía bắc về hướng Ha-na-thôn rồi dừng lại ở thung lũng Díp-thách Ên.

15 Nó gồm có các thành Cát-tát, Na-ha-la, Sim-rôn, Di-đê-a-la, và Bết-lê-hem. Tất cả là mười hai thành với các làng mạc của chúng.

16 Các thành nầy cùng các làng mạc của chúng là sản nghiệp của người Sa-bu-lôn theo từng gia tộc của họ.

17 Con cháu Y-sa-ca bắt thăm được phần đất thứ tư theo từng gia tộc của họ.

18 Ranh giới của họ chạy đến Gít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem,

19 Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-cha-rát,

20 Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bết;

21 Rê-mết, Ên Ga-nim, Ên Ha-đa, và Bết Phát-sết.

22 Ranh giới nầy gặp Tha-bô, Sa-chát-si-ma, và Bết Sê-mết, rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. Tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng.

23 Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu Y-sa-ca theo từng gia tộc của họ.

24 Bộ tộc thuộc con cháu A-se bắt thăm được phần đất thứ năm, theo từng gia tộc của họ.

25 Ranh giới nầy bao gồm: Hên-cát, Ha-li, Bê-ten, Ạc-sáp,

26 A-lam-mê-léc, A-mê-át, và Mi-sê-anh. Phía tây gặp Cạt-mên và khe Líp-nát

27 rồi vòng qua phía mặt trời mọc, hướng về Bết Đa-gôn, gặp Sa-bu-lôn và thung lũng Díp-thách Ên ở về phía bắc Bết Ê-méc và Nê-i-ên, rồi chạy qua Ca-bun về phía trái,

28 đến Ếp-rôn, Rê-hốp, Ham-môn, Ca-na cho đến thành lớn Si-đôn.

29 Ranh giới nầy lại vòng về Ra-ma cho đến thành kiên cố Ty-rơ rồi chạy đến Hô-sa và dừng lại ở biển, trong vùng Ạc-xíp,

30 U-ma, A-phéc, và Rê-hốp. Tất cả là hai mươi hai thành cùng các làng mạc của chúng.

31 Các thành nầy và những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu thuộc bộ tộc A-se theo từng gia tộc của họ.

32 Con cháu bộ tộc Nép-ta-li bắt thăm được phần đất thứ sáu theo từng gia tộc của họ.

33 Ranh giới của họ chạy từ Hê-lép, từ cây sồi ở Sa-na-nim, về hướng A-đa-mi Nê-kép và Giáp-nê-ên cho đến Lạc-cum rồi dừng lại ở sông Giô-đanh.

34 Sau đó, ranh giới nầy vòng về phía tây, đi đến Át-nốt Tha-bô rồi từ đó chạy về Hục-cốc. Phía nam giáp địa phận Sa-bu-lôn, phía tây giáp địa phận A-se và Giu-đa, phía mặt trời mọc giáp sông Giô-đanh.

35 Các thành kiên cố là: Xi-đim, Xe-rơ, Ha-mát, Ra-cát, Ki-nê-rết,

36 A-đa-ma, Ra-ma, Hát-so,

37 Kê-đe, Ết-rê-i, Ên Hát-so,

38 Gi-rê-ôn, Mít-đa-ên, Hô-rem, Bết A-nát, và Bết Sê-mết. Tất cả là mười chín thành cùng các làng mạc của chúng.

39 Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc thuộc con cháu Nép-ta-li theo từng gia tộc của họ.

40 Con cháu thuộc bộ tộc Đan bắt thăm được phần đất thứ bảy theo từng gia tộc của họ.

41 Ranh giới của họ gồm Xô-rê-a, Ết-tha-ôn, Yết Sê-mết,

42 Sa-la-bin, A-gia-lôn, Gít-la,

43 Ê-lôn, Thim-na-tha, Éc-rôn,

44 Ên-the-kê, Ghi-bê-thôn, Ba-lát,

45 Giê-hút, Bê-nê Bê-rác, Gát Rim-môn,

46 Mê Giạt-côn, và Ra-côn, cùng với phần đất đối diện Gia-phô.

47 Khi địa phận của Đan bị xâm lấn, người Đan đi lên tiến đánh Lê-sem, dùng gươm diệt thành ấy, chiếm nó làm sản nghiệp và định cư tại đó, rồi gọi thành Lê-sem là Đan theo tên tổ phụ của họ.

48 Các thành nầy cùng với các làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc Đan, theo từng gia tộc của họ.

49 Khi đã được chia đất theo từng địa phận rồi, dân Y-sơ-ra-ên lấy một phần sản nghiệp ở giữa họ mà cấp cho Giô-suê, con trai của Nun.

50 Dân Y-sơ-ra-ên tuân lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho ông cái thành mà ông xin, là thành Thim-nát Sê-rách trong núi Ép-ra-im. Ông xây dựng thành và định cư tại đó.

51 Đó là các sản nghiệp mà thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên bắt thăm phân phát tại Si-lô, tại Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Như vậy họ hoàn tất việc phân chia đất.

20

1 Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê:

2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên lập các thành trú ẩn mà Ta đã phán với các con qua Môi-se

3 để cho kẻ vô ý giết người có thể trốn ở nơi ấy. Các thành đó sẽ là nơi ẩn lánh khỏi kẻ đòi nợ máu.

4 Kẻ ngộ sát sẽ chạy trốn đến một trong các thành ấy, đứng nơi cổng thành, trình bày sự việc cho các trưởng lão của thành ấy nghe. Các trưởng lão sẽ tiếp nhận người ấy vào thành, chỉ định một chỗ và người ấy sẽ ở đó với họ.

5 Nếu kẻ đòi nợ máu đuổi theo, các trưởng lão chớ nộp kẻ ngộ sát vào tay người ấy, vì kẻ sát nhân làm thiệt mạng người lân cận mình chỉ vì vô ý chứ không phải trước kia có hận thù gì với người nầy.

6 Kẻ ngộ sát phải ở trong thành ấy cho đến khi được xét xử trước hội chúng, và cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương chức qua đời. Khi đó, kẻ ngộ sát sẽ trở về thành và nhà mình, tức là thành mà mình đã trốn khỏi.”

7 Vậy dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng thành Kê-đe ở Ga-li-lê, trên núi Nép-ta-li, thành Si-chem trên núi Ép-ra-im và thành Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, trên vùng đồi núi Giu-đa.

8 Vùng bên kia sông Giô-đanh, phía đông thành Giê-ri-cô, họ chỉ định thành Bết-se trong hoang mạc, trên cao nguyên thuộc bộ tộc Ru-bên, thành Ra-mốt ở vùng Ga-la-át, thuộc bộ tộc Gát và thành Gô-lan ở vùng Ba-san, thuộc bộ tộc Ma-na-se.

9 Đó là các thành được chỉ định cho toàn dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều cư trú tại đó để người nào vô ý làm thiệt mạng ai có thể trú ẩn ở đó mà không bị tay kẻ đòi nợ máu giết chết trước khi được đưa ra trước hội chúng.

21

1 Bấy giờ, các trưởng gia tộc người Lê-vi đến với thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên,

2 và nói với họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an rằng: “Đức Giê-hô-va đã truyền bảo Môi-se cấp cho chúng tôi các thành để ở và các đồng cỏ chung quanh dùng cho súc vật chúng tôi.”

3 Vậy dân Y-sơ-ra-ên vâng lệnh Đức Giê-hô-va, lấy trong sản nghiệp của họ những thành sau đây và những đồng cỏ chung quanh mà cấp cho người Lê-vi.

4 Các gia tộc Kê-hát bắt thăm được phần của mình: Con cháu của thầy tế lễ A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành từ bộ tộc Giu-đa, bộ tộc Si-mê-ôn, và bộ tộc Bên-gia-min.

5 Con cháu khác của Kê-hát bốc thăm được mười thành từ bộ tộc Ép-ra-im, bộ tộc Đan, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se.

6 Con cháu Ghẹt-sôn bốc thăm được mười ba thành từ bộ tộc Y-sa-ca, bộ tộc A-se, bộ tộc Nép-ta-li, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se ở Ba-san.

7 Con cháu Mê-ra-ri, theo từng gia tộc của họ, được mười hai thành từ bộ tộc Ru-bên, bộ tộc Gát, và bộ tộc Sa-bu-lôn.

8 Dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm cấp cho người Lê-vi các thành kể trên với các đồng cỏ chung quanh, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se.

9 Dân Y-sơ-ra-ên lấy các thành có tên sau đây thuộc bộ tộc Giu-đa và bộ tộc Si-mê-ôn mà cấp cho họ.

10 Con cháu A-rôn thuộc các gia tộc Kê-hát, là con trai Lê-vi, được các thành ấy, vì thăm trúng về họ trước tiên.

11 Người ta cấp cho họ thành Ki-ri-át A-ra-ba, (A-ra-ba là cha của A-nác), tức là Hếp-rôn ở trên núi Giu-đa, và các đồng cỏ chung quanh nó.

12 Còn các cánh đồng của thành và các làng mạc của nó thì được cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.

13 Người ta cấp cho con cháu thầy tế lễ A-rôn thành Hếp-rôn, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; Líp-na và các đồng cỏ chung quanh;

14 Giạt-thia và các đồng cỏ chung quanh; Ê-thê-mô-a và các đồng cỏ chung quanh;

15 Hô-lôn và các đồng cỏ chung quanh; Đê-bia và các đồng cỏ chung quanh;

16 A-in và các đồng cỏ chung quanh; Giu-ta và các đồng cỏ chung quanh; Bết Sê-mết và các đồng cỏ chung quanh. Đó là chín thành của hai bộ tộc nầy.

17 Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Bên-gia-min mà cấp cho họ. Đó là thành Ga-ba-ôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-ba và các đồng cỏ chung quanh;

18 thành A-na-tốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Anh-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

19 Các thành của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, tất cả là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.

20 Những người Lê-vi thuộc các gia tộc khác của Kê-hát nhận được các thành thuộc bộ tộc Ép-ra-im làm sản nghiệp.

21 Người ta cấp cho họ thành Si-chem là nơi trú ẩn cho kẻ ngộ sát, ở trên núi Ép-ra-im, và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-xe và các đồng cỏ chung quanh;

22 thành Kíp-sa-im và các đồng cỏ chung quanh; thành Bết Hô-rôn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

23 Người ta lấy các thành từ bộ tộc Đan mà cấp cho họ: đó là thành Ên-the-kê và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghi-bê-thôn và các đồng cỏ chung quanh;

24 thành A-gia-lôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Gát-rim-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

25 Người ta cũng lấy các thành từ phân nửa bộ tộc Ma-na-se: đó là thành Tha-a-nác và các đồng cỏ chung quanh; thành Gát Rim-môn và các đồng cỏ chung quanh.

26 Tổng cộng là mười thành và các đồng cỏ chung quanh được cấp cho những gia tộc còn lại thuộc dòng Kê-hát.

27 Người ta cũng lấy các thành từ phân nửa bộ tộc Ma-na-se. Đó là thành Gô-lan ở xứ Ba-san, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát mà cấp cho con cháu Ghẹt-sôn thuộc về gia tộc Lê-vi, cùng các đồng cỏ chung quanh thành; Bết-ê-ra cùng các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

28 Người ta cũng lấy các thành bộ tộc Y-sa-ca, đó là thành Ki-si-ôn và các đồng cỏ chung quanh; Đáp-bê-rát và các đồng cỏ chung quanh;

29 thành Giạt-mút và các đồng cỏ chung quanh; Ên Ga-nim và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

30 Người ta cũng lấy các thành thuộc bộ tộc A-se, đó là Mi-sê-anh và các đồng cỏ chung quanh; Áp-đôn và các đồng cỏ chung quanh;

31 thành Hên-cát và các đồng cỏ chung quanh; thành Rê-hốp và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

32 Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Nép-ta-li, đó là thành Kê-đe ở Ga-li-lê, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát và các đồng cỏ chung quanh; thành Ha-mốt Đô-rơ và các đồng cỏ chung quanh; thành Cạt-than và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là ba thành.

33 Tổng cộng các thành của người Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc, là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.

34 Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Sa-bu-lôn mà cấp cho những gia tộc Mê-ra-ri, tức là những người Lê-vi còn lại. Đó là thành Giốc-nê-am và các đồng cỏ chung quanh; thành Cạt-ta và các đồng cỏ chung quanh;

35 Thành Đim-na và các đồng cỏ chung quanh; thành Na-ha-la và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

36 Người ta cũng lấy từ bộ tộc Ru-bên các thành, đó là thành Bết-se và các đồng cỏ chung quanh; thành Giát-sa và các đồng cỏ chung quanh;

37 thành Kê-đê-mốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Mê-phát và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

38 Người ta cũng lấy từ bộ tộc Gát các thành, đó là Ra-mốt ở xứ Ga-la-át, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; thành Ma-ha-na-im và các đồng cỏ chung quanh;

39 thành Hết-bôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Gia-ê-xe và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

40 Tổng cộng các thành cấp cho các gia tộc Mê-ra-ri, tức là phần còn lại của các gia tộc thuộc Lê-vi, là mười hai thành.

41 Tổng cộng các thành của người Lê-vi ở giữa sản nghiệp dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi tám thành cùng các đồng cỏ chung quanh.

42 Mỗi thành ấy đều có các đồng cỏ chung quanh và tất cả thành ấy đều giống như vậy.

43 Như vậy, Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ mà Ngài đã thề hứa với tổ phụ họ. Họ chiếm hữu và định cư ở đó.

44 Đức Giê-hô-va ban cho bốn phía đều được yên ổn, đúng như Ngài đã thề với tổ phụ họ, không một kẻ thù nào đứng nổi trước mặt họ. Đức Giê-hô-va phó tất cả kẻ thù vào tay họ.

45 Trong mọi lời hứa tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là vô hiệu. Tất cả đều được ứng nghiệm.

22

1 Bấy giờ, Giô-suê triệu tập người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se

2 mà nói rằng: “Anh em đã tuân giữ mọi điều Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, truyền cho anh em, và vâng theo mọi điều tôi truyền bảo.

3 Trải qua một thời gian dài cho đến hôm nay, anh em đã không bỏ rơi anh em mình nhưng đã làm tròn bổn phận, theo mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

4 Bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã cho các anh em của anh em được nghỉ ngơi đúng như lời Ngài đã hứa. Vậy hãy trở về nhà trong vùng đất thuộc về anh em mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho anh em ở bên kia sông Giô-đanh.

5 Nhưng phải cẩn thận làm theo điều răn và luật pháp mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho anh em, tức là kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, đi theo đường lối Ngài, tuân giữ các điều răn Ngài, gắn bó với Ngài, và hết lòng, hết linh hồn mà phục vụ Ngài.”

6 Rồi Giô-suê chúc phước cho họ và cho họ về. Tất cả đều trở về trại mình.

7 Môi-se đã cấp sản nghiệp cho phân nửa bộ tộc Ma-na-se tại Ba-san; còn Giô-suê cấp sản nghiệp cho phân nửa còn lại chung với anh em mình ở bên nầy sông Giô-đanh, về phía tây. Khi Giô-suê cho họ trở về nhà, ông chúc phước cho họ

8 và nói rằng: “Anh em trở về với nhiều của cải, nhiều súc vật, cùng vàng, bạc, đồng, sắt, và quần áo dư dật. Hãy chia sẻ chiến lợi phẩm lấy được của kẻ thù cho các anh em mình.”

9 Vậy, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se từ biệt dân Y-sơ-ra-ên tại Si-lô trong đất Ca-na-an, để trở về Ga-la-át, là phần đất mà họ đã chiếm hữu theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va truyền phán qua Môi-se.

10 Khi đã đến trong địa phận Giô-đanh thuộc vùng đất Ca-na-an, thì người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se lập tại đó một bàn thờ rất lớn bên bờ sông Giô-đanh.

11 Khi dân Y-sơ-ra-ên nghe tin người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lập một bàn thờ trong địa phận Giô-đanh thuộc đất Ca-na-an, đối diện với dân Y-sơ-ra-ên

12 thì cả hội chúng Y-sơ-ra-ên họp lại tại Si-lô, để tiến đánh họ.

13 Dân Y-sơ-ra-ên sai Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, đến với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se tại đất Ga-la-át.

14 Cùng đi với ông có mười thủ lĩnh, mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên một người. Mỗi người trong họ cai trị hàng nghìn người Y-sơ-ra-ên.

15 Họ đến với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se trong đất Ga-la-át và nói:

16 “Toàn thể hội chúng của Đức Giê-hô-va nói: ‘Tại sao anh em lại phạm tội bất trung với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên như thế? Tại sao ngày nay anh em từ bỏ Đức Giê-hô-va mà lập một bàn thờ để phản nghịch Ngài?

17 Tội lỗi của chúng ta tại Phê-ô đã gây tai họa cho cả hội chúng của Đức Giê-hô-va và cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa rửa sạch được. Phạm tội như thế vẫn chưa đủ sao?

18 Thế mà ngày nay anh em lại từ bỏ Đức Giê-hô-va sao? Nếu hôm nay anh em nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va thì ngày mai chắc Ngài sẽ nổi giận với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.

19 Nếu đất anh em chiếm hữu bị ô uế thì hãy đi qua phần đất thuộc sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, là nơi đền tạm của Đức Giê-hô-va được thiết lập để nhận phần đất ở giữa chúng tôi. Nhưng chớ nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va hoặc chống lại chúng tôi, mà tự xây cho mình một bàn thờ ngoài bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.

20 Chẳng phải A-can, con trai Xê-rách đã phạm tội bất trung về vật đáng bị hủy diệt mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sao? Và không phải một mình người ấy chết vì tội mình thôi đâu!’”

21 Bấy giờ, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se trả lời với các trưởng gia tộc của hàng nghìn người Y-sơ-ra-ên rằng:

22 “Giê-hô-va, Thần của các thần! Giê-hô-va, Thần của các thần! Ngài biết điều đó và Y-sơ-ra-ên cũng sẽ biết điều đó! Nếu đây là sự nổi loạn hay bất trung với Đức Giê-hô-va, thì ngày nay đừng dung thứ chúng tôi!

23 Nếu chúng tôi có lập một bàn thờ để lìa bỏ Đức Giê-hô-va, hoặc để dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ bình an tại đó, nguyện chính Đức Giê-hô-va hạch tội chúng tôi!

24 Chúng tôi lập bàn thờ nầy, vì chúng tôi sợ con cháu của anh em một mai nói với con cháu chúng tôi rằng: ‘Các người đâu có liên hệ gì với Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên?

25 Hỡi con cháu Ru-bên, con cháu Gát, Đức Giê-hô-va đã đặt sông Giô-đanh làm ranh giới giữa chúng tôi và các người, các người chẳng có phần gì nơi Đức Giê-hô-va!’ Như vậy con cháu của anh em sẽ làm cho con cháu chúng tôi không tiếp tục kính sợ Đức Giê-hô-va nữa.

26 Vì thế, chúng tôi có nói rằng chúng ta sẽ lập một bàn thờ, chẳng phải để dâng tế lễ thiêu hay là dâng sinh tế,

27 nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và anh em cùng các thế hệ sau chúng tôi rằng chúng tôi có dâng tế lễ thiêu, các sinh tế và tế lễ bình an mà thờ phượng Đức Giê-hô-va trước mặt Ngài. Như thế, về sau con cháu anh em không nói với con cháu chúng tôi rằng: ‘Các người không có phần gì nơi Đức Giê-hô-va!’

28 Chúng tôi cũng nói rằng khi nào họ nói điều đó với chúng tôi hay nói với các thế hệ sau chúng tôi, thì chúng tôi sẽ trả lời: ‘Hãy xem kiểu mẫu bàn thờ Đức Giê-hô-va mà tổ phụ chúng tôi đã lập, không phải dùng cho tế lễ thiêu hay là dâng sinh tế, nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và các người!’

29 Chúng tôi ngày nay không hề có ý nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va và lìa bỏ Ngài, mà lập một bàn thờ khác hơn bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta trước mặt đền tạm để dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay và sinh tế.”

30 Khi thầy tế lễ Phi-nê-a và các nhà lãnh đạo hội chúng, tức là các thủ lĩnh của hàng nghìn người Y-sơ-ra-ên đi theo ông, nghe những lời của người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se nói, thì họ đều lấy làm hài lòng.

31 Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, nói với người Ru-bên, người Gát, và người Ma-na-se rằng: “Ngày nay chúng tôi nhận biết rằng Đức Giê-hô-va ngự giữa chúng ta, vì anh em không phạm tội bất trung với Đức Giê-hô-va, và như vậy anh em đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay Đức Giê-hô-va.”

32 Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và những người lãnh đạo từ giã người Ru-bên, người Gát ở đất Ga-la-át, trở về với dân Y-sơ-ra-ên ở đất Ca-na-an và thuật lại cho họ điều đã xảy ra.

33 Nghe lời tường trình, dân Y-sơ-ra-ên hài lòng. Họ ngợi ca Đức Chúa Trời và không còn ý định tiến đánh người Ru-bên và người Gát để hủy diệt vùng đất họ định cư nữa.

34 Vậy người Ru-bên và người Gát đặt tên bàn thờ là Ết, vì họ nói “Bàn thờ nầy làm chứng giữa chúng ta rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.”

23

1 Sau một thời gian dài, khi Đức Giê-hô-va đã cho Y-sơ-ra-ên được yên ổn, không còn kẻ thù chung quanh nào nữa, và khi Giô-suê đã già, tuổi cao,

2 thì Giô-suê triệu tập toàn thể Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão, các thủ lĩnh, các thẩm phán, và các quan chức mà nói rằng: “Tôi nay đã già, cao tuổi rồi.

3 Anh em đã thấy mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã làm cho những dân tộc nầy chỉ vì anh em, chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã chiến đấu cho anh em.

4 Nầy, tôi đã bắt thăm cấp cho các bộ tộc anh em đất của các dân tộc còn lại làm sản nghiệp và đất của tất cả các dân tộc mà tôi đã diệt, từ sông Giô-đanh cho đến Biển Lớn, về phía tây.

5 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ đẩy lui và đuổi các dân ấy khỏi anh em và anh em sẽ chiếm lấy đất của chúng, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã hứa.

6 Vậy, hãy vững lòng gìn giữ và làm theo mọi điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se, đừng xây qua bên phải hoặc bên trái.

7 Đừng pha trộn với các dân tộc còn lại ở giữa anh em, đừng nhắc đến danh các thần của chúng hoặc lấy danh các thần ấy mà thề, và đừng phục vụ hoặc cúi lạy trước các thần đó.

8 Nhưng phải gắn bó với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, như anh em đã làm đến ngày nay.

9 Vì Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi anh em những dân tộc lớn và hùng mạnh, và đến ngày nay chẳng ai có thể đứng nổi trước mặt anh em.

10 Một người trong anh em đuổi được cả một nghìn người của chúng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Đấng chiến đấu cho anh em như Ngài đã hứa.

11 Vậy, hãy cẩn thận giữ mình để kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

12 Nếu anh em trở lòng và hiệp với phần còn lại của các dân tộc nầy ở giữa anh em và kết thông gia với chúng cũng như liên hiệp với chúng,

13 thì phải biết chắc rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ không tiếp tục đuổi những dân tộc nầy khỏi anh em nữa. Nhưng chúng sẽ làm lưới và bẫy cho anh em, làm roi đánh vào sườn, làm gai đâm vào mắt, cho đến khi nào anh em bị tiêu diệt khỏi xứ sở tươi đẹp nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã ban cho anh em.

14 Bây giờ tôi sắp đi con đường mà cả thế gian phải đi. Vậy hãy hết lòng, hết linh hồn nhận biết rằng trong các lời lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phán với anh em, chẳng có một lời nào sai, nhưng tất cả đều ứng nghiệm cho anh em. Thật, chẳng một lời nào sai cả.

15 Nếu tất cả những điều lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phán được ứng nghiệm cho anh em thế nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ đem những điều dữ đến trên anh em thế ấy, cho đến chừng Ngài hủy diệt anh em khỏi xứ tốt đẹp nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho anh em.

16 Nếu anh em vi phạm giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã thiết lập, và đi phụng sự các thần khác cùng quỳ lạy trước chúng, thì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ nổi bừng lên với anh em, và anh em sẽ sớm bị tiêu diệt khỏi xứ sở tươi đẹp mà Ngài đã ban cho anh em.”

24

1 Giô-suê họp các bộ tộc Y-sơ-ra-ên tại Si-chem, và triệu tập các trưởng lão, các thủ lĩnh, các thẩm phán và các quan chức của Y-sơ-ra-ên lại, và họ đều trình diện trước Đức Chúa Trời.

2 Giô-suê nói với toàn dân rằng: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, có phán: ‘Thuở xưa, tổ phụ các con là Tha-rê, cha của Áp-ra-ham và Na-cô, ở bên kia sông Ơ-phơ-rát và phụng sự các thần khác.

3 Nhưng Ta đem Áp-ra-ham, tổ phụ các con, từ bên kia sông ấy và dẫn dắt người đi khắp đất Ca-na-an, ban Y-sác cho người và làm cho dòng dõi người sinh sản thêm nhiều.

4 Ta ban Gia-cốp và Ê-sau cho Y-sác, rồi ban núi Sê-i-rơ cho Ê-sau làm sản nghiệp, nhưng Gia-cốp và các con cái người đều đi xuống Ai Cập.

5 Kế đó, Ta sai Môi-se và A-rôn, và Ta giáng các tai họa lên cả Ai Cập rồi đem các con ra khỏi đó.

6 Ta đem tổ phụ các con ra khỏi Ai Cập và đi đến biển. Người Ai Cập dùng xe ngựa và kỵ binh đuổi theo tổ phụ các con đến Biển Đỏ.

7 Bấy giờ, khi tổ phụ các con kêu cầu Đức Giê-hô-va, thì Ta giáng sự tối tăm xuống giữa các con và dân Ai Cập, dẫn nước biển chôn vùi chúng. Mắt tổ phụ các con đã chứng kiến điều Ta đã làm cho người Ai Cập. Sau đó, các con đã ở trong hoang mạc một thời gian dài.

8 Kế đó, Ta dẫn các con vào đất của dân A-mô-rít, ở bên kia sông Giô-đanh. Chúng tiến đánh các con, và Ta phó chúng vào tay các con. Các con chiếm xứ của chúng làm sản nghiệp, và Ta đã tiêu diệt chúng khỏi các con.

9 Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp, trỗi dậy tiến đánh Y-sơ-ra-ên và sai mời Ba-la-am, con trai Bê-ô, đến rủa sả các con.

10 Nhưng Ta không nghe Ba-la-am; vì vậy, nó buộc phải chúc phước cho các con, và Ta đã giải cứu các con khỏi tay Ba-lác.

11 Sau khi qua sông Giô-đanh, các con đến thành Giê-ri-cô. Dân thành Giê-ri-cô, cũng như dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Ghi-rê-ga-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít tiến đánh các con, và Ta đã phó chúng vào tay các con.

12 Ta sai ong lỗ đi trước các con để đuổi hai vua dân A-mô-rít khỏi các con; đó chẳng phải nhờ gươm hay cung của các con đâu.

13 Ta ban cho các con đất mà các con không phải khai phá, những thành mà các con không phải xây dựng, và các con đã ở đó; những vườn nho và vườn ô-liu các con không trồng mà lại được ăn.’

14 Vậy bây giờ, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và phụng sự Ngài một cách thành tâm và trung tín. Hãy trừ bỏ các thần mà tổ phụ anh em phụng sự bên kia sông cũng như tại Ai Cập và chỉ phụng sự Đức Giê-hô-va mà thôi.

15 Nếu anh em chẳng thích phụng sự Đức Giê-hô-va thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phụng sự, hoặc các thần mà tổ phụ anh em đã phụng sự bên kia sông, hoặc các thần của dân A-mô-rít trong xứ mà anh em ở. Nhưng tôi và gia đình tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.”

16 Dân chúng đáp rằng: “Chúng tôi quyết không lìa bỏ Đức Giê-hô-va để phụng sự các thần khác!

17 Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng tôi, chính Ngài đã đem chúng tôi và tổ phụ chúng tôi ra khỏi Ai Cập, tức khỏi nhà nô lệ. Ngài đã làm trước mặt chúng tôi những phép lạ lớn lao nầy và bảo vệ chúng tôi trên suốt hành trình và giữa các dân mà chúng tôi đi ngang qua.

18 Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi chúng tôi tất cả các dân, kể cả người A-mô-rít vốn là dân bản địa. Vì vậy, chúng tôi cũng sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va vì Ngài là Đức Chúa Trời của chúng tôi.”

19 Giô-suê nói với dân chúng: “Anh em không đủ sức phụng sự Đức Giê-hô-va, vì Ngài là Đức Chúa Trời thánh, Đức Chúa Trời kỵ tà, Ngài chẳng tha sự vi phạm và tội lỗi của anh em đâu.

20 Nếu anh em lìa bỏ Đức Giê-hô-va và phụng sự các thần ngoại bang, thì Ngài sẽ quay lại giáng họa và hủy diệt anh em sau khi đã làm ơn cho anh em.”

21 Dân chúng nói với Giô-suê: “Không đâu! Chúng tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.”

22 Vậy Giô-suê bảo dân chúng: “Anh em tự làm chứng rằng anh em đã chọn Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài.” Dân chúng đáp: “Chúng tôi làm chứng về điều đó.”

23 Giô-suê nói: “Bây giờ, hãy dẹp bỏ các thần ngoại bang khỏi anh em và hướng lòng về Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.”

24 Dân chúng thưa với Giô-suê: “Chúng tôi sẽ phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, và vâng theo tiếng Ngài.”

25 Như vậy trong ngày đó, Giô-suê lập một giao ước cho dân chúng, truyền luật pháp và điều lệ cho họ tại Si-chem.

26 Giô-suê viết những lời nầy trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời. Kế đó, ông lấy một hòn đá lớn dựng tại đó, dưới cây sồi gần nơi thánh của Đức Giê-hô-va.

27 Rồi Giô-suê nói với tất cả dân chúng: “Kìa, hòn đá nầy sẽ làm chứng cho chúng ta, vì nó có nghe mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán với chúng ta; nó sẽ làm chứng cho anh em, kẻo anh em chối bỏ Đức Chúa Trời mình chăng.”

28 Giô-suê cho dân chúng về; mọi người đều trở về trong sản nghiệp mình.

29 Sau các việc ấy, đầy tớ của Đức Giê-hô-va là Giô-suê, con trai Nun, qua đời, thọ một trăm mười tuổi.

30 Người ta an táng ông trong địa phận của ông tại Thim-nát Sê-rách ở trên vùng đồi núi Ép-ra-im, về phía bắc núi Ga-ách.

31 Dân Y-sơ-ra-ên phụng sự Đức Giê-hô-va trong suốt thời gian Giô-suê còn sống và suốt thời gian các trưởng lão sống lâu hơn ông. Đó là những người biết rõ mọi việc Đức Giê-hô-va đã làm vì Y-sơ-ra-ên.

32 Hài cốt của Giô-sép mà dân Y-sơ-ra-ên đã mang theo từ Ai Cập thì được chôn ở Si-chem, trong đồng ruộng Gia-cốp đã mua của con cháu Hê-mô, cha Si-chem với giá một trăm miếng bạc, và đất đó trở thành sản nghiệp của con cháu Giô-sép.

33 Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn, cũng qua đời, và người ta chôn ông tại Ghi-bê-át, là phần đất được cấp cho con trai ông là Phi-nê-a, trong vùng đồi núi Ép-ra-im.