1

1 Đây là những lời Môi-se nói với toàn dân Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc phía đông sông Giô-đanh, tức là trong cao nguyên đối diện với Su-phơ, giữa Pha-ran và Tô-phên, La-ban, Hát-sê-rốt và Đi-xa-háp.

2 Từ núi Hô-rếp đến Ca-đe Ba-nê-a bằng đường núi Sê-i-rơ phải mất mười một ngày đường.

3 Vào ngày mồng một tháng mười một năm thứ bốn mươi, Môi-se nói với dân Y-sơ-ra-ên tất cả những gì mà Đức Giê-hô-va bảo ông phải truyền đạt cho họ.

4 Việc nầy xảy ra sau khi ông đánh bại Si-hôn, vua dân A-mô-rít, tại Hết-bôn, và Óc, vua Ba-san, tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i.

5 Tại phía đông sông Giô-đanh, trong đất Mô-áp, Môi-se bắt đầu giảng giải luật pháp. Ông nói:

6 “Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phán với chúng ta tại Hô-rếp rằng: ‘Các ngươi ở trong núi nầy đã khá lâu.

7 Bây giờ, hãy quay hướng và tiếp tục hành trình, tiến vào vùng đồi núi dân A-mô-rít và các miền lân cận, tức là vào vùng A-ra-ba, vùng đồi núi, vùng Sơ-phê-la, vùng Nê-ghép, và vùng duyên hải, tiến đến đất dân Ca-na-an và Li-ban, đến tận sông lớn tức là sông Ơ-phơ-rát.

8 Kìa, Ta phó xứ nầy cho các ngươi! Hãy vào và chiếm hữu xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ các ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và con cháu họ.’

9 Lúc ấy tôi có nói với anh em: ‘Một mình tôi không đủ sức gánh vác anh em.

10 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã gia tăng dân số đến nỗi ngày nay đông như sao trời.

11 Cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em gia tăng dân số gấp nghìn lần và ban phước cho anh em như Ngài đã hứa với anh em.

12 Một mình tôi làm sao có thể gánh vác nổi những trách nhiệm, nan đề, và việc kiện tụng của anh em?

13 Vậy mỗi bộ tộc hãy chọn ra những người khôn ngoan, hiểu biết và kinh nghiệm để tôi cử họ làm người lãnh đạo anh em.’

14 Anh em đã trả lời rằng: ‘Kế hoạch ông đưa ra rất tốt.’

15 Vì vậy, tôi đã chọn những người khôn ngoan, hiểu biết trong các bộ tộc và lập họ làm người lãnh đạo anh em, chỉ huy hàng nghìn, hàng trăm, hàng năm mươi hay hàng chục người, và cũng lập các viên chức cho từng bộ tộc của anh em nữa.

16 Lúc bấy giờ tôi đã ra lệnh cho các thẩm phán của anh em rằng: ‘Hãy lắng nghe anh em mình và xét xử cách công minh, dù là giữa người Y-sơ-ra-ên với nhau, hay là giữa người Y-sơ-ra-ên với ngoại kiều sống giữa anh em cũng vậy.

17 Không được thiên vị trong khi xét xử: hãy lắng nghe kẻ nhỏ cũng như người lớn. Đừng sợ ai cả vì sự phán xét thuộc về Đức Chúa Trời. Gặp trường hợp khó xử cho anh em, hãy trình với tôi, tôi sẽ nghe.’

18 Như vậy, lúc đó tôi đã truyền cho anh em mọi điều anh em phải làm.

19 Sau đó, theo lệnh Giê-hô-va Đức Chúa Trời, chúng ta rời Hô-rếp đi về hướng đồi núi của người A-mô-rít, xuyên qua hoang mạc mênh mông khủng khiếp mà anh em đã thấy đó, rồi chúng ta đến Ca-đe Ba-nê-a.

20 Bấy giờ tôi có nói với anh em: ‘Anh em đã đến vùng đồi núi của người A-mô-rít, là đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ban cho chúng ta.

21 Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban đất nầy cho anh em. Hãy đi lên, tiếp nhận sản nghiệp, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã phán với anh em. Đừng sợ hãi hay nản lòng.’

22 Nhưng tất cả anh em đã đến nói với tôi: ‘Chúng ta nên phái người đi trước chúng ta để do thám xứ và bảo cho chúng ta biết phải đi lên theo con đường nào và sẽ phải vào thành nào’.

23 Tôi thấy ý kiến nầy tốt nên đã chọn mười hai người trong anh em, mỗi bộ tộc một người.

24 Họ đã ra đi, và lên vùng đồi núi, rồi khi đến lòng sông cạn Ếch-côn, họ do thám xứ nầy.

25 Họ hái hoa quả xứ đó đem về cho chúng ta và báo với chúng ta: ‘Vùng đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho chúng ta thật là tốt đẹp.’

26 Nhưng anh em đã không muốn lên đó và chống lại mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

27 Anh em lằm bằm trong trại và nói: ‘Đức Giê-hô-va ghét chúng ta nên mới đem chúng ta ra khỏi Ai Cập và phó chúng ta vào tay dân A-mô-rít để tiêu diệt chúng ta.

28 Chúng ta sẽ đi đâu? Những anh em mà chúng ta sai đi do thám đã làm cho chúng ta nản lòng nhụt chí khi nói rằng: Dân đó lực lưỡng và cao lớn hơn chúng ta. Các thành thì rộng lớn, tường lũy thì cao tận trời. Ngoài ra chúng tôi còn thấy con cháu của dân A-na-kim ở đó nữa.’

29 Nhưng tôi đã bảo anh em: ‘Đừng khiếp đảm hay sợ hãi chúng nó.

30 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Đấng đi trước anh em, chính Ngài sẽ chiến đấu cho anh em như Ngài đã từng làm trước mắt anh em tại Ai Cập.

31 Còn trong hoang mạc, là nơi anh em thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã bồng ẵm anh em như một người cha bồng ẵm con qua từng chặng đường cho đến khi tới nơi nầy.’

32 Dù vậy, anh em vẫn không tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em

33 là Đấng đi trước anh em trên mọi nẻo đường để tìm nơi cho anh em hạ trại; ban đêm trong đám lửa, ban ngày trong đám mây để chỉ cho anh em con đường phải đi.

34 Khi Đức Giê-hô-va nghe lời lẽ của anh em thì nổi giận và thề rằng:

35 ‘Không một ai thuộc thế hệ gian ác nầy được thấy xứ sở tốt đẹp mà Ta đã thề ban cho tổ phụ các ngươi,

36 ngoại trừ Ca-lép con trai của Giê-phu-nê. Người sẽ thấy xứ đó và Ta sẽ ban cho người và con cháu người đất mà người đã đặt chân lên, vì người đã trọn thành theo Đức Giê-hô-va.’

37 Cũng vì anh em mà Đức Giê-hô-va nổi giận với tôi và phán: ‘Con cũng sẽ không được vào đó.

38 Nhưng đầy tớ con là Giô-suê, con trai Nun sẽ được vào đó. Hãy khích lệ người, vì chính người sẽ lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên tiếp nhận đất nầy làm sản nghiệp.

39 Còn những con trẻ mà các con nghĩ rằng chúng sẽ trở thành chiến lợi phẩm cho giặc, và những con trai các con mà hôm nay chưa phân biệt điều thiện điều ác, chúng sẽ được vào xứ đó. Ta sẽ ban cho chúng xứ nầy làm sản nghiệp.

40 Nhưng các con hãy quay lại, đi vào hoang mạc, theo hướng Biển Đỏ.’

41 Lúc đó anh em đã trả lời tôi rằng: ‘Chúng tôi đã phạm tội với Đức Giê-hô-va; chúng tôi sẽ đi lên và chiến đấu như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phán dặn chúng tôi.’ Mỗi người trong anh em đều trang bị vũ khí và tưởng rằng đi lên núi là việc dễ dàng.

42 Đức Giê-hô-va đã phán với tôi: ‘Hãy bảo chúng: Đừng đi lên và chớ tham chiến vì Ta không ngự giữa các ngươi đâu; nếu lên đó, các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại.’

43 Tôi đã thuật lại những lời nầy nhưng anh em không nghe tôi. Anh em chống lại mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, bướng bỉnh kéo lên núi.

44 Bấy giờ, người A-mô-rít ở trong núi đã đổ ra tấn công anh em như ong đuổi và đánh anh em tan tác từ Sê-i-rơ cho đến Họt-ma.

45 Khi trở về anh em đã khóc lóc trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng Đức Giê-hô-va không nghe và cũng chẳng để ý đến tiếng khóc của anh em.

46 Vì thế mà chúng ta phải lưu lại Ca-đe nhiều ngày, ở đó trong một thời gian rất lâu.”

2

1 “Sau đó chúng ta quay lại, đi vào hoang mạc về hướng Biển Đỏ như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn tôi, và chúng ta đi lòng vòng khá lâu ngày chung quanh vùng đồi núi Sê-i-rơ.

2 Rồi Đức Giê-hô-va phán với tôi:

3 ‘Dân chúng đi lòng vòng núi nầy đã lâu rồi, bây giờ hãy quay về hướng bắc.

4 Con hãy truyền lệnh nầy cho dân chúng: Các ngươi sắp đi ngang qua địa phận của anh em mình là con cháu Ê-sau, đang sống tại Sê-i-rơ. Chúng sẽ sợ các ngươi, nhưng các ngươi phải cẩn thận.

5 Đừng khiêu chiến với chúng vì Ta sẽ không cho các ngươi xứ của chúng, dù chỉ là một miếng đất bằng bàn chân. Ta đã ban cho Ê-sau núi Sê-i-rơ làm sản nghiệp rồi.

6 Các ngươi sẽ dùng tiền bạc mà mua lương thực của chúng để ăn, nước để uống.

7 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho mọi công việc của tay các ngươi. Ngài biết hành trình xuyên qua hoang mạc mênh mông nầy của các ngươi. Trong bốn mươi năm qua, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vẫn ở với các ngươi; các ngươi không thiếu thốn gì cả.’

8 Vậy chúng ta tránh đi ngang bờ cõi của anh em chúng ta là con cháu Ê-sau. Họ đang sống trong vùng đồi núi Sê-i-rơ. Chúng ta chuyển về hướng hoang mạc Mô-áp để tránh con đường xuyên qua vùng cao nguyên A-ra-ba, tránh xa con đường từ Ê-lát và Ê-xi-ôn Ghê-be đến Biển Chết.

9 Đức Giê-hô-va lại phán với tôi: ‘Đừng gây hấn hay khiêu chiến với dân Mô-áp là con cháu của Lót, vì Ta sẽ không cho con một phần nào trong đất của họ để làm sản nghiệp đâu. Ta đã ban A-rơ cho con cháu Lót làm sản nghiệp.’

10 (Trước kia người Ê-mim ở tại đó. Họ là một dân lớn, đông, cao to như người A-na-kim vậy.

11 Như người A-na-kim, họ cũng được xem là người Rê-pha-im, nhưng dân Mô-áp gọi họ là Ê-mim.

12 Dân Hô-rít lúc trước cũng ở tại Sê-i-rơ nhưng con cháu Ê-sau trục xuất họ, tiêu diệt và chiếm đoạt xứ sở họ, như Y-sơ-ra-ên đã làm tại xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ làm sản nghiệp.)

13 ‘Bây giờ hãy đứng dậy và vượt qua khe Xê-rết.’ Vậy chúng ta đã vượt qua khe Xê-rết.

14 Thời gian từ khi chúng ta rời Ca-đe Ba-nê-a đến khi vượt qua khe Xê-rết là ba mươi tám năm. Trong thời gian đó, các chiến binh thuộc thế hệ ấy đã bị tiêu diệt khỏi trại quân, như Đức Giê-hô-va đã thề với họ.

15 Thật, tay của Đức Giê-hô-va đã chống lại họ để tiêu diệt họ khỏi trại quân, cho đến khi không còn một ai cả.

16 Khi tất cả các chiến sĩ trong dân chúng đã chết

17 thì Đức Giê-hô-va phán với tôi:

18 ‘Hôm nay con sẽ đi ngang qua lãnh thổ của dân Mô-áp, gần thành A-rơ.

19 Khi đến gần con cháu Am-môn, con chớ gây hấn hay tấn công chúng, vì Ta sẽ không ban đất của người Am-môn cho con làm sản nghiệp đâu. Ta đã ban đất đó cho con cháu Lót làm sản nghiệp rồi.’

20 (Đất nầy cũng được xem là đất của người Rê-pha-im. Trước kia người Rê-pha-im ở đó, dù người Am-môn gọi họ là Xam-xu-mim.

21 Họ là một dân lớn, đông, cao to như người A-na-kim. Nhưng Đức Giê-hô-va đã tiêu diệt họ trước mặt người Am-môn. Người Am-môn trục xuất dân ấy rồi vào ở thế chỗ họ.

22 Ngài cũng làm như vậy cho con cháu Ê-sau tại Sê-i-rơ khi Ngài tiêu diệt dân Hô-rít trước mặt con cháu Ê-sau. Con cháu Ê-sau cũng trục xuất dân ấy rồi vào ở thế chỗ họ cho đến ngày nay.

23 Còn người A-vim, trước kia ở trong các làng mạc xa tận Ga-xa, cũng bị dân Cáp-tô-rim, từ Cáp-tô đến, tiêu diệt và vào ở thế chỗ họ.)

24 ‘Hãy đứng dậy, tiếp tục hành trình, vượt qua sông Ạt-nôn. Kìa, Ta đã phó Si-hôn, vua Hết-bôn là người A-mô-rít, và xứ sở người vào tay các con. Hãy bắt đầu chiếm đất và tranh chiến với vua ấy.

25 Chính hôm nay Ta bắt đầu làm cho các dân tộc trong thiên hạ kinh khiếp và sợ hãi các con. Khi nghe nói đến các con, các dân tộc đó sẽ run rẩy và khiếp đảm trước mặt các con.’”

26 “Vậy, từ hoang mạc Kê-đê-mốt tôi phái sứ giả đến gặp Si-hôn, vua Hết-bôn, dùng lời hòa dịu nói với vua ấy:

27 ‘Xin cho tôi đi ngang qua đất của vua. Tôi sẽ chỉ đi trên đường cái, không quay qua bên phải hay bên trái.

28 Vua sẽ bán cho chúng tôi thức ăn, nước uống để đổi lấy bạc. Chỉ xin cho chúng tôi được đi ngang qua xứ của vua,

29 như con cháu Ê-sau ở Sê-i-rơ và dân Mô-áp ở A-rơ đã cho phép chúng tôi, cho đến khi chúng tôi vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ban cho chúng tôi.’

30 Nhưng Si-hôn, vua Hết-bôn, không muốn chúng ta đi ngang qua địa phận của vua ấy. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã khiến cho tâm tính vua ấy ương ngạnh, lòng dạ cứng cỏi để phó vua ấy vào tay anh em như hôm nay anh em đã thấy.

31 Đức Giê-hô-va lại phán với tôi: ‘Nầy, từ nay Ta phó Si-hôn và xứ sở nó cho con. Hãy bắt đầu tiến chiếm đất nó làm sản nghiệp.’

32 Si-hôn đem toàn dân ra nghênh chiến với chúng ta tại Gia-hát.

33 Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phó Si-hôn cho chúng ta, và chúng ta đã đánh bại vua ấy, cùng các con trai và tất cả dân chúng của vua.

34 Bấy giờ chúng ta chiếm tất cả các thành và tiêu diệt cả đàn ông, đàn bà lẫn con trẻ, không để một ai sống sót.

35 Chúng ta chỉ giữ lại cho mình gia súc và các chiến lợi phẩm cướp được từ các thành vừa chiếm đoạt.

36 Từ A-rô-e trên bờ sông Ạt-nôn, và từ thành trong thung lũng đến tận Ga-la-át không có một thành nào quá kiên cố đối với chúng ta. Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phó mọi thứ cho chúng ta rồi.

37 Tuy nhiên, chúng ta không được đụng đến đất đai của con cháu Am-môn nằm dọc suốt sông Gia-bốc và các thành trên vùng đồi núi hoặc những chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã cấm chúng ta.”

3

1 “Khi chúng ta chuyển sang con đường đi lên Ba-san thì Óc, vua Ba-san, đem toàn quân ra nghênh chiến với chúng ta tại Ếch-rê-i.

2 Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Đừng sợ vua ấy vì Ta đã phó cả vua cùng dân chúng và lãnh thổ vua ấy vào tay con. Con sẽ xử vua ấy như đã xử Si-hôn, vua A-mô-rít, ở Hết-bôn.’

3 Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta cũng đã phó vào tay chúng ta Óc, vua Ba-san, và toàn quân của vua. Chúng ta đã đánh vua ấy tan tác cho đến khi không còn một người sống sót.

4 Lúc đó, chúng ta đánh chiếm tất cả các thành của vua, không có thành nào mà chúng ta không chiếm. Tổng cộng là sáu mươi thành và toàn miền Ạt-gốp, là vương quốc của Óc trong xứ Ba san.

5 Tất cả các thành nầy đều kiên cố, có tường cao, cổng đóng then cài. Ngoài ra cũng có rất nhiều làng mạc không có thành chung quanh.

6 Chúng ta đã tận diệt các thành nầy như chúng ta đã làm cho Si-hôn, vua Hết-bôn, tức là tiêu diệt tất cả các thành, cả đàn ông, đàn bà lẫn trẻ con.

7 Nhưng chúng ta giữ lại cho mình tất cả súc vật và chiến lợi phẩm từ các thành.

8 Vậy, vào thời đó chúng ta đã chiếm của hai vua A-mô-rít vùng đất ở phía đông sông Giô-đanh, từ sông Ạt-nôn đến núi Hẹt-môn.

9 (Người Si-đôn gọi núi Hẹt-môn là Si-ri-ôn, còn người A-mô-rít đặt tên là Sê-ni-rơ.)

10 Chúng ta cũng chiếm các thành của đồng bằng, toàn vùng Ga-la-át và Ba-san, cho đến Sanh-ca và Ết-rê-i, là hai thành của vương quốc Óc, trong Ba-san.

11 (Chỉ có Óc, vua Ba-san, người Rê-pha-im, còn sống sót. Giường của vua ấy làm bằng sắt chẳng phải vẫn còn tại thành Ráp-ba của con cháu Am-môn đó sao? Giường nầy dài hơn bốn mét, rộng một mét tám.)

12 Lúc chúng ta chiếm xứ nầy làm sản nghiệp, tôi giao cho người Ru-bên và người Gát vùng đất từ phía bắc thành A-rô-e, bên bờ sông Ạt-nôn, đến một nửa vùng đồi núi Ga-la-át cùng các thành của nó.

13 Tôi giao phần còn lại của núi Ga-la-át và toàn vùng Ba-san là vương quốc của Óc cho một nửa bộ tộc Ma-na-se. (Toàn vùng Ạt-gốp và cả vùng Ba-san thường được gọi là xứ Rê-pha-im.

14 Giai-rơ thuộc bộ tộc Ma-na-se đã chiếm toàn vùng Ạt-gốp cho đến biên giới người Ghê-ru-sít và Ma-ca-thít, và lấy tên mình đặt cho các làng mạc Ba-san, tức là làng Giai-rơ, cho đến ngày nay.)

15 Tôi cũng giao cho Ma-ki xứ Ga-la-át.

16 Còn bộ tộc Ru-bên và Gát thì tôi giao phần đất từ Ga-la-át cho đến sông Ạt-nôn, lấy giữa sông làm ranh giới, và chạy đến sông Gia-bốc, là ranh giới của con cháu Am-môn.

17 Về phía tây, lãnh thổ của ba bộ tộc chạy dài đến vùng cao nguyên A-ra-ba, lấy sông Giô-đanh làm ranh giới, từ hồ Ga-li-lê đến biển A-ra-ba, tức là Biển Chết dưới sườn núi Phích-ga về phía đông.

18 Lúc đó tôi có truyền lệnh nầy cho anh em: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phó xứ nầy cho anh em làm sản nghiệp. Tất cả những dũng sĩ trong anh em phải cầm vũ khí đi qua trước anh em mình là con dân Y-sơ-ra-ên.

19 Chỉ vợ con và súc vật của anh em sẽ ở lại trong các thành mà tôi đã giao cho anh em (vì tôi biết anh em có nhiều súc vật).

20 Khi nào Đức Giê-hô-va ban cho các anh em của anh em được an cư lạc nghiệp như chính mình, tức là khi họ nhận được xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho họ tại phía tây sông Giô-đanh, thì bấy giờ anh em mới trở về phần sản nghiệp mà tôi đã giao cho anh em.’

21 Đang lúc ấy tôi cũng truyền lệnh nầy cho Giô-suê: ‘Anh đã thấy tận mắt mọi việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã làm cho hai vua nầy. Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy với các vương quốc mà anh sẽ đi qua.

22 Đừng sợ chúng vì chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ chiến đấu cho anh em.’

23 Lúc ấy tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va rằng:

24 ‘Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Ngài đã bắt đầu cho đầy tớ Ngài thấy sự oai nghiêm và cánh tay quyền năng của Ngài. Vì có thần nào trên trời dưới đất có thể làm được những công việc và hành động quyền năng như Ngài không?

25 Con xin Chúa cho con được phép đi qua và ngắm nhìn miền đất tốt tươi, vùng núi đồi xinh đẹp và dãy Li-ban ở bên kia sông Giô-đanh.’

26 Nhưng vì anh em mà Đức Giê-hô-va nổi giận cùng tôi và không nhậm lời tôi. Ngài phán với tôi: ‘Đủ rồi! Con đừng bao giờ nói với Ta về chuyện nầy nữa!

27 Hãy lên đỉnh Phích-ga, ngước mắt về hướng tây, hướng bắc, hướng nam và hướng đông mà nhìn ngắm xứ ấy, vì con sẽ không được đi qua sông Giô-đanh nầy.

28 Nhưng con hãy truyền lệnh cho Giô-suê, khích lệ và củng cố tinh thần Giô-suê vì chính người phải đi qua trước mặt dân nầy và dẫn họ vào nhận làm sản nghiệp xứ mà con sẽ thấy.’

29 Vì vậy, chúng ta đã ở lại trong thung lũng đối diện với Bết Phê-ô.”

4

1 “Hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy nghe những mệnh lệnh và luật lệ mà tôi dạy anh em đây. Hãy tuân giữ những điều ấy để anh em được sống mà vào nhận xứ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.

2 Anh em đừng thêm, đừng bớt điều gì mà tôi truyền cho anh em, nhưng phải giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà tôi đã truyền cho anh em.

3 Mắt anh em đã thấy điều Đức Giê-hô-va làm trong vụ Ba-anh Phê-ô khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời trừ diệt khỏi anh em những kẻ theo Ba-anh Phê-ô.

4 Nhưng anh em là những người vẫn trung kiên với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, thì vẫn sống cho đến ngày nay.

5 Nầy, tôi đã dạy cho anh em những mệnh lệnh và luật lệ đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi đã phán dặn tôi, để anh em tuân giữ khi ở trong xứ mà mình sẽ vào nhận làm sản nghiệp.

6 Vậy, anh em phải giữ và thực hành các mệnh lệnh và luật lệ nầy, vì nhờ vậy mà các dân tộc sẽ thấy sự khôn ngoan và hiểu biết của anh em. Khi nghe về các mệnh lệnh nầy họ sẽ nói: ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại nầy mới thực sự là một dân tộc khôn ngoan và hiểu biết!’

7 Vì có dân tộc vĩ đại nào có được một vị thần ở gần như chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta cầu khẩn Ngài không?

8 Có dân tộc vĩ đại nào có được những mệnh lệnh và luật lệ công minh như toàn bộ luật pháp mà ngày nay tôi đặt trước mặt anh em không?

9 Anh em hãy thận trọng và canh giữ cẩn mật linh hồn mình, đừng quên những điều chính mắt anh em đã thấy, và suốt đời đừng để những điều đó lìa khỏi lòng anh em. Trái lại, phải dạy cho con và cháu anh em biết điều đó.

10 Hãy nhớ ngày anh em đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại Hô-rếp khi Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Hãy tập trung dân chúng lại. Ta sẽ cho họ nghe lời Ta để đang khi còn sống trên thế gian, họ học tập kính sợ Ta và biết dạy lại lời đó cho con cái mình.’

11 Rồi anh em đến gần và đứng dưới chân núi, trong khi trên núi thì lửa bốc cháy cao đến tận trời, mây đen mù mịt, bóng tối bao trùm.

12 Từ trong đám lửa Đức Giê-hô-va phán với anh em. Anh em nghe tiếng nói nhưng không thấy một hình dạng nào cả, chỉ có tiếng nói thôi.

13 Ngài công bố cho anh em giao ước mà Ngài truyền cho anh em phải tuân giữ, tức là Mười Điều Răn mà Ngài đã viết trên hai bảng đá.

14 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va cũng truyền dặn tôi phải dạy anh em những mệnh lệnh và luật lệ để anh em làm theo tại xứ mà anh em sẽ vào nhận làm sản nghiệp.”

15 “Anh em phải thận trọng và canh giữ cẩn mật linh hồn mình vì anh em không thấy một hình dạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán với anh em từ giữa đám lửa tại Hô-rếp.

16 Vì thế, anh em đừng hành động một cách bại hoại khi chạm cho mình một hình tượng mang hình ảnh của bất cứ hình dạng nào giống như người nam hay người nữ,

17 hoặc hình của thú vật dưới đất, hoặc hình của chim chóc trên trời,

18 hoặc hình côn trùng bò trên mặt đất, hay là hình cá lội trong nước sâu.

19 Khi anh em ngước mắt lên trời thấy mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, toàn thể thiên binh thì đừng để bị lôi cuốn mà quỳ lạy hay phụng thờ chúng, vì đó chỉ là những vật mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phân chia cho mọi dân thiên hạ.

20 Còn anh em, Đức Giê-hô-va đã chọn và đem anh em ra khỏi lò luyện sắt kia, tức là Ai Cập, để anh em trở nên một dân riêng của Ngài, sản nghiệp của Ngài, như anh em đang có ngày nay.

21 Vì anh em mà Đức Giê-hô-va nổi giận cùng tôi và Ngài đã thề là tôi sẽ không được vượt qua sông Giô-đanh và không được vào xứ tốt đẹp mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp.

22 Tôi phải chết trong xứ nầy, không được vượt qua sông Giô-đanh, nhưng anh em sẽ đi qua và nhận lấy xứ tốt đẹp ấy làm sản nghiệp.

23 Phải cẩn thận đừng quên giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã lập với anh em. Chớ làm cho mình một hình tượng mang hình ảnh của bất cứ vật gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã cấm anh em.

24 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là một đám lửa thiêu đốt và là Đức Chúa Trời kỵ tà.

25 Khi anh em đã sinh con đẻ cháu và sống lâu trong xứ, nếu anh em còn hành động một cách bại hoại như làm hình tượng mang hình dạng của bất cứ vật gì, hoặc làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em để chọc Ngài nổi giận,

26 thì hôm nay tôi xin đất trời chứng giám rằng anh em sẽ nhanh chóng bị diệt sạch khỏi xứ mà anh em sắp nhận làm sản nghiệp bên kia sông Giô-đanh; anh em sẽ không được ở đó lâu dài nhưng sẽ bị tận diệt.

27 Đức Giê-hô-va sẽ phân tán anh em giữa các dân tộc, chỉ một số ít còn lại trong các nước mà Đức Giê-hô-va sẽ đẩy anh em đến.

28 Tại đó, anh em sẽ thờ cúng những thần bằng gỗ và bằng đá, là công việc của tay loài người làm ra, nên chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng ăn cũng chẳng ngửi.

29 Nhưng cũng từ trong hoàn cảnh đó anh em sẽ tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và khi nào anh em hết lòng, hết linh hồn tìm kiếm Ngài thì sẽ gặp Ngài.

30 Khi ở trong cảnh gian truân, và khi tất cả những điều nầy xảy đến cho anh em rồi, trong những ngày cuối cùng anh em sẽ trở lại với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em và vâng theo tiếng Ngài.

31 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em là Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót; Ngài sẽ không bỏ anh em, không tiêu diệt anh em, cũng không quên giao ước mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em.”

32 “Vậy, anh em hãy suy nghĩ về những ngày xa xưa, thời kỳ trước anh em, từ ngày Đức Chúa Trời tạo dựng loài người trên đất; hãy suy nghĩ xem từ chân trời nầy đến cuối trời kia, có bao giờ xảy ra việc vĩ đại như thế chưa, hay đã từng nghe việc gì tương tự như vậy không?

33 Có dân tộc nào nghe tiếng một vị thần phán từ trong đám lửa, như anh em đã nghe, mà vẫn còn sống không?

34 Hoặc có thần nào bỏ công đi chọn cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác bằng những thử thách, bằng dấu lạ phép mầu, bằng chiến tranh, bằng cánh tay uy quyền dang rộng, bằng những việc kinh thiên động địa, như những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho anh em tại Ai Cập ngay trước mắt anh em không?

35 Anh em đã chứng kiến những việc đó để anh em nhận biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, ngoài Ngài không có chúa nào khác.

36 Từ trời, Ngài cho anh em nghe tiếng Ngài để dạy dỗ anh em. Trên đất, Ngài cho anh em thấy đám lửa lớn của Ngài, và từ trong đám lửa anh em nghe tiếng phán của Ngài.

37 Vì Ngài yêu thương các tổ phụ của anh em nên đã chọn dòng dõi họ, và đích thân Ngài dùng quyền năng vô hạn của Ngài, đem anh em ra khỏi Ai Cập,

38 đánh đuổi trước mặt anh em những dân tộc lớn hơn và mạnh hơn anh em, để đem anh em vào đó, ban đất đai của họ cho anh em làm sản nghiệp như điều anh em có ngày nay.

39 Vậy ngày nay anh em phải biết và ghi lòng tạc dạ rằng trên trời cao kia hoặc nơi đất thấp nầy, Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chẳng có chúa nào khác.

40 Hãy giữ những luật lệ và điều răn của Ngài mà hôm nay tôi truyền cho anh em để anh em và con cháu anh em về sau được phước, và được ở lâu dài trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời vĩnh viễn ban cho anh em.”

41 Môi-se để riêng ra ba thành ở phía đông sông Giô-đanh

42 để làm nơi ẩn náu cho kẻ sát nhân vô ý giết người lân cận mà trước đó không hề thù ghét. Người đó có thể trốn và ẩn náu vào một trong các thành nầy và sẽ được sống.

43 Đó là thành Bết-se trong hoang mạc, trên cao nguyên, dành cho người Ru-bên; thành Ra-mốt trong Ga-la-át dành cho người Gát; và thành Gô-lan thuộc Ba-san dành cho người Ma-na-se.

44 Đây là luật pháp mà Môi-se đặt trước mặt con dân Y-sơ-ra-ên:

45 Đó là những quy tắc, mệnh lệnh và luật lệ mà Môi-se đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập,

46 lúc họ còn ở bên kia sông Giô-đanh, trong thung lũng đối diện Bết Phê-ô. Đất nầy thuộc Si-hôn, vua dân A-mô-rít, người đã trị vì tại Hết-bôn và bị Môi-se cùng dân Y-sơ-ra-ên đánh bại khi họ ra khỏi Ai Cập.

47 Dân Y-sơ-ra-ên đã chiếm hữu xứ sở của vua ấy cũng như xứ sở của Óc, vua Ba-san. Đó là hai vua A-mô-rít sống ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc.

48 Vùng nầy kéo dài từ A-rô-e, trên bờ sông Ạt-nôn cho đến núi Si-ri-ôn, tức là Hẹt-môn,

49 gồm cả vùng cao nguyên A-ra-ba bên kia sông Giô-đanh, về phía đông, cho đến Biển Chết, dưới chân núi Phích-ga.

5

1 Môi-se triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên lại và nói: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe những luật lệ và mệnh lệnh mà ngày nay tôi rao truyền vào tai anh em; anh em phải học tập và cẩn thận làm theo những điều đó.

2 Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã lập giao ước với chúng ta tại núi Hô-rếp.

3 Không phải Đức Giê-hô-va lập giao ước nầy với tổ phụ chúng ta mà với chúng ta, là tất cả những người hôm nay đang còn sống tại đây.

4 Từ trong đám lửa trên núi, Đức Giê-hô-va đã phán mặt đối mặt với anh em.

5 Lúc đó, tôi đứng giữa Đức Giê-hô-va và anh em để truyền đạt lời của Ngài cho anh em vì anh em thấy lửa và sợ, không đi lên núi. Ngài phán:

6 ‘Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Đấng đã đem con ra khỏi đất Ai Cập là nhà nô lệ.

7 Ngoài Ta, con không được thờ phượng thần nào khác.

8 Con không được làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước sâu.

9 Con không được quỳ lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng, vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến ba bốn thế hệ.

10 Nhưng Ta sẽ làm ơn đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ta và vâng giữ các điều răn Ta.

11 Con không được lạm dụng danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, vì Đức Giê-hô-va sẽ không dung tha kẻ lạm dụng danh Ngài.

12 Hãy giữ ngày nghỉ để làm nên ngày thánh như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đã truyền dạy.

13 Con phải làm tất cả công việc mình trong sáu ngày,

14 nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai con gái, tôi trai tớ gái, bò lừa hay bất cứ súc vật nào của con, cả đến ngoại kiều ở trong thành của con đều không được làm việc, để cho tôi trai tớ gái của con cũng được nghỉ như con.

15 Hãy nhớ rằng con đã làm nô lệ trong xứ Ai Cập, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đã dang cánh tay đầy quyền năng đem con ra khỏi đó. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đã truyền dạy con phải giữ ngày nghỉ.

16 Hãy hiếu kính cha mẹ của con, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền dạy, để con được sống lâu và hưởng phước trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con ban cho con.

17 Con không được giết người.

18 Con không được phạm tội tà dâm.

19 Con không được trộm cắp.

20 Con không được làm chứng dối hại người lân cận mình.

21 Con không được tham muốn vợ của người lân cận, cũng không được tham muốn nhà cửa, đồng ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa hay bất cứ vật gì thuộc về người lân cận của con.’

22 Đó là những lời mà từ trên núi Đức Giê-hô-va đã dùng tiếng lớn truyền phán với toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên qua đám lửa, giữa đám mây đen mù mịt. Ngài không thêm điều gì khác nhưng Ngài viết những lời đó trên hai bảng đá và trao cho tôi.

23 Khi nghe tiếng phát ra từ giữa bóng tối và núi đang bốc lửa thì anh em cùng tất cả các trưởng bộ tộc, các trưởng lão của anh em, đến gần tôi và nói:

24 ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đã cho chúng tôi thấy vinh quang và sự oai nghiêm Ngài, và chúng tôi đã nghe tiếng Ngài phán từ trong đám lửa. Hôm nay, chúng tôi đã thấy rằng Đức Chúa Trời phán với loài người mà loài người vẫn còn sống.

25 Nhưng bây giờ tại sao chúng tôi phải gặp nguy cơ bị đám lửa lớn nầy thiêu rụi? Nếu cứ tiếp tục nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thì chúng tôi chết mất.

26 Vì có người phàm nào nghe tiếng Đức Chúa Trời hằng sống phán ra từ giữa đám lửa như chúng tôi mà còn sống không?

27 Vậy, xin ông đến gần và lắng nghe mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi phán dạy, rồi truyền lại cho chúng tôi mọi điều Ngài phán bảo ông. Chúng tôi sẽ nghe và làm theo.’

28 Đức Giê-hô-va nghe những lời anh em nói với tôi nên Ngài phán với tôi: ‘Ta đã nghe những lời dân nầy nói với con. Những gì họ nói với con là đúng.

29 Nếu như dân nầy luôn có lòng kính sợ Ta, thường xuyên vâng giữ các điều răn Ta, thì họ và con cháu họ sẽ được phước đời đời!

30 Con hãy đi nói với dân chúng trở về trại đi.

31 Nhưng con hãy ở lại đây với Ta, Ta sẽ truyền cho con các điều răn, luật lệ và mệnh lệnh mà con sẽ dạy lại cho dân chúng để họ thực hành trong xứ mà Ta sẽ ban cho họ làm cơ nghiệp.’

32 Vậy, anh em phải cẩn thận thực hành mọi việc đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã truyền dạy; anh em không được xây qua bên phải hoặc bên trái.

33 Nhưng phải đi đúng đường lối mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền dạy để anh em được sống, hưởng phước hạnh và được trường thọ trong xứ mà anh em sẽ nhận làm sản nghiệp.”

6

1 “Đây là điều răn, luật lệ và mệnh lệnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã ra lệnh cho tôi phải dạy lại cho anh em, để anh em tuân giữ khi ở trong xứ mà anh em sắp tiến vào nhận làm sản nghiệp.

2 Nhờ vậy, anh em, con cháu anh em sẽ trọn đời kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vâng giữ các luật lệ và điều răn của Ngài mà tôi truyền cho anh em, để anh em được sống lâu.

3 Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe và cẩn thận làm theo để anh em được phước và gia tăng thật đông đảo trong miền đất đượm sữa và mật, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã phán hứa với anh em.

4 Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai.

5 Anh em phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực mà kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

6 Hãy ghi lòng tạc dạ những lời mà tôi truyền cho anh em ngày nay.

7 Hãy ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái anh em, và phải nhắc đến khi anh em ngồi trong nhà cũng như lúc ra ngoài đường, khi anh em đi ngủ cũng như lúc thức dậy.

8 Hãy buộc những lời ấy vào tay làm dấu, đeo lên trán làm hiệu,

9 và viết các lời đó lên khung cửa nhà và trước cổng.

10 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đưa anh em vào xứ mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, để ban cho anh em những thành lớn và tốt đẹp mà anh em đã không xây cất,

11 những căn nhà đầy đủ mọi vật tốt mà anh em không sắm sửa, những giếng nước mà anh em không phải đào, cây nho và cây ô-liu mà anh em không trồng; khi anh em được ăn uống no nê,

12 thì phải cẩn thận kẻo anh em quên Đức Giê-hô-va là Đấng đã đem anh em ra khỏi Ai Cập, tức khỏi nhà nô lệ.

13 Anh em phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, phụng sự Ngài và nhân danh Ngài mà thề nguyện.

14 Không được theo các thần khác, bất cứ thần nào trong các thần của những dân tộc ở chung quanh anh em,

15 vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Đấng ngự giữa anh em, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Hãy cẩn thận kẻo Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ nổi thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em khỏi mặt đất.

16 Anh em đừng thách thức Giê-hô-va Đức Chúa Trời như anh em đã thách thức Ngài tại Ma-sa.

17 Phải cẩn thận tuân giữ những điều răn, chứng cớ và luật lệ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền cho anh em.

18 Anh em phải làm điều ngay thẳng và tốt đẹp dưới mắt Đức Giê-hô-va để anh em được phước và vào nhận làm sản nghiệp vùng đất tốt tươi mà Đức Giê-hô-va đã thề hứa với tổ phụ anh em.

19 Đức Giê-hô-va cũng sẽ đánh đuổi mọi kẻ thù khỏi anh em như Ngài đã phán.

20 Sau nầy, khi con cái anh em hỏi: ‘Các quy tắc, luật lệ và mệnh lệnh nầy là gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời lại truyền dạy cho cha?’

21 thì anh em hãy trả lời: ‘Ngày xưa chúng ta là nô lệ của Pha-ra-ôn tại Ai Cập, nhưng Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền uy đem chúng ta ra khỏi xứ ấy.

22 Đức Giê-hô-va đã làm trước mắt chúng ta những dấu lạ phép mầu rất lớn lao và đáng sợ để trừng phạt xứ Ai Cập, Pha-ra-ôn và cả hoàng tộc.

23 Ngài đã đem chúng ta ra khỏi xứ ấy, dẫn chúng ta vào và ban cho chúng ta xứ mà Ngài đã thề hứa với tổ phụ chúng ta.

24 Đức Giê-hô-va đã truyền dạy chúng ta phải tuân giữ các luật lệ nầy và kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời để chúng ta luôn luôn được phước và được Ngài bảo tồn sự sống, như ngày nay chúng ta đang có.

25 Nếu chúng ta cẩn thận tuân giữ mọi điều răn nầy trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, như Ngài đã truyền dạy, thì chúng ta sẽ được kể là công chính.’”

7

1 “Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã đưa anh em vào xứ mà anh em sắp tiếp nhận làm sản nghiệp, Ngài sẽ đuổi khỏi anh em nhiều dân tộc như người Hê-tít, Ghi-rê-ga-sít, A-mô-rít, Ca-na-an, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít, là bảy dân tộc mạnh hơn và đông hơn anh em.

2 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phó các dân ấy cho anh em và anh em đã đánh bại chúng, thì phải tận diệt chúng, không được lập giao ước với chúng và cũng đừng thương xót chúng.

3 Không được kết thông gia với chúng, không gả con gái cho con trai chúng và cũng đừng cưới con gái chúng cho con trai anh em,

4 vì chúng sẽ làm cho con cái anh em lìa bỏ Chúa mà phục vụ các thần khác, làm cho Đức Giê-hô-va nổi thịnh nộ với anh em và nhanh chóng tiêu diệt anh em.

5 Nhưng với các dân tộc ấy anh em phải xử thế nầy: đập vỡ các bàn thờ, nghiền nát các trụ thờ, triệt hạ các tượng A-sê-ra, và đốt những hình chạm của chúng.

6 Vì anh em là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Trong muôn dân trên mặt đất, Ngài đã chọn anh em để làm dân Ngài, một sản nghiệp riêng của Ngài.

7 Đức Giê-hô-va tỏ lòng yêu mến và chọn lựa anh em không phải vì anh em đông hơn mọi dân khác, thật ra anh em là dân tộc ít nhất trong các dân tộc.

8 Nhưng vì yêu thương anh em và để giữ lời thề hứa với tổ phụ anh em mà Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền uy đưa anh em ra, cứu chuộc anh em khỏi nhà nô lệ và khỏi tay Pha-ra-ôn, vua Ai Cập.

9 Vì vậy, anh em phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em là Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời thành tín, Đấng gìn giữ giao ước và lòng nhân từ đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ngài và tuân giữ các điều răn Ngài.

10 Nhưng với những kẻ ghét Ngài, thì Ngài báo ứng nhãn tiền bằng cách tiêu diệt chúng. Ngài không trì hoãn nhưng báo ứng nhãn tiền những kẻ ghét Ngài.

11 Vậy, anh em hãy tuân giữ các điều răn, luật lệ và mệnh lệnh mà hôm nay tôi truyền cho anh em.

12 Nếu anh em đã nghe các luật lệ nầy, gìn giữ và làm theo, thì đối với anh em, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ giữ lời giao ước và lòng nhân từ mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em.

13 Ngài sẽ yêu thương anh em, ban phước cho anh em, làm cho dân số anh em gia tăng. Ngài cũng ban phước cho dòng dõi anh em, cho thổ sản anh em, cho ngũ cốc, rượu và dầu của anh em, cho đàn bò và đàn lừa của anh em gia tăng, trên vùng đất mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em là sẽ ban cho anh em.

14 Anh em sẽ được phước hơn mọi dân; giữa anh em sẽ không có người nam hay nữ nào bị hiếm muộn, hoặc súc vật nào của anh em mất khả năng sinh sản.

15 Đức Giê-hô-va sẽ đẩy các tật bệnh lìa xa anh em. Ngài không giáng trên anh em những dịch bệnh hiểm nghèo của Ai Cập mà anh em đã từng biết, nhưng sẽ giáng trên những kẻ nào thù ghét anh em.

16 Vậy anh em phải tiêu diệt các dân tộc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phó cho anh em, đừng để mắt đoái thương chúng, cũng không được phục vụ các thần của chúng, vì đó sẽ là một cái bẫy cho anh em.

17 Có thể trong lòng anh em đang bảo rằng: ‘Các dân tộc nầy đông hơn ta, làm sao ta đánh đuổi được chúng?’

18 Nhưng anh em đừng sợ. Hãy nhớ lại những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho Pha-ra-ôn và cả xứ Ai Cập.

19 Chính mắt anh em đã thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dùng những thử thách lớn lao, những dấu lạ phép mầu, dang rộng cánh tay quyền uy để đem anh em ra khỏi Ai Cập. Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng sẽ làm như vậy với các dân tộc mà anh em đang sợ hãi đó.

20 Ngoài ra, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ sai cả ong lỗ đến đánh chúng cho đến khi những kẻ sống sót và đang chạy trốn anh em đều bị tiêu diệt.

21 Đừng sợ hãi các dân ấy, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đang ngự giữa anh em là Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng kính sợ.

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ dần dần đánh đuổi các dân tộc ấy khỏi anh em. Anh em không thể tiêu diệt chúng ngay tức khắc được, vì nếu vậy thì thú rừng sẽ sinh sôi nẩy nở, tác hại đến anh em.

23 Tuy nhiên, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ phó chúng vào tay anh em, và sẽ làm cho chúng rơi vào tình trạng hoảng loạn kinh khiếp cho đến khi chúng bị tiêu diệt.

24 Ngài sẽ phó vua của các dân ấy vào tay anh em và anh em phải xóa tên các vua đó khỏi thiên hạ. Sẽ không còn một ai chống cự anh em, tất cả sẽ bị anh em tiêu diệt.

25 Anh em phải thiêu hủy hình tượng các thần của chúng. Đừng tham muốn rồi lấy cho mình bạc hay vàng trên các tượng ấy kẻo anh em bị mắc bẫy, vì đó là thứ ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

26 Không được đem thứ ghê tởm ấy về nhà vì anh em cũng sẽ bị rủa sả như nó. Anh em phải kinh tởm và ghét cay ghét đắng nó vì đó là vật đáng bị tiêu diệt.”

8

1 “Anh em hãy cẩn thận làm theo tất cả điều răn mà hôm nay tôi truyền cho anh em để anh em được sống, gia tăng dân số, và vào nhận làm sản nghiệp vùng đất mà Đức Giê-hô-va đã thề với tổ phụ anh em.

2 Hãy nhớ lại suốt chặng đường trong hoang mạc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn anh em đi trong bốn mươi năm nay, Ngài hạ anh em xuống và thử thách anh em để biết rõ lòng anh em thế nào, có tuân giữ điều răn của Ngài hay không.

3 Ngài hạ anh em xuống, khiến anh em gặp cảnh đói khổ rồi cho anh em ăn ma-na mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết, để dạy anh em biết rằng loài người sống không chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời phán từ miệng Đức Giê-hô-va.

4 Suốt bốn mươi năm nay áo quần anh em không sờn rách, chân anh em chẳng sưng phù.

5 Vậy, anh em phải nhận biết trong lòng rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời sửa phạt anh em như người cha sửa phạt con trai mình.

6 Vậy, anh em hãy tuân giữ những điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi trong các đường lối Ngài và kính sợ Ngài.

7 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ đưa anh em vào một vùng đất tốt tươi, có nhiều sông suối và mạch nước tuôn chảy trong các thung lũng và trên đồi núi;

8 vùng đất có lúa mì, lúa mạch, cây nho, cây vả, cây lựu, cây ô-liu và mật ong.

9 Trong vùng đất đó, anh em sẽ ăn bánh đầy đủ, không thiếu một thứ gì; đá trong vùng đó có quặng sắt và anh em có thể khai thác đồng từ đồi núi.

10 Vậy, khi anh em được ăn no nê thì nhớ chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vì Ngài đã ban cho anh em vùng đất tốt tươi nầy.

11 Hãy cẩn thận kẻo anh em quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không tuân giữ những điều răn, mệnh lệnh và luật lệ của Ngài mà ngày nay tôi truyền lại cho anh em.

12 Đừng để sau khi đã ăn no nê, xây nhà tốt để ở,

13 thấy bò chiên gia tăng, bạc vàng và mọi tài sản mình đều dư dật,

14 thì lòng anh em kiêu ngạo, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đấng đã đem anh em ra khỏi Ai Cập, tức khỏi nhà nô lệ.

15 Ngài đã dẫn anh em đi xuyên qua hoang mạc mênh mông khủng khiếp, vùng đất khô cằn không có nước, đầy rắn lửa và bọ cạp. Ngài khiến nước từ tảng đá rất cứng tuôn ra cho anh em.

16 Trong hoang mạc Ngài cho anh em ăn ma-na, thức ăn mà tổ phụ anh em chưa từng biết, cho anh em nếm trải đói khổ và thử thách để cuối cùng ban phước hạnh cho anh em.

17 Vậy, phải cẩn thận, đừng tự bảo rằng: ‘Chính năng lực và sức mạnh của đôi tay ta đã tạo dựng cho ta cơ đồ nầy.’

18 Nhưng phải tưởng nhớ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, vì chính Ngài là Đấng ban cho anh em sức lực tạo dựng cơ đồ nầy, để thực hiện giao ước mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em, như Ngài đang làm ngày nay.

19 Nếu anh em quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em mà theo các thần khác, phục vụ và thờ lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh báo anh em rằng chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong.

20 Anh em sẽ bị tiêu diệt như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va tiêu diệt trước mặt anh em, vì anh em đã không vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.”

9

1 “Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy nghe! Hôm nay anh em sẽ vượt qua sông Giô-đanh để đánh đuổi các dân tộc đông hơn và mạnh hơn anh em, có những thành lớn và tường lũy cao ngất trời.

2 Đây là giống dân khổng lồ, con cháu A-na-kim, mà anh em đã biết và đã nghe nói: ‘Ai có thể đương đầu với con cháu A-nác?’

3 Hôm nay, anh em phải biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ đi trước anh em như một đám lửa hừng, sẽ tiêu diệt và hạ các dân nầy xuống trước mặt anh em. Anh em sẽ nhanh chóng trục xuất và tiêu diệt chúng, như Đức Giê-hô-va đã hứa.

4 Nhưng khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đánh đuổi chúng trước mặt anh em thì anh em đừng tự nhủ rằng: ‘Nhờ sự công chính của ta nên Đức Giê-hô-va đã đem ta vào chiếm hữu đất nầy.’ Thật ra, chính vì tội ác của các dân tộc đó mà Đức Giê-hô-va đánh đuổi chúng khỏi anh em.

5 Không phải vì sự công chính hay lòng chính trực của anh em mà anh em được vào chiếm hữu đất đai của các dân tộc ấy; nhưng vì tội ác của chúng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ trục xuất chúng khỏi anh em để làm ứng nghiệm lời hứa mà Ngài đã thề với các tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.

6 Như vậy, anh em phải biết rằng không phải nhờ sự công chính của anh em mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời cho anh em chiếm hữu vùng đất tốt tươi nầy đâu, vì anh em là một dân tộc cứng cổ.”

7 “Anh em hãy nhớ, đừng quên rằng trong hoang mạc anh em đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời như thế nào. Từ ngày ra khỏi Ai Cập cho đến chốn nầy, anh em đã thường xuyên phản nghịch Đức Giê-hô-va.

8 Tại núi Hô-rếp, anh em đã chọc giận Đức Giê-hô-va và Ngài đã giận anh em đến nỗi định tiêu diệt anh em.

9 Khi tôi lên núi để nhận hai bảng đá trên đó Đức Giê-hô-va đã ghi bản giao ước mà Ngài đã lập với anh em, tôi đã ở lại trên núi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh cũng chẳng uống nước.

10 Đức Giê-hô-va đã trao cho tôi hai bảng đá do chính ngón tay Đức Chúa Trời viết, trên đó có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán với anh em tại trên núi, từ đám lửa, trong ngày hội họp.

11 Cuối thời gian bốn mươi ngày bốn mươi đêm đó, Đức Giê-hô-va đã trao cho tôi hai bảng đá trên đó đã có bản giao ước mà Ngài đã lập với anh em.

12 Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Hãy đứng dậy, mau xuống khỏi đây vì dân mà con đem ra khỏi Ai Cập đã trở nên bại hoại. Chúng đã vội bỏ đường lối mà Ta đã truyền dạy, và đúc cho mình một hình tượng.’

13 Đức Giê-hô-va còn phán với tôi: ‘Ta đã thấy dân nầy thật là một dân cứng cổ!

14 Cứ để mặc Ta, Ta sẽ tiêu diệt chúng và xóa tên chúng khỏi thiên hạ. Nhưng Ta sẽ làm cho con trở thành một dân tộc hùng mạnh và đông hơn dân ấy.’

15 Vậy, tôi liền quay xuống núi với hai bảng đá có ghi giao ước trên tay, trong khi cả núi vẫn còn bốc lửa.

16 Tôi thấy anh em đã thật sự phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, anh em đã vội vàng từ bỏ đường lối mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy anh em, tự đúc cho mình hình tượng một con bò con.

17 Tôi cầm hai bảng đá và ném xuống đất. Hai bảng đá vỡ nát thành từng mảnh trước mặt anh em.

18 Sau đó, vì tội lỗi anh em đã phạm khi làm điều dữ để chọc giận Đức Giê-hô-va, tôi đã phủ phục trước mặt Ngài suốt bốn mươi ngày đêm, và như lần trước, tôi không ăn bánh cũng chẳng uống nước.

19 Tôi run sợ trước cơn thịnh nộ mà Đức Giê-hô-va đã nổi lên với anh em; Ngài giận đến nỗi sẵn sàng tiêu diệt anh em. Nhưng cả lần nầy nữa, Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi.

20 Đức Giê-hô-va cũng nổi thịnh nộ với A-rôn đến nỗi muốn giết ông, nhưng ngay lúc đó tôi cũng cầu thay cho A-rôn.

21 Tôi đem cái sản phẩm tội lỗi của anh em, tức là tượng con bò con, ra đốt trong lửa, nghiền nát, tán nhuyễn thành bụi rồi đổ bụi ấy vào khe nước từ trên núi chảy xuống.

22 Anh em cũng đã chọc giận Đức Giê-hô-va tại Tha-bê-ra, tại Ma-sa và tại Kíp-rốt Ha-tha-va.

23 Khi sai anh em đi từ Ca-đe Ba-nê-a, Đức Giê-hô-va đã dặn: ‘Hãy đi lên chiếm hữu vùng đất mà Ta đã ban cho các ngươi,’ nhưng anh em đã chống lại mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không tin cậy, cũng không vâng lời Ngài.

24 Từ ngày tôi biết anh em đến nay, anh em luôn phản nghịch Đức Giê-hô-va.

25 Vậy, tôi đã phủ phục trước mặt Đức Giê-hô-va suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm, vì Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài quyết định tiêu diệt anh em.

26 Tôi đã cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: ‘Lạy Chúa Giê-hô-va, xin Chúa đừng tiêu diệt dân Chúa là cơ nghiệp của Ngài, là dân mà Chúa đã chuộc bằng sự uy nghi cao cả của Ngài, và đã đem họ ra khỏi Ai Cập bằng cánh tay quyền uy của Ngài.

27 Xin Chúa nhớ đến các đầy tớ Chúa là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp mà bỏ qua cho sự cứng lòng, tính hung dữ và tội ác của dân nầy.

28 Nếu không, dân của xứ mà Ngài đã đem chúng con ra, sẽ nói: Vì Đức Giê-hô-va không thể đem dân ấy vào xứ mà Ngài đã hứa, và vì ghét họ nên Ngài đem họ ra và để cho họ chết trong hoang mạc.

29 Nhưng họ là dân Ngài, là sản nghiệp mà Ngài đã dùng quyền uy lớn lao và dang rộng cánh tay mạnh mẽ đem ra khỏi Ai Cập.’”

10

1 “Lúc đó Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Con hãy đẽo hai bảng đá giống hai bảng trước và lên gặp Ta trên núi. Con cũng đóng một cái hòm bằng gỗ.

2 Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà con đã đập bể, và con phải để hai bảng ấy vào trong hòm.’

3 Vậy tôi đóng một cái hòm bằng gỗ si-tim, đẽo hai bảng đá giống hai bảng trước, rồi cầm hai bảng đó trong tay và đi lên núi.

4 Ngài viết trên hai bảng nầy những lời Ngài đã viết lần trước, tức là Mười Điều Răn mà Đức Giê-hô-va đã phán với anh em từ đám lửa trên núi trong ngày hội họp. Sau đó, Đức Giê-hô-va trao cho tôi các bảng đó.

5 Tôi quay xuống núi và để hai bảng đá vào hòm mà tôi đã đóng; hai bảng ấy vẫn còn đó như Đức Giê-hô-va đã truyền dạy tôi.”

6 Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Bê-rốt Bê-nê Gia-can đến Mô-sê-ra. A-rôn qua đời và được chôn cất tại đây. Ê-lê-a-sa con trai ông thay ông làm chức tế lễ.

7 Từ chỗ đó dân Y-sơ-ra-ên đi đến Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha là xứ có nhiều sông rạch.

8 Lúc ấy, Đức Giê-hô-va biệt riêng bộ tộc Lê-vi để khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, chầu chực trước mặt Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài và nhân danh Ngài mà chúc phước, cho đến ngày nay.

9 Vì thế, bộ tộc Lê-vi không được chia phần đất làm cơ nghiệp như các bộ tộc anh em, vì Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ, như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phán với họ.

10 “Tôi ở lại trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm như lần đầu, và một lần nữa Đức Giê-hô-va lại nhậm lời tôi, Ngài từ bỏ ý định tiêu diệt anh em.

11 Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Con hãy đứng dậy, tiếp tục lãnh đạo dân chúng, để họ có thể vào và chiếm hữu vùng đất mà Ta dành cho họ như đã thề với tổ phụ họ.’”

12 “Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, điều mà bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời đòi hỏi anh em là gì nếu không phải là tôn kính Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi trong đường lối Ngài, hết lòng hết linh hồn mà kính mến và phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời,

13 tuân giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va mà tôi truyền cho anh em ngày nay, để anh em được phước?

14 Kìa, trời và các tầng trời cao nhất, đất và mọi vật trên đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

15 Thế nhưng Đức Giê-hô-va lại tỏ lòng yêu thương tổ phụ anh em và trong muôn dân Ngài đã chọn anh em là dòng dõi họ, như anh em thấy ngày nay.

16 Vậy hãy cắt bì tấm lòng của anh em và đừng cứng cổ nữa,

17 vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Thần của các thần và Chúa của các chúa, là Đức Chúa Trời vĩ đại, đầy quyền năng và đáng kính sợ, là Đấng không thiên vị, và không nhận hối lộ.

18 Ngài phân xử công minh cho kẻ mồ côi, người góa bụa, yêu thương người tha hương, ban cho họ bánh ăn áo mặc.

19 Vậy anh em phải yêu thương người tha hương vì anh em đã từng tha hương trong đất Ai Cập.

20 Anh em phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, phục vụ Ngài, gắn bó với Ngài và nhân danh Ngài mà thề nguyện.

21 Chính Ngài là Đấng anh em phải ca tụng. Ngài là Đức Chúa Trời của anh em, là Đấng đã làm cho anh em những việc to lớn và đáng sợ mà chính mắt anh em đã nhìn thấy.

22 Khi xuống Ai Cập để sinh sống, tổ phụ anh em chỉ vỏn vẹn có bảy mươi người, mà bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho anh em đông như sao trên trời.”

11

1 “Anh em phải luôn luôn kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, và tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, tức là luật lệ, mệnh lệnh và điều răn của Ngài.

2 Ngày nay, tôi không nói với con cái anh em, là những đứa nhỏ chưa từng biết, chưa từng chứng kiến sự dạy dỗ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, nhưng với chính anh em là những người đã nhận biết sự vĩ đại, sự uy nghiêm, cánh tay quyền năng rộng mở của Ngài,

3 những phép lạ và công việc Ngài làm tại Ai Cập để trừng phạt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập và cả nước của vua nầy,

4 cũng như những gì Ngài đã làm cho quân đội và ngựa xe Ai Cập khi chúng truy đuổi anh em. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dùng nước của Biển Đỏ nhận chìm và tiêu diệt chúng cho đến ngày nay.

5 Anh em biết những gì Ngài đã làm cho anh em trong hoang mạc, cho đến khi tới được nơi nầy,

6 cũng như những gì Ngài làm cho Đa-than, A-bi-ram, các con của Ê-li-áp, cháu Ru-bên, khi đất hả miệng nuốt hai người, gia quyến, lều trại và tất cả những gì thuộc về họ, ngay giữa toàn dân Y-sơ-ra-ên.

7 Chính mắt anh em đã thấy tất cả những việc lớn mà Đức Giê-hô-va đã làm.

8 Vậy, anh em phải vâng giữ tất cả điều răn mà tôi truyền cho anh em ngày nay để anh em đủ sức lực tiến chiếm xứ mà anh em sắp chiếm hữu,

9 và để anh em được sống lâu trên đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ anh em và cho dòng dõi họ, là xứ đượm sữa và mật.

10 Vì xứ anh em sắp tiến chiếm không giống xứ Ai Cập là nơi anh em đã ra khỏi, nơi mà sau khi gieo giống anh em phải dùng chân đạp xe nước mà tưới như tưới một vườn rau.

11 Trái lại, xứ anh em sắp vào chiếm hữu là một xứ có núi đồi và thung lũng, nhuần tưới bởi mưa trời,

12 là xứ được Giê-hô-va Đức Chúa Trời chăm sóc. Mắt của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em luôn đoái xem xứ ấy từ đầu năm đến cuối năm.

13 Vậy nếu anh em thực tâm vâng theo các điều răn mà tôi truyền cho anh em hôm nay, hết lòng, hết linh hồn kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em và phụng sự Ngài,

14 thì Ngài sẽ cho mưa trên đất đúng mùa, cả mưa mùa thu và mưa mùa xuân, để anh em thu hoạch ngũ cốc, rượu và dầu.

15 Ngài cũng khiến cỏ mọc ngoài đồng cho đàn súc vật của anh em. Anh em sẽ ăn uống no nê.

16 Anh em hãy cẩn thận, đừng để lòng mình bị quyến dụ mà xây bỏ Chúa, phục vụ các thần khác và quỳ lạy chúng,

17 khiến cho cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng trên anh em, rồi Ngài đóng các tầng trời lại để không có mưa, đất không sinh sản hoa màu, và anh em sẽ sớm bị diệt khỏi vùng đất tốt tươi mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em.

18 Vậy hãy ghi lòng tạc dạ những lời tôi nói với anh em, buộc chúng vào tay làm dấu và đeo lên trán làm hiệu.

19 Hãy dạy dỗ những lời đó cho con cái anh em, và phải nhắc đến khi anh em ngồi trong nhà cũng như lúc ra ngoài đường, khi anh em đi ngủ cũng như lúc thức dậy.

20 Cũng phải viết các lời đó lên khung cửa nhà và trước cổng thành

21 để ngày nào các tầng trời còn che trên đất thì anh em và con cái anh em còn được sống trong xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ anh em.

22 Vì nếu anh em cẩn thận vâng giữ mọi điều răn mà tôi truyền cho anh em phải thực hành, kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, đi trong đường lối Ngài và gắn bó với Ngài,

23 thì Đức Giê-hô-va sẽ đuổi tất cả các dân tộc nầy khỏi anh em, và anh em sẽ trục xuất những dân tộc lớn và mạnh hơn anh em.

24 Nơi nào bàn chân anh em đặt đến đều sẽ thuộc về anh em. Lãnh thổ anh em sẽ chạy từ hoang mạc đến Li-ban, từ sông Ơ-phơ-rát đến Biển Tây.

25 Không một ai có thể đương đầu với anh em. Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ gieo sự sợ hãi và kinh hoàng trên khắp các miền đất anh em sẽ đi qua, như Ngài đã phán với anh em.

26 Kìa, hôm nay tôi đặt trước mặt anh em phước lành và nguyền rủa.

27 Anh em sẽ hưởng phước lành nếu vâng theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà tôi truyền cho anh em hôm nay;

28 hoặc anh em sẽ bị nguyền rủa nếu không vâng theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, nhưng quay lưng lại với đường lối tôi truyền cho anh em hôm nay, để đi theo các thần khác mà anh em chưa từng biết.

29 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đem anh em vào xứ mà anh em sắp vào nhận làm sản nghiệp, thì anh em sẽ đặt lời chúc lành trên núi Ga-ri-xim và lời nguyền rủa trên núi Ê-banh.

30 Hai núi nầy chẳng phải ở bên kia sông Giô-đanh, trên con đường phía tây, cạnh những cây sồi của Mô-rê, trong lãnh thổ của người Ca-na-an là dân sống trong vùng cao nguyên, đối diện với Ghinh-ganh đó sao?

31 Anh em sắp vượt qua sông Giô-đanh để vào chiếm hữu xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em. Vậy khi anh em chiếm hữu và cư ngụ trong xứ đó,

32 thì phải cẩn thận thực hành tất cả những luật lệ và mệnh lệnh mà tôi ban bố trước mặt anh em hôm nay.”

12

1 “Đây là những luật lệ và mệnh lệnh mà anh em phải cẩn thận làm theo trong suốt thời gian sống trên đất, khi ở trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã ban cho anh em làm sản nghiệp.

2 Anh em phải phá hủy toàn bộ các địa điểm mà các dân tộc anh em sắp đuổi đã dùng làm nơi cúng bái các thần của họ, hoặc trên núi cao, trên gò nổng hay dưới các tàng cây xanh.

3 Phải đập vỡ các bàn thờ, nghiền nát các tượng, thiêu hủy những trụ thờ A-sê-ra, triệt hạ tượng chạm các thần của chúng và xóa tên các thần ấy khỏi những chỗ đó.

4 Đừng thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em theo cách các dân tộc ấy thờ thần của chúng.

5 Nhưng anh em phải tìm đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn từ giữa các bộ tộc để đặt danh Ngài, tức là nơi ngự của Ngài và là nơi anh em phải đi đến.

6 Anh em sẽ đem đến đó những tế lễ thiêu, các sinh tế, thuế một phần mười, lễ vật dâng giơ lên, lễ vật hoàn nguyện, lễ vật tự nguyện, và các con đầu lòng trong đàn bò và chiên.

7 Tại đó, trước sự hiện diện của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, anh em sẽ cùng gia đình ăn uống và hân hoan về mọi việc tay mình làm, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho anh em.

8 Anh em đừng làm như chúng ta đang làm ở đây hôm nay, tức là mỗi người làm theo điều mình cho là phải,

9 vì anh em chưa vào nơi nghỉ ngơi và chưa được hưởng cơ nghiệp mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.

10 Nhưng khi anh em qua sông Giô-đanh và ở trong đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp, Ngài sẽ ban cho anh em sự an nghỉ, thoát khỏi sự vây hãm của mọi kẻ thù, và cho anh em một cuộc sống yên ổn.

11 Bấy giờ sẽ có một địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em chọn lựa để danh Ngài ngự tại đó, và là nơi anh em sẽ đem đến những thứ mà tôi đã truyền cho anh em như tế lễ thiêu, các sinh tế, thuế một phần mười, lễ vật dâng giơ lên, và các lễ vật hoàn nguyện mà anh em hứa dâng cho Đức Giê-hô-va.

12 Anh em sẽ hân hoan trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời cùng với con trai, con gái, tôi trai tớ gái của anh em, và cả với người Lê-vi ở trong thành anh em, vì họ không được chia phần hay hưởng cơ nghiệp với anh em.

13 Phải cẩn thận đừng dâng tế lễ thiêu tại bất cứ nơi nào anh em thấy,

14 nhưng phải dâng tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va chọn từ một trong các bộ tộc của anh em, và tại đó anh em sẽ làm theo mọi điều tôi truyền dặn.

15 Tuy nhiên, anh em có thể giết súc vật và ăn thịt trong bất cứ thành nào anh em thích, tùy theo phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em. Cả người thanh sạch lẫn người không thanh sạch đều có thể ăn thịt đó như ăn thịt linh dương hay nai đực.

16 Nhưng anh em chớ nên ăn huyết; phải đổ huyết trên đất như đổ nước vậy.

17 Còn thuế một phần mười về ngũ cốc, rượu, dầu hay các con đầu lòng của đàn bò, chiên, hoặc bất cứ lễ vật hoàn nguyện nào mà anh em thề hứa, các tế lễ tự nguyện hay lễ vật dâng giơ lên thì anh em không nên ăn tại trong các thành mình.

18 Nhưng anh em phải ăn các thứ đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại địa điểm mà Ngài chọn, cùng với các con trai, con gái, tôi trai tớ gái và người Lê-vi ở trong thành anh em, và anh em sẽ hân hoan trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời về mọi việc mà tay anh em đã làm.

19 Phải chú ý, không được quên người Lê-vi suốt thời gian anh em sống trong xứ.

20 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em mở rộng bờ cõi cho anh em như Ngài đã phán, và anh em nói: ‘Tôi sẽ ăn thịt,’ vì anh em ước ao được ăn thịt, thì anh em có thể ăn tùy thích.

21 Nếu địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chọn để đặt danh Ngài ở xa chỗ anh em, thì anh em có thể giết bò hay chiên mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em như tôi đã dặn, rồi ăn trong các thành mình bao nhiêu tùy ý anh em.

22 Phải ăn thịt ấy như ăn thịt linh dương hay nai đực; cả người thanh sạch lẫn người không thanh sạch đều được phép ăn.

23 Nhưng nhất quyết không được ăn huyết, vì huyết là sự sống nên anh em không được ăn thịt cùng với sự sống.

24 Anh em không được ăn huyết, phải đổ huyết trên đất như đổ nước vậy.

25 Đừng ăn huyết để anh em và con cháu anh em được phước, vì anh em đã làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va.

26 Còn về những thú vật anh em đã biệt riêng ra thánh hay các lễ vật hoàn nguyện thì anh em phải đem đến địa điểm mà Đức Giê-hô-va đã chọn,

27 rồi dâng cả thịt và huyết nó làm tế lễ thiêu trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Huyết các sinh tế phải đổ trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, còn thịt thì anh em được phép ăn.

28 Hãy vâng giữ cẩn thận mọi lời mà tôi truyền dặn anh em để anh em và con cháu anh em được phước đời đời, vì anh em làm điều tốt đẹp và ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.

29 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã diệt khỏi anh em những dân tộc mà anh em sẽ phải vào để trục xuất, và khi đã trục xuất chúng rồi định cư trong đất đó

30 thì hãy cẩn thận, đừng để sau khi chúng đã bị trừ diệt khỏi anh em, anh em lại mắc bẫy rồi bắt chước chúng mà nói rằng: ‘Các dân tộc nầy phụng thờ thần của họ thế nào thì ta cũng sẽ làm như vậy.’

31 Anh em không được làm như thế đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời vì Đức Giê-hô-va ghét các việc ghê tởm mà chúng đã làm cho các thần của chúng. Chúng thiêu cả con trai và con gái mình trong lửa để tế các thần của chúng.

32 Anh em hãy cẩn thận làm theo mọi điều tôi dặn bảo anh em, không được thêm bớt gì cả.”

13

1 “Nếu giữa anh em xuất hiện một nhà tiên tri hay một kẻ đoán mộng và người ấy báo trước với anh em một dấu lạ hoặc phép mầu.

2 Nếu dấu lạ hoặc phép mầu mà người ấy nói với anh em có xảy ra, và nếu nó bảo: ‘Chúng ta hãy đi theo và thờ lạy các thần khác’ là các thần mà anh em không hề biết,

3 thì chớ nên nghe lời nhà tiên tri hay kẻ đoán mộng ấy, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đang thử nghiệm anh em để xem anh em có hết lòng hết linh hồn kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em không.

4 Anh em phải theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, kính sợ Ngài, tuân giữ các điều răn Ngài, vâng theo tiếng phán Ngài, phục vụ Ngài và gắn bó với Ngài.

5 Còn nhà tiên tri hay kẻ đoán mộng đó phải bị tử hình vì nó đã xúi giục nổi loạn chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em, là Đấng đã đem anh em ra khỏi đất Ai Cập, chuộc anh em khỏi nhà nô lệ. Nó đẩy anh em ra khỏi đường lối mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã truyền dạy anh em phải đi. Như vậy phải loại trừ sự gian ác khỏi anh em.

6 Nếu người anh em ruột, con trai, con gái, hay người vợ yêu quý của anh em hoặc người bạn thân thiết nhất của anh em bí mật dụ dỗ anh em rằng: ‘Chúng ta hãy đi và thờ lạy các thần khác’ là những thần mà anh em hay tổ phụ anh em chưa từng biết,

7 là các thần của những dân tộc chung quanh, hoặc gần hay xa anh em, từ đầu xứ cho đến cuối xứ,

8 thì chớ nhượng bộ hay nghe lời nó. Đừng để mắt đoái thương hoặc cảm thông hay bao che cho nó.

9 Anh em phải nhất quyết xử tử nó. Anh em phải ra tay giết nó trước rồi tiếp đó toàn dân mới ra tay.

10 Phải ném đá giết chết người đó vì nó đã tìm cách lôi kéo anh em xa cách Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, là Đấng đã đem anh em ra khỏi Ai Cập, thoát khỏi nhà nô lệ.

11 Cả Y-sơ-ra-ên sẽ nghe điều đó và sợ hãi, không bao giờ làm một việc ác như thế giữa anh em nữa.

12 Nếu anh em nghe nói về một trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em ở,

13 có những kẻ gian tà ra từ giữa anh em, lôi kéo dân chúng trong thành rằng: ‘Chúng ta hãy đi và thờ lạy các thần khác’, là những thần mà anh em không hề biết,

14 thì anh em phải điều tra, tìm hiểu, xem xét kỹ càng. Nếu tin tức đó là thật, và chắc chắn là điều ghê tởm như thế đã xảy ra giữa anh em,

15 thì anh em phải dùng gươm giết dân chúng trong thành ấy. Phải tiêu diệt hoàn toàn thành và mọi vật trong đó; tiêu diệt toàn bộ dân chúng và mọi súc vật trong thành. Phải dùng gươm mà giết sạch.

16 Hãy gom tất cả của cải thu được vào giữa quảng trường rồi phóng hỏa đốt thành cùng với mọi thứ chiếm được, như một tế lễ toàn thiêu dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em. Thành ấy sẽ mãi mãi hoang phế và không bao giờ được xây dựng lại.

17 Đừng để bất cứ vật đáng tận diệt nào dính lại trên tay anh em. Ngày nay anh em hãy tuân giữ các điều răn Ngài mà tôi truyền lại cho anh em và làm điều ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Như vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ nguôi cơn thịnh nộ và tỏ lòng thương xót đối với anh em. Trong ơn thương xót của Ngài, dân số anh em sẽ gia tăng như lời Ngài đã thề hứa với tổ phụ anh em.”

14

1 “Anh em là con dân của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Anh em đừng vì người chết mà cắt da thịt mình, hoặc cạo tóc phía trên trán,

2 vì anh em là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Đức Giê-hô-va đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất để anh em làm một dân thuộc quyền sở hữu của Ngài.

3 Anh em không được ăn bất cứ vật gì đáng ghê tởm.

4 Đây là những loài vật mà anh em được ăn: bò, cừu, dê,

5 nai, hoàng dương, hươu, dê rừng, sơn dương, bò rừng, và linh dương.

6 Những loài vật nào có móng chẽ và nhai lại, thì anh em được ăn.

7 Tuy nhiên trong các loài nhai lại hoặc có móng chẽ, anh em không được ăn các con nầy: lạc đà, thỏ rừng, và chồn núi, vì chúng nhai lại nhưng không có móng chẽ; chúng là loài không thanh sạch cho anh em.

8 Con heo tuy có móng chẽ, nhưng không nhai lại nên cũng là loài không thanh sạch cho anh em. Đừng ăn thịt các loài vật đó, cũng đừng đụng đến xác chết của chúng.

9 Trong các sinh vật sống dưới nước, anh em chỉ được ăn những loài nào có vây và có vảy.

10 Nhưng loài nào không có vây, không có vảy thì không được ăn; chúng không thanh sạch cho anh em.

11 Anh em được ăn các loài chim sạch.

12 Nhưng đây là các loài chim mà anh em không được ăn: đại bàng, diều hâu, kên kên;

13 con diều, con ó, và mọi loài diều hâu;

14 mọi loài quạ;

15 đà điểu, cú mèo, gà nước, và loài bồ các;

16 chim mèo, chim cú, chim hạc,

17 chim chàng bè, cồng cộc, bồ nông,

18 các loài cò, diệc; chim rẽ quạt, và dơi.

19 Tất cả các loài côn trùng có cánh đều không thanh sạch cho anh em; không được ăn đến.

20 Anh em được ăn các loài có cánh thanh sạch.

21 Đừng ăn thịt một con thú đã chết. Anh em có thể đem nó cho các ngoại kiều trong thành để họ ăn, hoặc anh em có thể bán cho người ngoại quốc. Vì anh em là một dân tộc biệt riêng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Đừng nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.”

22 “Mỗi năm anh em phải để riêng một phần mười tất cả sản phẩm từ hạt giống được gieo trong đồng ruộng sinh ra.

23 Anh em sẽ ăn một phần mười về ngũ cốc, dầu, rượu, cũng như những con đầu lòng trong bầy chiên, bầy bò của anh em trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em, tại địa điểm mà Ngài sẽ chọn để danh Ngài ngự tại đó. Đây là cách anh em học tập để suốt đời kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

24 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban phước cho anh em, nếu đường đi đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn để danh Ngài ngự quá xa khiến anh em không thể đem thuế một phần mười ấy đi được,

25 thì bấy giờ anh em có thể đổi thành bạc rồi mang bạc đó theo mình đi đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn.

26 Anh em dùng bạc ấy đổi các thứ như bò, chiên, rượu hay thức uống có men hoặc bất cứ thứ gì anh em thích. Anh em sẽ cùng gia đình ăn uống vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.

27 Đừng quên những người Lê-vi ở trong thành anh em, vì họ không có phần cũng không chung hưởng cơ nghiệp với anh em.

28 Cuối mỗi ba năm anh em phải trích trọn một phần mười sản phẩm của năm ấy và trữ lại trong thành mình.

29 Bấy giờ những người Lê-vi vốn không có phần và cũng không chung hướng cơ nghiệp với anh em, các ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa ở trong thành của anh em đều có thể đến ăn uống no nê. Như vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho mọi công việc tay anh em làm.”

15

1 “Vào cuối mỗi bảy năm anh em phải tha nợ.

2 Đây là cách thức tha nợ: Mỗi chủ nợ sẽ tha món nợ mà mình đã cho người lân cận vay, không được thúc ép người lân cận hay anh em mình phải trả, vì lệnh tha nợ của Đức Giê-hô-va đã được công bố.

3 Anh em có thể thúc ép người ngoại quốc trả nợ nhưng với anh em mình thì phải xóa bất cứ món nợ nào mà họ đã mắc với anh em.

4 Giữa anh em sẽ không có người nghèo khó vì Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ ban phước cho anh em khi sống trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm cơ nghiệp,

5 miễn là anh em chăm chú lắng nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và cẩn thận làm theo các điều răn mà tôi truyền cho anh em ngày nay.

6 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho anh em như Ngài đã hứa. Anh em sẽ cho nhiều nước vay nhưng anh em không vay mượn ai cả; anh em sẽ cai trị nhiều nước nhưng các nước ấy sẽ chẳng cai trị anh em.

7 Nếu giữa anh em có người anh em nghèo khó, sống trong các thành của xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho, thì chớ cứng lòng hoặc bo bo giữ của đối với những người lân cận nghèo khó của mình.

8 Nhưng hãy mở rộng tay mình, cho người ấy vay bất cứ thứ gì họ cần.

9 Hãy cẩn thận, đừng nuôi dưỡng tư tưởng xấu xa trong lòng anh em rằng: ‘Sắp đến năm thứ bảy là năm tha nợ rồi’ và nhìn anh em túng thiếu của mình với ánh mắt ghét bỏ, không giúp gì cho họ cả. Họ sẽ khiếu nại với Đức Giê-hô-va về anh em và anh em sẽ phải mang tội.

10 Anh em hãy sẵn lòng giúp đỡ họ, đừng làm cách miễn cưỡng, vì nhờ vậy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho mọi công việc của anh em và mọi công trình mà tay anh em thực hiện.

11 Vì trong xứ lúc nào cũng có người nghèo nên tôi truyền dặn anh em rằng: ‘Hãy mở rộng bàn tay giúp đỡ người túng thiếu, nghèo khó trong xứ anh em.’”

12 “Khi một anh em hay chị em là người Hê-bơ-rơ bán mình cho anh em, thì họ sẽ phục vụ anh em trong sáu năm, nhưng đến năm thứ bảy thì anh em phải trả tự do cho họ.

13 Khi trả tự do cho họ anh em đừng để họ đi ra tay không.

14 Phải cung cấp cho họ đầy đủ chiên bò từ bầy gia súc, các sản phẩm từ sân đập lúa, từ hầm ép rượu, tức là từ những gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho anh em.

15 Hãy nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ trong đất Ai Cập và Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã cứu chuộc anh em. Vì thế mà hôm nay tôi truyền đạt cho anh em điều nầy.

16 Nhưng nếu người nô lệ nói: ‘Tôi không muốn ra khỏi nhà ông’, vì người ấy quý mến anh em và gia quyến anh em cũng như cảm thấy thỏa lòng khi ở với anh em,

17 thì bấy giờ anh em phải lấy một cái dùi kê tai người ấy vào cửa mà xỏ tai, và người ấy sẽ làm nô lệ suốt đời cho anh em. Anh em cũng làm tương tự với các nữ nô lệ.

18 Anh em đừng cho là nặng nề khi phải trả tự do cho họ vì họ đã phục dịch anh em sáu năm, bằng hai lần công việc của một người làm thuê. Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc anh em làm.”

19 “Anh em phải biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời mọi con đầu lòng đực sinh ra trong bầy bò, bầy chiên hoặc bầy dê của anh em. Đừng bắt bò đực đầu lòng làm việc, cũng đừng hớt lông con chiên đực đầu lòng.

20 Hằng năm anh em sẽ cùng gia đình ăn những con đầu lòng đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại địa điểm mà Ngài sẽ chọn.

21 Nhưng nếu chúng có khuyết tật như què, đui hay bất cứ dị tật nào khác thì đừng dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em,

22 mà phải ăn thịt chúng trong thành mình. Cả người ô uế và người được tinh sạch đều được phép ăn, như ăn thịt hoàng dương hay thịt nai vậy.

23 Nhưng anh em không được ăn huyết mà phải đổ huyết xuống đất như đổ nước.”

16

1 “Anh em hãy giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta vào tháng A-bíp vì chính trong tháng A-bíp Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đem anh em ra khỏi Ai Cập trong ban đêm.

2 Hãy dâng sinh tế lễ Vượt Qua lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta từ trong bầy chiên, dê hoặc bò của anh em, tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn để danh Ngài ngự tại đó.

3 Không được ăn tế lễ đó với bánh có men. Trong bảy ngày anh em sẽ ăn bánh không men, là bánh hoạn nạn, vì anh em đã phải vội vàng ra khỏi Ai Cập, để trọn đời anh em nhớ đến ngày mình đã ra khỏi Ai Cập.

4 Trong bảy ngày đó, không được có men trong nhà anh em cũng như trên khắp lãnh thổ. Thịt sinh tế mà anh em đã dâng vào buổi tối ngày thứ nhất cũng không được để đến sáng hôm sau.

5 Anh em cũng không được dâng sinh tế Vượt Qua trong bất cứ thành nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho anh em,

6 nhưng chỉ tại địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn để danh Ngài ngự. Tại đó anh em phải dâng sinh tế Vượt Qua vào buổi tối, khi mặt trời vừa lặn, là thời điểm anh em ra khỏi Ai Cập.

7 Anh em phải nấu thịt sinh tế và ăn tại địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn, rồi sáng hôm sau trở về trại mình.

8 Trong sáu ngày, anh em phải ăn bánh không men và đến ngày thứ bảy sẽ có một buổi lễ long trọng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em; anh em không được làm bất cứ việc gì trong ngày đó cả.”

9 “Anh em phải tính bảy tuần; bắt đầu tính bảy tuần kể từ thời điểm anh em mang liềm ra gặt lúa.

10 Rồi anh em sẽ giữ lễ Các Tuần cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em và tự tay dâng lễ vật tự nguyện tùy theo phước lành Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.

11 Anh em hãy cùng với con trai, con gái, tôi trai tớ gái anh em, người Lê-vi ở trong thành, người khách lạ, kẻ mồ côi và người góa bụa ở giữa anh em, vui vẻ dự lễ tại địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn để danh Ngài ngự tại đó.

12 Phải nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ tại Ai Cập và phải cẩn thận làm theo các mệnh lệnh nầy.”

13 “Sau khi đã thu hoạch hoa lợi từ sân đập lúa và hầm ép rượu, anh em phải giữ lễ Lều Tạm trong bảy ngày.

14 Suốt trong kỳ lễ, anh em, con trai con gái anh em, tôi trai tớ gái anh em, người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi và người góa bụa, đều phải vui vẻ mà giữ lễ đó.

15 Trong bảy ngày anh em phải giữ lễ nầy cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho mùa màng cùng mọi công việc tay anh em làm, và anh em sẽ vui mừng trọn vẹn.

16 Mỗi năm ba lần, mọi người nam đều phải trình diện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em tại địa điểm mà Ngài sẽ chọn, đó là vào dịp lễ Bánh Không Men, lễ Các Tuần và lễ Lều Tạm. Người ta sẽ không trình diện Đức Giê-hô-va với hai bàn tay trắng,

17 nhưng mỗi người sẽ theo khả năng mà dâng hiến tùy theo phước hạnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ban cho anh em.”

18 “Anh em phải bổ nhiệm thẩm phán và quan chức cho các bộ tộc trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban cho anh em. Họ sẽ phân xử dân chúng cách công minh.

19 Anh em không được làm sai lệch công lý, không thiên vị, không nhận hối lộ, vì của hối lộ làm mù mắt kẻ khôn ngoan và xuyên tạc lý lẽ của người công chính.

20 Anh em phải theo đuổi công lý và chỉ công lý mà thôi, để anh em được sống và nhận lấy xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em.”

21 “Anh em không được dựng trụ thờ bằng gỗ để thờ thần A-sê-ra bên cạnh bàn thờ mà anh em sẽ lập cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

22 Cũng không được dựng một trụ thờ bằng đá nào, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ghét các thứ ấy.”

17

1 “Anh em không được dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời một con bò đực hoặc một con chiên có tì vết hay có khuyết tật, vì đó là điều ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

2 Nếu giữa anh em, tại một trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em, có một người nam hay nữ làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vi phạm giao ước Ngài,

3 phục vụ và thờ phượng các thần khác, hoặc thờ mặt trời, mặt trăng hay tất cả tinh tú, là điều mà tôi không truyền dặn,

4 thì anh em phải điều tra thật cặn kẽ sau khi được báo hay được nghe về điều đó. Nếu điều đó là thật và có bằng cớ về một việc đáng ghê tởm như vậy đã xảy ra trong Y-sơ-ra-ên,

5 thì anh em phải đem người nam hay nữ đã làm việc tội ác đó đến cổng thành và ném đá cho đến chết.

6 Phải căn cứ trên lời khai của hai hoặc ba nhân chứng mới được xử tử kẻ đáng bị chết; còn nếu chỉ có lời khai của một người thì không được xử tử.

7 Các nhân chứng phải là người đầu tiên ra tay xử kẻ bị tử hình rồi sau đó dân chúng mới tiếp tay. Như vậy anh em sẽ loại trừ sự gian ác khỏi anh em.”

8 “Khi gặp một vụ án quá khó như giết người, tranh tụng về pháp lý hoặc gây thương tích, xảy ra trong thành, thì anh em phải nhanh chóng đi đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn,

9 gặp và xin ý kiến các thầy tế lễ dòng Lê-vi và các thẩm phán đương nhiệm. Họ sẽ cho anh em lời phán quyết.

10 Anh em phải làm đúng theo phán quyết mà họ đã công bố cho anh em tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn. Phải cẩn thận làm theo mọi lời chỉ giáo của họ.

11 Anh em phải thực thi đúng mọi lời chỉ giáo cũng như phán quyết mà họ đã công bố cho anh em, không quay sang bên phải hay bên trái.

12 Người nào kiêu căng không vâng lời vị thẩm phán hay thầy tế lễ đang phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, thì người đó phải chết. Anh em phải diệt trừ tội ác khỏi Y-sơ-ra-ên.

13 Toàn dân sẽ nghe điều ấy và run sợ, không dám kiêu căng nữa.”

14 “Khi anh em đã vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em, nhận làm cơ nghiệp và định cư trong xứ đó, thì anh em lại nói: ‘Chúng ta sẽ lập một vua cai trị chúng ta như các dân tộc chung quanh.’

15 Nếu vậy thì anh em phải lập vị vua mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn để cai trị anh em. Vua đó phải là người từ giữa anh em, không được lập một người ngoại quốc, không phải là anh em mình, lên cai trị anh em.

16 Chỉ có điều là vua ấy không được có thêm nhiều ngựa, cũng không vì muốn thêm nhiều ngựa mà đưa dân chúng trở lại Ai Cập, vì Đức Giê-hô-va đã phán với anh em rằng: ‘Các ngươi không được trở lại con đường đó nữa.’

17 Vua cũng không được có nhiều vợ kẻo lòng dạ lầm lạc. Vua cũng không được thâu trữ nhiều bạc vàng.

18 Khi lên ngôi, căn cứ trên bản luật pháp do các thầy tế lễ dòng Lê-vi giữ, vua phải chép lại cho mình một bản sao luật pháp nầy.

19 Bản ấy phải ở bên vua, và vua phải đọc suốt đời, để học tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tuân giữ mọi lời trong luật pháp và thực hành các mệnh lệnh nầy.

20 Như vậy lòng vua sẽ không kiêu căng với anh em mình, không xa cách điều răn, quay bên phải hay bên trái, để vua và con cháu vua được trị vì lâu ngày giữa Y-sơ-ra-ên.”

18

1 “Các thầy tế lễ dòng Lê-vi và cả bộ tộc Lê-vi sẽ không được chia phần sản nghiệp với Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ sống bằng các sinh tế dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va, là phần thuộc về Ngài.

2 Họ sẽ không có cơ nghiệp giữa anh em mình; chính Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ như Ngài đã phán.

3 Đây là phần mà các thầy tế lễ được hưởng từ trong các lễ vật như bò hoặc chiên mà dân chúng dâng hiến, người ta sẽ biếu các thầy cái vai, hai cái má và bao tử.

4 Anh em cũng biếu cho thầy tế lễ các sản vật đầu mùa gồm ngũ cốc, rượu, dầu và lông chiên mới hớt lần đầu.

5 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã chọn họ và các con trai họ từ các bộ tộc, để họ nhân danh Đức Giê-hô-va mà ứng hầu và phục vụ trước mặt Ngài đời đời.

6 Nếu một người Lê-vi rời bất cứ thành nào trong toàn cõi Y-sơ-ra-ên, nơi họ đang cư ngụ, và tha thiết muốn đến nơi Đức Giê-hô-va sẽ chọn,

7 thì họ có thể nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà phục vụ như tất cả anh em dòng Lê-vi khác đang ứng hầu và phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va.

8 Người ấy sẽ hưởng phần lương thực ngang bằng với các anh em mình, không kể lợi tức thu được từ việc bán tài sản của gia đình.”

9 “Khi đã vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho, anh em đừng học đòi những tập tục ghê tởm của các dân tộc ở đó.

10 Giữa anh em không một ai được làm lễ thiêu sống con trai hay con gái mình, không ai được làm thầy bói, chiêm tinh, phù thủy, thầy pháp,

11 dùng bùa ngải, đồng bóng, chiêu hồn;

12 vì Đức Giê-hô-va ghê tởm kẻ nào làm các việc ấy. Chính vì các việc ghê tởm ấy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã trục xuất các dân tộc đó khỏi anh em.

13 Anh em phải tuyệt đối trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

14 Dù những dân tộc mà anh em sắp đuổi đi có theo tà thuật và bói khoa, nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời không cho phép anh em làm như vậy.”

15 “Từ trong đồng bào của anh em, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một nhà tiên tri như tôi. Anh em phải nghe lời vị tiên tri ấy.

16 Đó chính là điều anh em đã cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại Hô-rếp trong ngày hội họp: ‘Xin đừng để chúng tôi nghe tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời hay thấy đám lửa hừng nầy nữa, kẻo chúng tôi phải chết chăng!’

17 Bấy giờ Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Chúng nói đúng.

18 Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ lập cho chúng một nhà tiên tri như con. Ta sẽ đặt lời Ta trong miệng người ấy và người ấy sẽ nói với chúng mọi điều Ta truyền dặn.

19 Kẻ nào không nghe theo lời Ta, là những lời mà nhà tiên tri nhân danh Ta nói, thì Ta sẽ hỏi tội kẻ ấy.

20 Nhưng nhà tiên tri nào cả gan nhân danh Ta nói những điều Ta không bảo nói, hoặc nhân danh các thần khác mà nói thì kẻ tiên tri ấy phải chết.’

21 Anh em có thể thắc mắc trong lòng: ‘Làm sao chúng ta nhận biết được lời nào là lời Đức Giê-hô-va không phán?’

22 Khi có một kẻ tiên tri nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói, nhưng lời người đó nói không xảy đến và không ứng nghiệm thì đó không phải là lời mà Đức Giê-hô-va đã phán. Kẻ tiên tri đó đã nói cách tự phụ, anh em đừng sợ người ấy.”

19

1 “Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã tiêu diệt các dân tộc của xứ mà Ngài ban cho anh em, và khi anh em đã trục xuất được chúng rồi định cư trong các thành và các nhà của chúng,

2 thì anh em phải dành riêng ba thành ở giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp.

3 Anh em phải lập đường sá và chia lãnh thổ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp thành ba phần, để kẻ giết người có thể ẩn náu tại đó.

4 Đây là trường hợp mà kẻ giết người có thể đến ẩn náu để được sống: Người đó vì vô ý mà làm chết người lân cận chứ trước đó không hề có thù ghét gì.

5 Giả sử có một người cùng vào rừng đốn củi với người lân cận. Khi vung rìu đốn cây, lưỡi rìu sút khỏi cán trúng nhằm người lân cận làm người nầy chết. Người gây án mạng có thể đến ẩn náu tại một trong ba thành ấy để được sống.

6 Nếu không, trong lúc giận dữ, người đòi nợ máu sẽ rượt đuổi kẻ gây án mạng, và vì đường xa quá nên có thể đuổi kịp và đánh chết người đó, mặc dù người đó không đáng phải chết, vì trước đó anh ta không hề thù hận gì với người lân cận mình.

7 Vì vậy mà tôi truyền cho anh em phải dành riêng ba thành.

8 Nếu Giê-hô-va Đức Chúa Trời mở rộng bờ cõi anh em, như Ngài đã thề với tổ phụ anh em, và nếu Ngài ban cho anh em toàn bộ vùng đất mà Ngài đã hứa với tổ phụ anh em,

9 vì anh em cẩn thận làm theo các điều răn mà tôi truyền cho anh em ngày nay, tức là kính mến Chúa là Đức Chúa Trời và luôn bước đi trong đường lối Ngài, thì bấy giờ, anh em phải thêm ba thành nữa vào ba thành đã nói trên.

10 Như vậy máu vô tội sẽ không đổ ra giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm cơ nghiệp và anh em cũng không mắc tội làm đổ máu.

11 Nhưng nếu ai vì thù hận người lân cận mà rình rập, tấn công và giết chết người đó rồi trốn vào một trong các thành ấy,

12 thì các trưởng lão của thành có kẻ giết người đó phải sai người đi bắt thủ phạm về giao cho người đòi nợ máu và nó phải chết.

13 Đừng để mắt đoái thương nó, nhưng phải tẩy sạch máu của người vô tội ra khỏi Y-sơ-ra-ên thì anh em mới được phước.

14 Anh em không được dời ranh giới của người lân cận vốn đã được các tiền nhân dựng lên trong phần cơ nghiệp mà anh em sẽ nhận được trong xứ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.

15 Một nhân chứng duy nhất thì không đủ để buộc tội một người về bất cứ tội ác hay hành vi sai quấy nào mà họ phạm. Phải căn cứ trên lời khai của hai hay ba nhân chứng mới xác định được vấn đề.

16 Nếu có một người làm chứng gian đứng lên tố cáo một người khác về hành vi sai phạm,

17 thì cả hai bên tranh chấp phải đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, trước mặt các thầy tế lễ và các thẩm phán đương nhiệm.

18 Các thẩm phán phải thẩm tra kỹ lưỡng. Nếu thấy nhân chứng là kẻ chứng gian đã vu cáo anh em mình

19 thì anh em phải làm cho hắn như hắn đã định làm cho anh em mình; như vậy anh em sẽ diệt trừ tội ác khỏi anh em.

20 Khi nghe tin nầy những người khác sẽ sợ, không bao giờ làm điều gian ác như thế giữa anh em nữa.

21 Anh em không nên thương xót những người như vậy. Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.”

20

1 “Khi đi ra giao chiến với quân thù, nếu anh em thấy chúng có nhiều ngựa, nhiều xe và binh lực đông hơn thì đừng sợ, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Đấng đã đem anh em lên từ Ai Cập sẽ ở với anh em.

2 Trước giờ anh em tham chiến, thầy tế lễ sẽ tiến đến phía trước và phát biểu với dân chúng.

3 Ông sẽ nói: ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy nghe! Hôm nay anh em sẽ giao chiến với quân thù. Đừng sờn lòng, hoảng sợ, đừng hãi hùng, kinh khiếp khi đối diện với chúng,

4 vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, là Đấng cùng đi với anh em để tiến đánh quân thù và giải cứu anh em.’

5 Bấy giờ các quan chức sẽ nói với dân chúng rằng: ‘Có ai vừa mới cất nhà mà chưa kịp khánh thành không? Hãy cho người ấy trở về nhà, vì nếu người ấy tử trận thì người khác sẽ khánh thành nhà ấy chăng.

6 Có ai đã trồng một vườn nho mà chưa kịp hưởng hoa lợi không? Hãy cho người ấy trở về nhà, vì nếu người ấy tử trận thì người khác sẽ hưởng hoa lợi vườn nho đó chăng.

7 Có ai đã đính hôn với một phụ nữ mà chưa kịp cưới không? Hãy cho người ấy trở về nhà, vì nếu người đó tử trận thì người khác sẽ cưới người vợ hứa ấy chăng.’

8 Các quan chức còn nói thêm với dân chúng: ‘Có ai cảm thấy sợ hãi và nao núng không? Hãy cho người ấy trở về nhà, nếu không người ấy có thể làm cho đồng đội nản lòng như chính người đó chăng.’

9 Khi các quan chức phát biểu xong, các cấp chỉ huy sẽ được bổ nhiệm để lãnh đạo dân chúng.

10 Khi kéo quân tấn công một thành nào, anh em phải đưa điều kiện hòa giải cho dân chúng trong thành ấy trước.

11 Nếu họ chấp thuận điều kiện giải hòa và mở cửa thành cho anh em thì toàn dân trong thành sẽ phải phục dịch và làm nô lệ cho anh em.

12 Nếu họ từ chối điều kiện giải hòa và khai chiến với anh em thì anh em sẽ bao vây thành ấy.

13 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ phó thành ấy vào tay anh em và anh em sẽ dùng gươm giết tất cả đàn ông con trai trong thành.

14 Tuy nhiên, anh em có thể giữ lại cho mình đàn bà, con trẻ, súc vật và mọi vật khác trong thành làm chiến lợi phẩm. Anh em được hưởng các chiến lợi phẩm thu được của quân thù, là những gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em.

15 Anh em hãy xử như vậy với các thành ở rất xa anh em, là những thành không thuộc về các dân tộc ở đây.

16 Nhưng trong các thành thuộc lãnh thổ của những dân tộc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm cơ nghiệp thì đừng để cho một sinh vật nào được sống.

17 Phải tận diệt dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã phán dặn.

18 Như thế chúng sẽ không dạy anh em làm theo những điều ghê tởm mà chúng đã làm để cúng thờ các thần của chúng, khiến anh em phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

19 Khi anh em bao vây và tấn công lâu ngày để tiến chiếm một thành thì đừng lấy rìu đốn chặt cây cối chung quanh thành. Anh em có thể ăn trái của các cây đó nhưng không được chặt phá, vì cây cối ngoài đồng chứ có phải con người đâu mà anh em bao vây?

20 Anh em có thể đốn phá những cây mà anh em biết không phải là cây ăn trái. Anh em có thể đốn và dùng chúng để xây cất chiến lũy tiến đánh thành đang gây chiến với anh em, cho đến khi thành ấy thất thủ.”

21

1 “Nếu phát hiện có một người bị giết nằm ngoài đồng, trên mảnh đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp, nhưng không biết ai đã giết,

2 thì các trưởng lão và thẩm phán của anh em phải ra đo khoảng cách từ chỗ xác chết đến các thành chung quanh đó.

3 Các trưởng lão của thành gần xác chết nhất phải bắt một con bò cái tơ chưa từng làm việc hay chưa mang ách,

4 rồi dắt con bò ấy xuống một dòng suối có nước chảy, một nơi không cày cấy gieo trồng, và đánh gãy cổ con bò cái tơ đó tại suối nước.

5 Bấy giờ các thầy tế lễ là con cháu Lê-vi sẽ đến gần vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã chọn họ để phụng vụ Ngài, để nhân danh Đức Giê-hô-va mà chúc phước, và căn cứ vào lời họ mà mọi vụ tranh tụng và đả thương được giải quyết.

6 Tất cả các trưởng lão của thành gần người bị giết nhất sẽ rửa tay trên con bò cái tơ vừa bị đánh gãy cổ trong suối,

7 rồi cùng nói: ‘Tay chúng con không làm đổ máu nầy; mắt chúng con không nhìn thấy án mạng nầy.

8 Lạy Đức Giê-hô-va, xin Chúa tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên, là dân mà Ngài đã chuộc! Xin đừng buộc tội làm đổ máu vô tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài và tha thứ cho họ về vụ đổ máu nầy.’

9 Như vậy anh em đã làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va và giải trừ máu vô tội ra khỏi anh em.”

10 “Khi nào anh em ra giao chiến với quân thù và được Giê-hô-va Đức Chúa Trời phó chúng vào tay anh em, và anh em bắt chúng làm tù binh;

11 nếu thấy trong các tù binh có một phụ nữ xinh đẹp, anh em đem lòng yêu mến và muốn cưới làm vợ,

12 thì phải đưa cô ấy về nhà. Người nữ ấy phải cạo đầu, cắt móng tay,

13 thay áo tù và ở trong nhà anh em, khóc cha mẹ trọn một tháng. Sau đó anh em có thể sống với người nữ ấy, cưới làm vợ và cô ấy sẽ là vợ của anh em.

14 Về sau, nếu anh em không yêu thích cô ấy nữa thì phải để cho cô ấy tự do ra đi, không được bán để lấy tiền hoặc đối xử như một nô lệ, vì anh em đã làm chiếm đoạt cô ấy.”

15 “Nếu một người có hai vợ, nhưng yêu bà nầy mà ghét bà kia, và nếu cả hai đều đã sinh con cho người ấy, nhưng con trai trưởng lại là con của người vợ bị ghét,

16 thì đến ngày chia gia tài cho các con, người đó không được trao quyền trưởng nam cho con trai của người vợ được yêu mà phải trao cho con trai của người vợ bị ghét, vì nó mới chính là trưởng nam.

17 Người chồng đó phải công nhận con trai của người vợ bị ghét là con trai trưởng và chia cho nó một phần gấp đôi về mọi tài sản mình có, vì nó vốn là hoa quả đầu tiên của sức lực người đó, nên quyền trưởng nam phải thuộc về nó.”

18 “Nếu người nào có một đứa con cứng đầu ngỗ nghịch, không vâng lời cha mẹ, cho dù cha mẹ có sửa trị mà nó vẫn không nghe,

19 thì cha mẹ phải bắt nó và dẫn đến trước cổng thành giao cho các trưởng lão của thành.

20 Cha mẹ sẽ nói với các trưởng lão của thành rằng: ‘Con chúng tôi cứng đầu ngỗ nghịch, không vâng lời chúng tôi, chỉ biết ăn chơi nhậu nhẹt.’

21 Bấy giờ mọi người dân trong thành sẽ ném đá cho nó chết. Như vậy anh em sẽ loại trừ được tội ác khỏi anh em, và cả Y-sơ-ra-ên đều sẽ sợ hãi khi hay tin nầy.”

22 “Nếu có một người phạm tội tử hình và bị xử tử, thì hãy treo lên cây,

23 nhưng không được để xác nó trên cây qua đêm mà phải chôn ngay trong ngày đó, vì ai bị treo trên cây là kẻ bị Đức Chúa Trời nguyền rủa. Anh em không được làm ô uế mảnh đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.”

22

1 “Khi thấy bò hay chiên của anh em mình đi lạc thì anh em đừng làm ngơ, nhưng nhất định phải dẫn chúng về cho anh em mình.

2 Nếu người chủ không ở gần anh em, hoặc anh em không biết người ấy thì phải dắt con vật về nhà mình cho đến khi chủ nó đến tìm. Bấy giờ anh em sẽ trả lại cho chủ nó.

3 Anh em cũng phải làm như vậy khi anh em bắt gặp lừa, áo xống hay là bất cứ vật gì mà anh em mình đánh mất, chứ không được làm ngơ.

4 Nếu anh em thấy lừa hay bò của anh em mình ngã trên đường thì đừng làm ngơ, nhưng nhất định phải giúp người ấy đỡ con vật dậy.

5 Đàn bà không được mặc quần áo của đàn ông, đàn ông cũng không được mặc quần áo của đàn bà, vì ai làm điều đó thật đáng ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

6 Nếu trên đường đi, anh em bắt gặp trên cây hay dưới đất một tổ chim, với chim mẹ đang ủ chim con hay ấp trứng thì không được bắt cả chim mẹ lẫn chim con.

7 Anh em được bắt chim con, nhưng phải thả chim mẹ, vì như vậy anh em sẽ được phước và sống lâu.

8 Khi xây nhà mới, anh em phải làm lan can quanh mái nhà để tránh trường hợp có người rơi từ mái nhà xuống gây tội đổ máu trong nhà anh em.

9 Đừng gieo hai loại hạt giống trong vườn nho, nếu không thì toàn bộ hoa lợi, từ cả hạt giống lẫn vườn nho, đều sẽ sung vào nơi thánh.

10 Đừng bắt một con bò cày chung với một con lừa.

11 Đừng mặc vải dệt bằng vải gai pha lẫn lông chiên.

12 Phải kết tua vào bốn chéo áo choàng mà anh em mặc.”

13 “Nếu một người cưới vợ và đã ăn ở với nàng, rồi sau đó lại ghét bỏ,

14 vu khống và bôi nhọ danh dự nàng rằng: ‘Tôi đã cưới người nữ nầy, nhưng khi gần gũi nàng, tôi không thấy dấu hiệu chứng tỏ nàng còn trinh.’

15 Bấy giờ cha mẹ của cô gái đó sẽ đem những bằng chứng trinh tiết của con gái mình trình cho các trưởng lão thành đó tại cổng thành.

16 Ngươi cha của cô gái sẽ nói với các trưởng lão: ‘Tôi đã gả con gái tôi cho người nầy nhưng anh ta lại ghét bỏ nó.

17 Bây giờ anh ta vu khống con tôi và nói rằng anh ta không thấy dấu hiệu chứng tỏ con gái tôi còn trinh. Nhưng đây là bằng chứng cho thấy nó còn trinh tiết.’ Rồi cha mẹ sẽ trải áo xống nàng ra trước mặt các trưởng lão của thành đó.

18 Bấy giờ các trưởng lão trong thành sẽ bắt người chồng, và trừng phạt người chồng ấy bằng roi.

19 Họ sẽ bắt người ấy nộp một trăm miếng bạc và sẽ trao số bạc đó cho cha của cô gái trẻ, vì người ấy đã bêu xấu danh dự của một trinh nữ Y-sơ-ra-ên. Nàng sẽ tiếp tục làm vợ người ấy và suốt đời người ấy không được ruồng bỏ nàng.

20 Tuy nhiên, nếu chuyện đó là thật, vì không tìm thấy bằng cớ chứng tỏ cô gái còn trinh tiết,

21 thì họ phải dẫn cô gái đến cửa nhà cha nàng, và dân trong thành sẽ ném đá cho chết vì nàng đã làm điều đồi bại trong Y-sơ-ra-ên, phạm tội tà dâm khi còn trong nhà cha mình. Phải diệt trừ tội ác khỏi anh em.

22 Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với vợ của người khác, thì cả người đàn ông và người đàn bà đó đều phải chết. Như vậy anh em sẽ diệt trừ tội ác khỏi Y-sơ-ra-ên.

23 Nếu một trinh nữ đã đính hôn rồi mà có một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô,

24 thì anh em phải dẫn cả hai người ra cổng thành và ném đá cho đến chết. Cô gái có tội vì đã không kêu cứu dù đang ở trong thành; còn người đàn ông kia có tội vì đã chiếm đoạt vợ của người lân cận mình. Phải trừ diệt tội ác khỏi anh em.

25 Nhưng nếu người đàn ông gặp cô gái đã đính hôn ở ngoài đồng và cưỡng hiếp nàng, thì chỉ một mình người đàn ông đã nằm với nàng phải chết mà thôi;

26 đừng làm gì với cô gái đó vì nàng không phạm tội đáng chết. Trường hợp nầy cũng tương tự như trường hợp một người tấn công và giết chết người lân cận mình,

27 vì người đàn ông nầy gặp cô gái đã đính hôn ngoài đồng, cô gái đã la lên nhưng không có ai đến cứu.

28 Nếu một người đàn ông gặp một trinh nữ chưa đính hôn, cưỡng hiếp nàng và bị bắt quả tang,

29 thì người đàn ông đã nằm với cô gái trẻ đó phải nộp cho cha nàng nửa ký bạc và nàng sẽ làm vợ người ấy vì người ấy đã chiếm đoạt nàng. Suốt đời người ấy không được ruồng bỏ nàng.

30 Không ai được lấy vợ lẽ của cha, vì như thế là làm nhục cha mình.”

23

1 “Người nào bị giập tinh hoàn hoặc bị cắt dương vật sẽ không được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va.

2 Con ngoại hôn không được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va, dù đến thế hệ thứ mười cũng không được gia nhập.

3 Người Am-môn và Mô-áp không được gia nhập hội Đức Giê-hô-va, dù đến thế hệ thứ mười cũng không bao giờ được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va.

4 Vì khi anh em ra khỏi Ai Cập, chúng đã không đem bánh và nước ra đón tiếp anh em, và chúng đã thuê Ba-la-am con trai Bê-ô từ Phê-thô-rơ thuộc A-ram Na-ha-ra-im đến để nguyền rủa anh em.

5 Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em không nghe Ba-la-am nên đã đổi lời nguyền rủa thành lời chúc phước cho anh em, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em yêu thương anh em.

6 Trọn đời anh em và mãi mãi về sau, anh em không được mưu cầu hòa bình hay thịnh vượng với chúng.

7 Đừng ghê tởm người Ê-đôm vì là anh em mình. Cũng đừng ghê tởm người Ai Cập vì anh em đã từng là kiều dân trong xứ sở của họ.

8 Thế hệ thứ ba của họ có thể được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va.

9 Khi anh em đóng quân để đương đầu với quân thù thì phải giữ mình khỏi mọi điều ô uế.

10 Nếu trong anh em có người không được thanh sạch vì mộng tinh thì người đó phải đi ra khỏi doanh trại, không được trở vào.

11 Nhưng đến chiều người ấy phải tắm rửa bằng nước, và khi mặt trời lặn người ấy sẽ trở vào trại quân.

12 Anh em phải dành một khu vực riêng ở ngoài trại quân để đi vệ sinh.

13 Trong vật dụng cá nhân, anh em phải có một cái xẻng nhỏ để khi muốn đi ngoài thì dùng nó mà đào lỗ phóng uế, rồi sau đó lấp phân lại.

14 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi lại giữa trại quân anh em để giải cứu và phó kẻ thù cho anh em, nên trại quân anh em phải thánh để Ngài không thấy sự bất xứng nào giữa anh em đến nỗi phải xây mặt khỏi anh em.”

15 “Nếu có một nô lệ trốn khỏi nhà chủ chạy đến với anh em thì đừng giao nó lại cho chủ.

16 Hãy để nó ở lại với anh em và ở giữa anh em, tại nơi nào nó chọn trong bất cứ thành nào của anh em mà nó thích, không được hà hiếp nó.

17 Không một người con gái hay con trai Y-sơ-ra-ên nào được làm nghề mại dâm trong đền miếu.

18 Anh em không được đem vào nhà của Giê-hô-va Đức Chúa Trời tiền công của một gái mại dâm hay giá trả cho một con chó, dù là để hoàn trả sự hứa nguyện, vì cả hai điều đó đều ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

19 Không được cho anh em mình vay để lấy lãi, dù là tiền bạc, lương thực hay là bất cứ thứ gì sinh lãi.

20 Anh em được phép lấy lãi người nước ngoài nhưng không được lấy lãi anh em mình. Như vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc anh em sẽ làm trong xứ mà anh em sắp vào nhận làm sản nghiệp.

21 Khi hứa nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời điều gì, anh em đừng chậm hoàn nguyện, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ đòi điều đó nơi anh em, và anh em sẽ mắc tội.

22 Nhưng nếu anh em không hứa nguyện thì không mắc tội.

23 Điều gì môi miệng anh em nói ra thì anh em phải gìn giữ và thi hành, vì chính miệng anh em đã tự nguyện thề hứa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

24 Khi vào vườn nho của người lân cận thì anh em có thể ăn nho bao nhiêu tùy thích, nhưng không được hái bỏ vào giỏ mình.

25 Khi vào đồng lúa mì của người lân cận thì anh em có thể lấy tay bứt các bông lúa nhưng không được dùng liềm cắt lúa của người lân cận mình.”

24

1 “Nếu một người đàn ông đã cưới vợ, nhưng sau đó người chồng không thỏa lòng về vợ vì thấy nơi nàng có điều gì không đoan chính, thì người đó có thể viết cho vợ một giấy ly hôn, trao vào tay nàng rồi đuổi nàng ra khỏi nhà.

2 Khi ra khỏi nhà, nàng lại đi làm vợ một người khác,

3 và nếu người chồng sau cũng không ưa và cũng viết giấy ly hôn, trao vào tay nàng rồi đuổi khỏi nhà, hoặc nếu chồng sau chết đi,

4 thì người chồng đầu tiên, là người đã đuổi nàng đi, không được phép lấy nàng làm vợ một lần nữa, sau khi nàng đã bị ô uế. Đó là điều ghê tởm trước mặt Đức Giê-hô-va; anh em không được đem tội lỗi vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.

5 Một người mới cưới vợ thì không phải đi đánh trận hoặc phải đảm nhiệm công tác gì khác. Người ấy sẽ được thong thả ở nhà trong một năm để đem lại niềm vui cho người vợ mình mới cưới.

6 Không được giữ cối xay hay chỉ là thớt cối trên làm vật thế chấp, vì như thế là lấy mạng sống của người lân cận mình làm vật thế chấp.

7 Nếu bắt được kẻ bắt cóc một người anh em trong Y-sơ-ra-ên về làm nô lệ hay đem bán đi thì tên bắt cóc đó phải bị xử tử. Như vậy anh em sẽ diệt trừ tội ác khỏi anh em.

8 Hãy lưu ý đến sự lây lan của bệnh ngoài da nguy hiểm. Anh em phải hết sức cẩn thận và tuân giữ mọi điều mà các thầy tế lễ dòng Lê-vi chỉ dạy anh em; hãy làm đúng những gì tôi đã truyền dạy họ.

9 Hãy nhớ lại điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã làm cho Mi-ri-am trên lộ trình anh em rời Ai Cập.

10 Khi anh em cho người lân cận vay mượn cái gì thì không được vào nhà người ấy để lấy vật thế chấp.

11 Nhưng phải đứng bên ngoài đợi người mà anh em cho vay đó đem vật thế chấp ra cho anh em.

12 Nếu người ấy nghèo thì anh em đừng giữ vật thế chấp ấy mà đi ngủ.

13 Hãy trả lại áo choàng cho người ấy khi mặt trời lặn để anh ta đắp mà ngủ và chúc phước cho anh em; đó là điều công chính cho anh em trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

14 Không được ức hiếp người làm thuê nghèo khó và bần cùng, dù người đó là anh em mình hay là ngoại kiều tạm cư trong xứ và trong thành của anh em.

15 Phải thanh toán tiền công cho người ấy mỗi ngày, trước khi mặt trời lặn, vì người ấy vốn nghèo khó chỉ còn biết trông chờ vào đó. Nếu không, người ấy sẽ kêu van Đức Giê-hô-va về anh em và anh em phải mắc tội.

16 Cha mẹ sẽ không bị xử tử vì tội của con cái, và con cái cũng không bị xử tử vì tội của cha mẹ. Mỗi người sẽ bị xử tử theo tội của mình.

17 Không được cư xử bất công với ngoại kiều hay trẻ mồ côi, và cũng đừng giữ áo xống của người góa bụa làm vật thế chấp.

18 Hãy nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ tại Ai Cập, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã chuộc anh em ra khỏi đó. Vì vậy, tôi truyền cho anh em phải làm điều nầy.

19 Khi anh em thu hoạch trong đồng ruộng mà có quên một bó lúa ngoài đó thì cũng đừng trở lại lấy. Bó lúa ấy dành cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa. Như thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc tay anh em làm.

20 Khi rung cây ô-liu thì đừng mót những trái còn sót lại trên cành, đó là phần dành cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa.

21 Khi hái nho trong vườn nho mình, anh em đừng mót những trái còn sót lại, đó là phần cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa.

22 Hãy nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ tại Ai Cập. Vì vậy, tôi truyền cho anh em phải làm như tôi đã dặn.”

25

1 “Khi đôi bên có chuyện tranh tụng và đưa nhau ra tòa thì các thẩm phán sẽ phân xử cho họ: Tuyên bố công chính cho người công chính và định tội kẻ có tội.

2 Nếu kẻ có tội đáng bị đánh đòn thì thẩm phán sẽ bắt người đó nằm sấp xuống và sai đánh trước mặt mình theo số đòn quy định cho mỗi tội.

3 Có thể đánh đến bốn mươi đòn nhưng không được quá số đó. Nếu đánh nhiều hơn thì người bị đòn sẽ bị sỉ nhục trước mắt anh em.

4 Chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa.

5 Khi anh em sống chung với nhau trên sản nghiệp của gia đình, nếu một người chết mà không có con trai thì vợ của người chết không được kết hôn với người ngoài gia đình. Một anh em chồng phải đến với nàng, lấy nàng làm vợ để làm tròn bổn phận của anh em chồng đối với nàng.

6 Con trai đầu lòng mà nàng sinh ra sẽ mang tên người anh em đã chết, để tên của người ấy không bị xóa khỏi Y-sơ-ra-ên.

7 Nếu người đàn ông đó không thích lấy chị hay em dâu mình, thì nàng phải đến cổng thành gặp và thưa với các trưởng lão rằng: ‘Người anh em chồng tôi không chịu lưu truyền tên tuổi của anh em mình trong Y-sơ-ra-ên, không muốn làm tròn bổn phận của một anh em chồng đối với tôi.’

8 Các trưởng lão của thành sẽ gọi người đàn ông đó đến để nói chuyện. Nếu người đó cứ khăng khăng nói rằng: ‘Tôi không thích cưới cô ấy,’

9 thì người chị hay em dâu sẽ đến gần người đó, lột dép khỏi chân người đó và nhổ vào mặt anh ta trước mặt các trưởng lão, rồi nói: ‘Kẻ nào không chịu gây dựng dòng họ cho anh em mình sẽ phải chịu như thế đó!’

10 Trong Y-sơ-ra-ên người ta sẽ gọi nhà người ấy là ‘nhà của kẻ bị lột dép.’

11 Khi hai người đàn ông đánh nhau, nếu vợ của một trong hai người đến gần để giải vây chồng khỏi tay địch thủ và đưa tay nắm lấy chỗ kín của người kia,

12 thì anh em phải chặt tay người đàn bà ấy. Không được thương xót nàng.

13 Anh em đừng để trong bao mình hai thứ quả cân một già, một non.

14 Trong nhà anh em đừng có hai thứ đơn vị đo lường một già, một non.

15 Nhưng chỉ sử dụng một loại quả cân và một loại đơn vị đo lường chuẩn xác và trung thực để anh em được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.

16 Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ghê tởm những ai làm các điều bất công, bất nghĩa như vậy.

17 Hãy nhớ những gì dân A-ma-léc đã làm cho anh em trên bước đường anh em rời khỏi Ai Cập.

18 Vì không kính sợ Đức Chúa Trời nên họ đã đón đường và chặn đánh tập hậu những người lê bước phía sau anh em trong lúc anh em mệt lả và kiệt sức.

19 Vì vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em sự an nghỉ và giải cứu anh em khỏi mọi kẻ thù bao vây trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp, thì anh em phải xóa sạch mọi dấu tích của dân A-ma-léc trong thiên hạ. Anh em không được quên!”

26

1 “Khi anh em đã vào trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp, đã sở hữu và ở trong đất đó rồi,

2 thì anh em phải lấy một phần thổ sản đầu mùa thu hoạch được từ miền đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em, bỏ vào một cái giỏ, và đem đến địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn cho danh Ngài ngự.

3 Anh em sẽ đến gặp thầy tế lễ đương nhiệm và nói rằng: ‘Hôm nay tôi xin thưa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta rằng tôi đã vào miền đất mà Đức Giê-hô-va đã thề với tổ phụ chúng ta là sẽ ban cho chúng ta.’

4 Thầy tế lễ sẽ nhận cái giỏ từ tay anh em và đặt trước bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

5 Sau đó, anh em phải thưa trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời rằng: ‘Tổ phụ chúng con là người A-ram đã phiêu bạt xuống Ai Cập, trú ngụ tại đó với một số người ít ỏi, nhưng cũng từ đó đã trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông.

6 Người Ai Cập đã ngược đãi, hành hạ chúng con và đặt trên chúng con ách nô dịch nặng nề.

7 Bấy giờ chúng con đã kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con. Đức Giê-hô-va đã lắng nghe và nhìn thấy cảnh gian nan, lao khổ và sự áp bức mà chúng con phải chịu.

8 Đức Giê-hô-va đã dang rộng cánh tay quyền năng, thực thi các dấu lạ, phép mầu to lớn và kinh khiếp để đem chúng con ra khỏi Ai Cập,

9 dẫn chúng con vào nơi nầy và ban xứ sở đượm sữa và mật nầy cho chúng con.

10 Lạy Đức Giê-hô-va! Bây giờ chúng con xin dâng lên Ngài những sản phẩm đầu mùa từ mảnh đất mà Ngài đã ban cho chúng con.’ Nói xong, anh em hãy đặt lễ vật đó trên bàn thờ, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời và sấp mình xuống thờ phượng Ngài.

11 Rồi anh em sẽ cùng với người Lê-vi và các ngoại kiều đang sống giữa anh em ăn mừng về các phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho anh em và gia đình anh em.

12 Vào năm thứ ba, tức là năm nộp thuế một phần mười, anh em trích một phần mười hoa lợi đem đến cho người Lê-vi, ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa, để họ được ăn no đủ trong thành của anh em,

13 và anh em sẽ đến trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà thưa rằng: ‘Chúng con đã đem phần biệt riêng trong nhà đến cho người Lê-vi, ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa, theo mọi mệnh lệnh mà Ngài đã phán dặn chúng con; chúng con không vi phạm hoặc quên một mệnh lệnh nào của Ngài cả.

14 Chúng con không ăn phần biệt riêng đó trong lúc tang chế, không đụng đến nó khi chúng con không thanh sạch, và cũng không dùng nó mà cúng cho người chết. Chúng con vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con và làm đúng mọi điều Ngài đã phán dặn.

15 Từ nơi ngự thánh của Ngài trên chốn trời cao, xin Chúa đoái xem và ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, cho xứ sở đượm sữa và mật mà Ngài đã ban cho chúng con, như Ngài đã thề hứa với tổ phụ chúng con.’”

16 “Hôm nay, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em truyền bảo anh em phải tuân giữ các luật lệ và mệnh lệnh nầy. Vậy anh em phải cẩn thận tuân giữ với cả tấm lòng và linh hồn mình.

17 Hôm nay, anh em tuyên nhận rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của anh em, rằng anh em sẽ đi trong đường lối Ngài, gìn giữ các luật lệ, điều răn và mệnh lệnh Ngài, và lắng nghe tiếng Ngài.

18 Hôm nay, Đức Giê-hô-va cũng thừa nhận anh em là một dân thuộc quyền sở hữu của Ngài như Ngài đã phán với anh em, và anh em sẽ gìn giữ tất cả các điều răn của Ngài,

19 để Ngài làm cho anh em được khen ngợi, danh tiếng và tôn trọng, vượt trên mọi dân tộc mà Ngài đã tạo dựng, và anh em trở nên một dân tộc thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em như Ngài đã phán.”

27

1 Môi-se cùng với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên truyền bảo dân chúng: “Hãy tuân giữ tất cả các điều răn mà tôi truyền cho anh em hôm nay.

2 Ngày anh em vượt qua sông Giô-đanh để vào miền đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em, thì anh em phải dựng các bia đá lớn và quét vôi lên.

3 Sau khi đã qua sông để vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho, tức là xứ đượm sữa và mật như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã hứa với anh em thì hãy viết trên các bia đó những lời của luật pháp nầy.

4 Vậy khi đã ở bên kia sông Giô-đanh rồi thì anh em phải dựng các bia đá nầy trên núi Ê-banh và quét vôi như lệnh tôi truyền cho anh em ngày nay.

5 Tại đó, anh em phải lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, một bàn thờ bằng đá chưa đục đẽo với dụng cụ bằng sắt.

6 Anh em phải lập bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời bằng đá nguyên khối và dâng trên đó những tế lễ thiêu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

7 Anh em cũng phải dâng tế lễ bình an, ăn mừng tại đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.

8 Anh em phải khắc tất cả lời của luật pháp thật rõ ràng vào các bia đá nầy.”

9 Môi-se và những thầy tế lễ dòng Lê-vi nói với toàn thể Y-sơ-ra-ên rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy yên lặng và nghe đây! Hôm nay anh em đã được làm dân của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

10 Vì vậy, anh em phải lắng nghe tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và làm theo các điều răn và luật lệ của Ngài mà tôi truyền cho anh em hôm nay.”

11 Cũng hôm ấy, Môi-se truyền cho dân chúng mệnh lệnh nầy:

12 “Sau khi anh em qua sông Giô-đanh rồi, các bộ tộc Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Giô-sép và Bên-gia-min sẽ đứng trên núi Ga-ri-xim để chúc phước cho dân chúng.

13 Còn các bộ tộc Ru-bên, Gát, A-se, Sa-bu-lôn, Đan và Nép-ta-li sẽ đứng trên núi Ê-banh để nguyền rủa.

14 Người Lê-vi sẽ cất tiếng nói lớn với mọi người Y-sơ-ra-ên rằng:

15 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào tạc tượng hay đúc tượng, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va, là tác phẩm của thợ thủ công, và đặt trong nơi bí mật mà thờ!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

16 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào khinh bỉ cha mẹ mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

17 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào dời ranh giới của láng giềng mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

18 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào làm cho người mù lạc đường!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

19 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào bẻ cong công lý đối với ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

20 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với vợ kế của cha mình, vì kẻ đó làm nhục cha mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

21 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với một con thú!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

22 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với chị em mình, hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

23 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với mẹ vợ mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

24 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào bí mật đánh chết người láng giềng mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

25 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nhận của hối lộ để giết người vô tội!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’

26 ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào không thực thi những quy định của luật pháp nầy!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’”

28

1 “Nếu anh em thật lòng lắng nghe tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài mà tôi truyền cho anh em ngày nay thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ làm cho anh em trổi vượt mọi dân tộc trên đất nầy.

2 Mọi phước lành sau đây sẽ giáng trên anh em nếu anh em lắng nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em:

3 Anh em sẽ được ban phước trong thành cũng như ngoài đồng ruộng.

4 Bông trái của thân thể anh em, hoa quả của đất đai anh em, bầy con của đàn gia súc, và cả chiên con lẫn bò con của anh em đều sẽ được ban phước.

5 Cái giỏ và thùng nhồi bột của anh em đều sẽ được ban phước!

6 Anh em sẽ được ban phước khi đi ra cũng như lúc đi vào.

7 Đức Giê-hô-va sẽ làm cho kẻ thù nổi lên chống anh em bị đánh bại trước mặt anh em. Từ một đường chúng kéo ra đánh anh em, thì phải theo bảy đường mà chạy trốn khỏi anh em.

8 Đức Giê-hô-va sẽ truyền cho phước lành đến với anh em trong kho lúa và trong mọi công việc của tay anh em. Ngài sẽ ban phước cho anh em trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.

9 Nếu anh em tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và đi theo đường lối Ngài thì Đức Giê-hô-va sẽ lập anh em làm một dân thánh cho Ngài như Ngài đã thề với anh em.

10 Mọi dân tộc trên địa cầu sẽ thấy rằng anh em được mang danh Đức Giê-hô-va và chúng sẽ sợ anh em.

11 Đức Giê-hô-va sẽ làm cho anh em thịnh vượng, bông trái của thân thể anh em, bầy con của đàn gia súc, hoa quả của đất ruộng anh em sẽ được dồi dào trong xứ mà Ngài sẽ ban cho anh em theo lời thề với các tổ phụ.

12 Đức Giê-hô-va sẽ mở kho báu từ trời của Ngài cho anh em, ban mưa đúng mùa trên đất đai anh em và ban phước cho mọi công việc của tay anh em. Anh em sẽ cho nhiều dân tộc vay nhưng anh em không vay mượn ai cả.

13 Đức Giê-hô-va sẽ đặt anh em đứng đầu chứ không phải đứng chót, anh em sẽ luôn ở trên chóp chứ không ở dưới đáy; nếu anh em vâng theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà hôm nay tôi truyền cho anh em, tuân giữ và thực hành,

14 và nếu anh em không lìa bỏ một lời nào tôi truyền cho anh em hôm nay, không quay sang bên phải hoặc bên trái, không chạy theo và phụng thờ các thần khác.”

15 “Nhưng nếu anh em không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật lệ của Ngài mà tôi truyền cho anh em hôm nay thì những lời nguyền rủa nầy sẽ giáng trên anh em và đuổi kịp anh em.

16 Anh em sẽ bị nguyền rủa trong thành cũng như ngoài đồng ruộng.

17 Cái giỏ và thùng nhồi bột của anh em đều sẽ bị nguyền rủa.

18 Bông trái của thân thể anh em, hoa quả của đất đai anh em, cả chiên con lẫn bò con của anh em đều sẽ bị nguyền rủa.

19 Anh em sẽ bị nguyền rủa khi đi ra cũng như lúc đi vào.

20 Nếu anh em làm điều gian ác và lìa bỏ Đức Giê-hô-va thì Ngài sẽ giáng tai ương, sự kinh hoàng và hoang mang trên anh em, trên mọi công việc tay anh em làm, cho đến khi anh em bị tiêu trừ và mau chóng bị diệt vong.

21 Đức Giê-hô-va sẽ khiến dịch bệnh bám đuổi anh em cho đến khi nó tận diệt anh em khỏi đất mà anh em sắp chiếm hữu.

22 Đức Giê-hô-va sẽ hành hạ anh em bằng bệnh lao phổi, bệnh sốt, bệnh phù, bằng nắng cháy và hạn hán làm cho cây cỏ héo úa, mốc meo. Các tai ương đó đuổi theo anh em cho đến khi anh em bị diệt vong.

23 Bầu trời trên đầu anh em sẽ như đồng và đất dưới chân anh em sẽ như sắt.

24 Thay vì mưa trên đất anh em, Đức Giê-hô-va sẽ khiến cát và bụi từ trời rơi xuống cho đến khi anh em bị tiêu diệt.

25 Đức Giê-hô-va sẽ khiến anh em bị kẻ thù đánh bại. Anh em sẽ từ một đường kéo ra đánh chúng, rồi phải theo bảy đường chạy trốn khỏi chúng. Anh em sẽ trở thành một thứ ghê tởm đối với mọi vương quốc trên đất.

26 Xác chết của anh em sẽ làm thức ăn cho chim trời và thú vật trên đất mà chẳng ai xua đuổi chúng đi.

27 Đức Giê-hô-va sẽ hành hạ anh em bằng bệnh ung nhọt của Ai Cập, bệnh bướu, ghẻ chốc, ngứa ngáy mà không sao chữa khỏi.

28 Ngài cũng làm cho anh em bị điên khùng, mù lòa và lảng trí.

29 Đang giữa trưa mà anh em quờ quạng như người mù trong đêm tối. Anh em bị thất bại trong công việc mình; anh em bị ức hiếp và cướp bóc thường xuyên mà chẳng ai cứu giúp.

30 Anh em sẽ đính hôn với một phụ nữ nhưng một người đàn ông khác lại nằm với nàng. Anh em sẽ cất một cái nhà nhưng không được ở; anh em trồng một vườn nho nhưng không được ăn trái.

31 Bò của anh em sẽ bị làm thịt trước mắt mình nhưng anh em không được ăn. Lừa của anh em sẽ bị cướp ngay trước mặt mình nhưng không được trả lại. Chiên của anh em sẽ bị nộp cho kẻ thù mà chẳng ai cứu giúp anh em.

32 Con trai con gái anh em sẽ bị giao cho một dân tộc khác ngay trước mắt anh em và suốt ngày anh em mỏi mòn trông chờ chúng, nhưng anh em đành bó tay.

33 Một dân tộc mà anh em chưa hề biết sẽ ăn sạch sản vật của đất đai và công sức lao động của anh em; anh em thường xuyên bị hiếp đáp, bị giày đạp,

34 và những điều trông thấy sẽ khiến anh em phát điên.

35 Đức Giê-hô-va sẽ hành hạ anh em bằng một thứ ung độc ở đầu gối và chân, rồi lan từ bàn chân lên đỉnh đầu, không thể chữa lành được.

36 Đức Giê-hô-va sẽ đày anh em và vua mà anh em đã lập đến một nước mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết. Tại đó, anh em sẽ thờ cúng các thần khác bằng gỗ, bằng đá.

37 Anh em sẽ trở thành nỗi kinh hoàng, đề tài đàm tiếu và giễu cợt giữa các dân tộc mà Đức Giê-hô-va sẽ đẩy anh em đến.

38 Anh em sẽ gieo thật nhiều giống ngoài đồng nhưng gặt hái được rất ít vì bị châu chấu ăn sạch.

39 Anh em sẽ trồng và chăm sóc vườn nho nhưng không có trái để hái và rượu để uống vì sâu bọ sẽ ăn hết.

40 Anh em sẽ có cây ô-liu trên toàn lãnh thổ nhưng không có dầu mà xức vì trái ô-liu sẽ rụng hết.

41 Anh em sẽ sinh con trai con gái nhưng chúng không thuộc về anh em vì chúng sẽ bị bắt làm nô lệ.

42 Bọ rầy sẽ ăn sạch cây cối và hoa màu của anh em.

43 Các kiều dân sống giữa anh em sẽ càng ngày càng vượt xa anh em; còn anh em càng ngày càng xuống dốc.

44 Họ sẽ cho anh em vay, còn anh em chẳng có gì để cho họ vay lại. Họ sẽ đứng đầu, còn anh em đứng chót.

45 Tất cả những lời nguyền rủa nầy sẽ giáng trên anh em, đuổi theo và bắt kịp anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt vì anh em đã không vâng theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng như không tuân giữ các điều răn và luật lệ mà Ngài truyền cho anh em.

46 Các lời nguyền rủa nầy sẽ mãi mãi là dấu hiệu và điềm báo cho anh em và dòng dõi anh em.

47 Vì khi được thịnh vượng anh em không phụng thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời với cả tấm lòng hân hoan vui vẻ,

48 nên trong cảnh đói khát, trần truồng và thiếu thốn mọi thứ, anh em phải phục dịch kẻ thù mà Đức Giê-hô-va sai đến đánh anh em. Ngài sẽ đặt ách sắt trên cổ anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt hết.

49 Đức Giê-hô-va sẽ đưa một dân tộc từ nơi xa xôi đến, từ tận cùng trái đất, như đại bàng lao xuống vồ lấy anh em, một dân tộc mà anh em không hiểu được ngôn ngữ của chúng,

50 một dân tộc mặt mày dữ tợn, không kính trọng người già, chẳng xót thương người trẻ.

51 Chúng sẽ ăn đàn gia súc, sản vật của đất đai anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt. Chúng không chừa lại cho anh em ngũ cốc, rượu, dầu hay bò con hoặc chiên con cho đến khi anh em bị diệt vong.

52 Chúng sẽ vây hãm anh em trong các thành cho đến khi những vách thành cao và kiên cố mà anh em trông cậy kia phải sụp xuống. Chúng sẽ vây hãm khắp xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em.

53 Trong khi bị vây hãm và bị quân thù làm cho túng thế cùng đường, anh em sẽ ăn bông trái của thân thể mình tức là ăn thịt con trai con gái mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.

54 Ngay cả người đàn ông hiền lành nhạy cảm nhất trong anh em, trong lúc cùng đường túng thế vì sự vây hãm khắp các thành của quân thù, anh ta cũng sẽ nhìn người anh em mình, người vợ mình yêu dấu và những đứa con còn lại của mình với ánh mắt dữ tợn,

55 và không muốn chia cho bất cứ ai thịt của con cái mà mình đang ăn, vì ngoài thứ ấy anh ta không còn gì cả.

56 Người phụ nữ dịu dàng nhạy cảm nhất trong anh chị em, dịu dàng nhạy cảm đến nỗi chưa dám đặt bàn chân xuống đất, trong lúc cùng đường túng thế vì sự vây hãm khắp các thành của quân thù, nàng cũng sẽ nhìn người chồng yêu dấu, con trai con gái mình với ánh mắt dữ tợn,

57 rồi lén lút ăn sạch cả cái nhau ra từ bụng mình lẫn những đứa con do mình sinh ra, vì nàng quá thiếu thốn.

58 Nếu anh em không cẩn thận tuân giữ các lời của luật pháp được ghi trong sách nầy, không tôn kính danh vinh hiển và đáng sợ nầy là GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA ANH EM,

59 thì Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên anh em và dòng dõi anh em những tai ương lạ thường, những tai ương nặng nề và dai dẳng, những dịch bệnh hiểm nghèo và dai dẳng.

60 Ngài sẽ cho tái hiện giữa anh em các dịch bệnh của Ai Cập mà anh em đã từng run sợ và chúng sẽ bám theo anh em.

61 Ngoài ra còn có cả các thứ dịch bệnh và tai ương không được ghi trong sách luật pháp nầy thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ giáng trên anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt.

62 Dân số anh em vốn đông như sao trời sẽ chỉ còn lại một ít vì anh em không vâng theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.

63 Đức Giê-hô-va đã vui thích khi làm cho anh em được thịnh vượng và đông đúc thế nào thì Ngài cũng vui thích mà làm cho anh em bị diệt vong và tiêu tán thế ấy. Anh em sẽ bị trục xuất khỏi xứ mà anh em sắp vào chiếm hữu.

64 Đức Giê-hô-va sẽ phân tán anh em giữa mọi dân tộc, từ đầu nầy cho đến cuối đầu kia của địa cầu. Tại đó, anh em sẽ thờ cúng các thần khác bằng gỗ, bằng đá mà cả anh em lẫn tổ phụ anh em đều không biết.

65 Trong các nước đó anh em không được an ổn, không có chỗ nghỉ chân. Tại đó, Đức Giê-hô-va sẽ làm cho lòng anh em run sợ, đôi mắt mỏi mòn và tâm linh tàn tạ.

66 Mạng sống anh em bị treo lơ lửng trước mặt anh em; cả ngày lẫn đêm anh em sống trong phập phồng lo sợ, không biết sống chết thể nào.

67 Buổi sáng anh em sẽ nói: ‘Ước gì đêm đến!’ Buổi chiều thì anh em lại nói: ‘Ước gì trời sáng!’, vì nỗi khiếp sợ tràn ngập lòng anh em và vì những gì mắt anh em trông thấy.

68 Đức Giê-hô-va sẽ bắt anh em trở lại Ai Cập bằng tàu thuyền, bằng con đường mà tôi đã từng nói rằng anh em không phải thấy nó nữa. Tại đó anh em sẽ đem bán mình làm nô lệ cho kẻ thù nhưng chẳng có ai mua!”

29

1 Đây là những lời trong giao ước mà Đức Giê-hô-va truyền dạy Môi-se lập với dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Mô-áp, ngoài giao ước mà Ngài đã lập với họ tại Hô-rếp.

2 Môi-se triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên và nói: “Anh em đã tận mắt thấy mọi điều mà Đức Giê-hô-va đã làm tại Ai Cập cho Pha-ra-ôn, quần thần và cả xứ sở của vua ấy.

3 Chính mắt anh em đã thấy những thử thách lớn lao, là những dấu lạ, phép mầu phi thường.

4 Nhưng cho đến ngày nay Đức Giê-hô-va chưa ban cho anh em tấm lòng để biết, con mắt để thấy hay lỗ tai để nghe.

5 Ngài phán: ‘Ta đã dẫn dắt các ngươi bốn mươi năm trong hoang mạc, áo các ngươi mặc không rách, dép các ngươi mang không mòn.

6 Các ngươi không ăn bánh, uống rượu hay thức uống có men để các ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.’

7 Khi anh em đến nơi nầy, Si-hôn vua Hết-bôn và Óc vua Ba-san đã ra nghênh chiến với chúng ta và chúng ta đã đánh bại họ,

8 chiếm đất đai của họ rồi cấp cho bộ tộc Ru-bên, Gát và phân nửa bộ tộc Ma-na-se làm sản nghiệp.

9 Vậy anh em phải tuân giữ và thực hành những lời của giao ước nầy để anh em được thành công trong mọi việc anh em làm.

10 Hôm nay, tất cả anh em gồm trưởng các bộ tộc, các trưởng lão, các quan chức, mọi người nam trong Y-sơ-ra-ên,

11 cùng với đàn bà con trẻ của anh em, các kiều dân ở trong trại của anh em, từ người chặt củi đến người xách nước cho anh em, đang đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời,

12 để bước vào giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và lời thề mà Ngài lập với anh em,

13 để hôm nay Ngài xác nhận anh em là dân của Ngài và chính Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của anh em như Ngài đã phán với anh em và thề hứa với tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.

14 Không phải tôi chỉ lập giao ước và lời thề nầy với anh em thôi đâu,

15 nhưng cả với người nào hôm nay đang đứng đây với chúng ta trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, cũng như với những người không có mặt tại đây với chúng ta hôm nay.

16 Anh em biết chúng ta đã kiều ngụ trong xứ Ai Cập như thế nào và chúng ta đi ngang qua địa phận các nước ra làm sao.

17 Anh em đã thấy ở giữa họ các vật gớm ghiếc và những thần tượng bằng gỗ, đá, bạc, vàng.

18 Hôm nay, nhất quyết không có một người nào trong anh em, dù nam hay nữ, dù gia tộc hay bộ tộc nào được thay lòng đổi dạ với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta mà đi thờ cúng các thần của những dân tộc đó. Trong anh em cũng đừng có rễ sinh ra trái độc và quả đắng.

19 Người nào nghe được các lời thề ước nầy thì đừng có tự mãn trong lòng rằng: ‘Ta sẽ được bình an dù ta có cứng lòng đi theo đường lối riêng của mình’, như thể đất bùn cũng bị trôi đi như đất bụi.

20 Đức Giê-hô-va sẽ không tha thứ cho người ấy đâu nhưng cơn giận và sự kỵ tà của Đức Giê-hô-va sẽ đốt cháy người ấy. Tất cả các lời nguyền rủa chép trong sách nầy sẽ đổ xuống trên nó và Đức Giê-hô-va sẽ xóa tên nó trong thiên hạ.

21 Ngài sẽ tách người ấy khỏi các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để chịu tai họa, theo mọi lời nguyền rủa của giao ước đã được ghi trong sách luật pháp nầy.

22 Con cháu tiếp nối anh em trong các thế hệ tương lai và người nước ngoài từ phương xa đến sẽ thấy những tai ương mà Đức Giê-hô-va đã giáng trên đất cũng như các dịch bệnh mà Ngài dùng để trừng phạt xứ nầy.

23 Toàn xứ chỉ là đồng khô cỏ cháy với diêm sinh và muối, không gieo trồng, không canh tác, không có cây cối đâm chồi, không có rau cỏ mọc lên, giống như cảnh điêu tàn của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im là các thành đã bị Đức Giê-hô-va tiêu diệt trong cơn thịnh nộ kinh khiếp của Ngài.

24 Tất cả các nước sẽ hỏi rằng: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm như thế cho xứ nầy? Tại sao lại có cơn thịnh nộ kinh khiếp như vậy?’

25 Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Vì họ đã chối bỏ giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ đã lập với họ khi Ngài đem họ ra khỏi Ai Cập.

26 Họ đi thờ phượng và quỳ lạy các thần khác là những thần mà họ chưa từng biết và Ngài cũng không cho phép họ thờ lạy.’

27 Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã trút cơn thịnh nộ trên xứ nầy và giáng trên nó mọi lời nguyền rủa ghi trong sách nầy.

28 Trong cơn thịnh nộ, lôi đình và vô cùng tức giận Đức Giê-hô-va đã trục xuất dân nầy khỏi đất họ và ném họ vào một xứ khác, như điều đang có ngày nay.”

29 Những điều huyền nhiệm thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, nhưng những điều được mặc khải thuộc về chúng ta và con cháu chúng ta đến đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy.

30

1 “Khi tất cả những điều nầy đã xảy đến cho anh em, tức là các phước lành và lời nguyền rủa mà tôi đã đưa ra trước mặt anh em, và khi đang sống giữa các nước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đày anh em đến, anh em biết hồi tâm suy nghĩ đến những điều đó

2 mà quay lại với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và anh em cùng con cái mình hết lòng hết linh hồn vâng theo tiếng phán của Ngài, như mọi điều tôi truyền cho anh em hôm nay,

3 thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ giải cứu anh em khỏi cảnh lưu đày, sẽ thương xót anh em và sẽ tập hợp anh em về từ mọi dân tộc mà Ngài đã phân tán anh em.

4 Dù anh em có bị lưu đày đến cuối trời thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em cũng sẽ tập hợp anh em lại và đem anh em trở về.

5 Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ đưa anh em về xứ mà tổ phụ anh em chiếm hữu và anh em sẽ sở hữu nó. Ngài sẽ làm cho anh em thịnh vượng và đông đúc hơn tổ phụ anh em.

6 Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ cắt bì tấm lòng anh em và tấm lòng của dòng dõi anh em để anh em hết lòng hết linh hồn kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình và nhờ đó mà anh em được sống.

7 Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ giáng các lời nguyền rủa nầy trên kẻ thù anh em, trên những kẻ ghen ghét và bắt bớ anh em.

8 Còn anh em sẽ trở lại và vâng theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va, thực hành các điều răn của Ngài mà tôi truyền cho anh em hôm nay.

9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ làm cho anh em thịnh vượng trong mọi công việc tay anh em làm, từ bông trái của thân thể anh em đến bầy con của đàn gia súc và hoa quả của đất đai anh em. Vì Đức Giê-hô-va sẽ vui về hạnh phúc của anh em như Ngài đã vui về hạnh phúc của tổ phụ anh em,

10 miễn là anh em vâng theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va, tuân giữ các điều răn và luật lệ của Ngài đã ghi trong sách luật pháp nầy, cũng như hết lòng hết linh hồn trở về với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.”

11 “Điều răn mà tôi truyền cho anh em hôm nay không quá khó khăn hay nằm ngoài tầm tay của anh em.

12 Điều đó chẳng phải ở trên trời để anh em phải thắc mắc: ‘Ai sẽ lên trời đem nó xuống để chúng tôi nghe và làm theo?’

13 Nó cũng không ở bên kia biển để anh em phải hỏi: ‘Ai sẽ đi qua bên kia biển đem nó về để chúng tôi nghe và làm theo?’

14 Nhưng lời nầy rất gần anh em, ở trong miệng và trong lòng anh em để anh em làm theo.

15 Hãy xem, hôm nay tôi đặt trước mặt anh em sự sống và phước lành, sự chết và tai họa.

16 Nếu anh em tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà hôm nay tôi truyền cho anh em, yêu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi trong đường lối Ngài, tuân giữ những điều răn, luật lệ và mệnh lệnh Ngài, thì anh em được sống và thêm đông đúc. Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong xứ mà anh em sắp vào chiếm hữu.

17 Nhưng nếu anh em thay lòng đổi dạ, không muốn nghe theo, lại bị quyến dụ đi cúng lạy và phụng thờ các thần khác,

18 thì hôm nay, tôi công bố với anh em rằng anh em chắc chắn sẽ bị diệt vong, không được sống lâu trong xứ mà anh em sắp vượt qua sông Giô-đanh để tiếp nhận.

19 Hôm nay, tôi xin trời và đất làm chứng rằng tôi đã đặt trước mặt anh em sự sống và sự chết, phước lành và sự nguyền rủa. Vậy hãy chọn sự sống để anh em và dòng dõi anh em được sống.

20 Hãy yêu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vâng theo tiếng phán Ngài và gắn bó với Ngài, vì Ngài là sự sống của anh em; Ngài sẽ cho anh em được ở lâu dài trên đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho các tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.”

31

1 Môi-se đến và công bố những lời nầy với toàn dân Y-sơ-ra-ên.

2 Ông nói: “Hôm nay tôi được một trăm hai mươi tuổi, không thể đi ra đi vào được nữa, và Đức Giê-hô-va đã phán với tôi rằng: ‘Con sẽ không được qua sông Giô-đanh nầy đâu.’

3 Chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ qua sông trước anh em. Ngài sẽ diệt các dân tộc nầy trước mặt anh em và anh em sẽ chiếm đất của chúng. Giô-suê sẽ lãnh đạo và dẫn anh em qua sông như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.

4 Đức Giê-hô-va sẽ tiêu diệt chúng như Ngài đã tiêu diệt Si-hôn và Óc, vua dân A-mô-rít, và xứ sở của chúng.

5 Đức Giê-hô-va sẽ phó chúng cho anh em và anh em phải xử chúng theo mọi mệnh lệnh tôi đã truyền cho anh em.

6 Hãy mạnh dạn và can đảm! Đừng sợ, đừng kinh khiếp trước mặt các dân tộc đó, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đi với anh em. Ngài chẳng lìa khỏi anh em, chẳng từ bỏ anh em đâu!”

7 Nói xong, Môi-se gọi Giô-suê đến và nói với ông trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy mạnh dạn và can đảm lên vì chính anh sẽ cùng với dân nầy vào đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ họ, và anh sẽ chia xứ đó cho họ làm sản nghiệp.

8 Chính Đức Giê-hô-va sẽ đi trước anh; Ngài sẽ ở với anh, không lìa anh, không từ bỏ anh đâu. Đừng sợ và đừng kinh khiếp!”

9 Môi-se ghi lại luật nầy và trao cho các thầy tế lễ, các con cháu Lê-vi, là những người khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, cũng như trao cho tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên.

10 Môi-se truyền cho họ: “Cuối mỗi bảy năm, vào năm tha nợ, trong dịp lễ Lều Tạm,

11 khi toàn dân Y-sơ-ra-ên đến trình diện trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại địa điểm Ngài sẽ chọn, thì các ông phải đọc luật pháp nầy trước toàn dân Y-sơ-ra-ên để ai cũng được nghe.

12 Hãy triệu tập dân chúng lại, cả đàn ông, đàn bà, trẻ con và những ngoại kiều đang ở trong các thành của các ông để họ được nghe và học tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ông và cẩn thận làm theo mọi lời của luật pháp nầy.

13 Con cháu họ là những người chưa từng biết luật nầy sẽ được nghe và học tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ông, suốt thời gian sống trong xứ mà các ông sẽ chiếm hữu sau khi vượt qua sông Giô-đanh.”

14 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Kìa, ngày qua đời của con đã gần rồi. Hãy gọi Giô-suê đến, rồi cả hai sẽ trình diện tại Lều Hội Kiến để Ta truyền lệnh cho nó.” Vậy Môi-se và Giô-suê đến trình diện tại Lều Hội Kiến.

15 Đức Giê-hô-va hiện ra tại Lều, trong một trụ mây. Trụ mây dừng lại tại cửa Lều.

16 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nầy, con sắp an giấc với các tổ phụ con. Còn dân nầy sẽ nổi loạn và thông dâm với các thần của dân ngoại tại trong xứ mà họ sắp vào. Họ sẽ bỏ Ta và phá vỡ giao ước mà Ta đã lập với họ.

17 Trong ngày ấy, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với họ. Ta sẽ lìa bỏ họ và ẩn mặt khỏi họ, mặc cho họ bị cắn nuốt và tai ương, thảm họa đổ xuống trên họ. Trong ngày đó, họ sẽ nói rằng: ‘Có phải vì Đức Chúa Trời không còn ở với tôi nên những thảm họa nầy đổ xuống cho tôi không?’

18 Còn Ta, trong ngày đó, chắc chắn Ta sẽ ẩn mặt đi vì mọi điều gian ác mà họ đã làm khi chạy theo các thần khác.

19 Vậy bây giờ hãy chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên. Hãy đặt nó vào miệng họ để bài ca nầy trở thành lời chứng của Ta cáo buộc dân Y-sơ-ra-ên.

20 Vì Ta sẽ đưa dân nầy vào xứ mà Ta đã thề hứa với tổ phụ của họ, tức là xứ đượm sữa và mật; nhưng khi họ ăn no nê và mập mạnh thì sẽ chạy theo các thần khác và phụng thờ chúng, khinh thường Ta và phá bỏ giao ước với Ta.

21 Khi nhiều tai ương và thảm họa trút xuống trên họ thì bài ca nầy sẽ là lời chứng cáo buộc họ, vì dòng dõi họ sẽ không quên bài ca nầy. Thật, Ta đã biết những ý định của họ hôm nay trước khi đưa họ vào xứ mà Ta đã thề ban cho họ.”

22 Hôm ấy, Môi-se chép bài ca nầy và dạy cho con dân Y-sơ-ra-ên.

23 Đức Giê-hô-va truyền lệnh cho Giô-suê, con trai Nun rằng: “Hãy mạnh dạn và can đảm vì con sẽ đưa dân Y-sơ-ra-ên vào xứ mà Ta đã thề ban cho họ. Còn Ta, Ta sẽ ở với con.”

24 Sau khi đã ghi những lời của luật pháp nầy vào một cuốn sách,

25 Môi-se truyền cho những người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va rằng:

26 “Hãy lấy cuốn sách luật pháp nầy đặt cạnh Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Sách ấy ở đó sẽ như lời chứng cáo buộc anh em,

27 vì tôi biết tính phản trắc và ngoan cố của anh em. Hôm nay, khi tôi còn sống giữa anh em mà anh em đã phản nghịch với Đức Giê-hô-va, huống chi là sau khi tôi qua đời!

28 Hãy triệu tập cho tôi trưởng lão của các bộ tộc và quan chức của anh em; tôi sẽ nói thẳng với họ những lời nầy và lấy đất trời làm chứng cho họ.

29 Vì tôi biết rằng sau khi tôi qua đời, chắc chắn anh em sẽ bại hoại, quay lưng lại với con đường mà tôi đã truyền dạy cho anh em. Trong tương lai, tai ương sẽ đổ xuống trên anh em vì anh em làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, chọc giận Ngài bằng những công việc tay anh em làm.”

30 Sau đó, Môi-se đọc từ đầu đến cuối lời của bài ca nầy cho toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe:

32

1 Hỡi trời hãy lắng tai, tôi sẽ nói, Hỡi đất hãy nghe những lời từ miệng tôi.

2 Xin cho giáo huấn của tôi rơi xuống như mưa, Lời tôi nhỏ xuống như sương móc, Khác nào mưa phùn trên cỏ non, Như mưa rào trên cánh đồng xanh.

3 Vì tôi sẽ tung hô danh Đức Giê-hô-va. Tôn cao sự oai nghiêm của Đức Chúa Trời chúng ta.

4 Ngài là Vầng Đá, công việc Ngài thật toàn hảo, Vì mọi đường lối Ngài đều là công lý. Một Đức Chúa Trời thành tín và vô tội, Luôn chính trực công minh.

5 Họ đã hành động gian dối với Ngài Một dòng dõi nhuốc nhơ, ương ngạnh và gian tà, Không còn đáng làm con của Ngài nữa.

6 Hỡi dân tộc ngu si khờ dại, Các người đền ơn Đức Giê-hô-va như vậy sao? Chẳng phải Ngài là Cha, là Đấng sáng tạo, Đã tạo dựng và lập các người thành một dân tộc sao?

7 Hãy nhớ lại những ngày xa xưa, Suy ngẫm về những thế hệ đã qua; Hãy hỏi cha mình, ông sẽ chỉ cho. Hỏi các trưởng lão, họ sẽ giãi bày.

8 Khi Đấng Tối cao phân chia sản nghiệp cho muôn dân, Và phân tán con cái loài người Thì Ngài định biên giới cho mọi dân tộc Theo số con dân Y-sơ-ra-ên.

9 Vì phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là sản nghiệp Ngài.

10 Ngài tìm được họ trong một nơi hoang vắng, Giữa những tiếng gào thét của hoang mạc. Ngài bao phủ họ, chăm sóc họ, Gìn giữ họ như con ngươi của mắt Ngài.

11 Như phụng hoàng khuấy động ổ mình, Bay lượn quanh bầy con Dang rộng cánh ra đỡ lấy Rồi cõng con trên đôi cánh.

12 Chỉ một mình Đức Giê-hô-va dẫn dắt dân Ngài Không có thần lạ nào khác ở bên.

13 Ngài khiến họ cưỡi trên các nơi cao của xứ, Ăn hoa quả của ruộng đồng, Cho họ nếm mật ong từ vầng đá, Và dầu phun ra từ đá hoa cương;

14 Ăn sữa đông từ bò, sữa tươi từ chiên, Với mỡ chiên con và chiên đực Từ bầy bò và dê miền Ba-san, Chung với lúa mì thượng hạng. Anh em sẽ uống rượu nho nguyên chất đỏ như máu.

15 Giê-su-run khi mập ra thì đã tung cú đá, — Anh em cũng to béo, mập tròn — Lìa bỏ Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên mình Và khinh thường Vầng Đá cứu chuộc mình.

16 Họ thờ lạy những thần xa lạ khiến Ngài phải ghen tức Làm những việc ghê tởm để chọc giận Ngài.

17 Dâng sinh tế cho ma quỷ, không phải là Đức Chúa Trời, Quỳ lạy các thần mà mình chưa từng biết, Là các thần mới vừa xuất hiện ít lâu, Mà tổ phụ anh em không bao giờ khiếp sợ.

18 Anh em không quan tâm đến Vầng Đá đã sinh ra mình Và quên Đức Chúa Trời Đấng ban sự sống.

19 Đức Giê-hô-va thấy điều đó và từ bỏ họ Vì các con trai con gái Ngài đã chọc giận Ngài.

20 Ngài phán: “Ta sẽ giấu mặt đi Để xem cuối cùng họ sẽ ra sao, Vì họ là dòng dõi gian tà, Là những đứa con bất trung.

21 Họ chọc Ta ghen tức với thần chẳng phải là Đức Chúa Trời, Làm cho Ta tức giận vì sự hư không của họ; Ta cũng khiến họ ghen tức với một dân không phải là dân, Và khiến họ tức giận vì một dân tộc ngu dốt.

22 Vì lửa thịnh nộ đã bừng lên trong Ta, Cháy cho đến tận đáy âm phủ, Thiêu hủy đất đai và mùa màng, Đốt cháy tận nền các núi.

23 Ta sẽ chất tai ương trên họ, Bắn hết các mũi tên vào họ.

24 Họ sẽ bị hao mòn vì đói, Kiệt quệ vì nắng cháy, Tiêu tan vì dịch bệnh thảm khốc. Ta sẽ sai răng dã thú, Và nọc độc của loài rắn trong bụi đất đến hãm hại họ.

25 Ngoài thì gươm đao tàn sát con cái, Trong thì nỗi kinh hoàng Làm cho cả thanh niên thanh nữ, Và trẻ con đang bú cùng với người đầu bạc đều bị diệt vong.

26 Ta định: ‘Ta sẽ phân tán họ khắp nơi, Xóa sạch kỷ niệm họ khỏi loài người.’

27 Nhưng Ta ngại kẻ thù khiêu khích, Đối phương hiểu lầm, Cho rằng: ‘Chiến thắng về tay chúng ta, Chứ Đức Giê-hô-va có làm mọi điều ấy đâu!’

28 Vì họ là một dân kém khôn ngoan, Thiếu hiểu biết.

29 Nếu khôn ngoan họ sẽ hiểu điều nầy, Và ý thức được đến cuối cùng mình sẽ ra sao.

30 Làm sao một người đuổi được nghìn người, Và hai người làm cho mười nghìn người tháo chạy, Nếu Vầng Đá không bán chúng đi, Và Đức Giê-hô-va không giao nộp chúng?

31 Chính kẻ thù chúng ta cũng phải thừa nhận Vầng đá của chúng không sánh nổi với Vầng Đá chúng ta.

32 Cây nho của chúng lấy giống từ Sô-đôm, Từ cánh đồng Gô-mô-rơ; Nên trái nho của chúng là trái độc, Chùm nho đầy trái đắng cay.

33 Rượu nho của chúng là nọc rắn độc, Nọc độc chết người của rắn hổ mang.

34 Việc như thế làm sao Ta quên được? Ta đã niêm phong nó trong kho tàng của Ta.

35 Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng, Vào lúc chân của chúng trượt ngã; Vì ngày hoạn nạn của chúng đã gần, Ngày tận số của chúng đang vội vàng tiến đến.”

36 Nhưng khi Đức Giê-hô-va thấy sức lực của dân Ngài hao mòn, Người nô lệ, kẻ tự do cũng biến mất, Thì Ngài sẽ xét xử công minh cho họ Và xót thương đầy tớ Ngài.

37 Bấy giờ Ngài sẽ hỏi: “Các thần của họ Những vầng đá họ ẩn thân,

38 Các thần ăn mỡ sinh tế Và uống rượu lễ quán đâu cả rồi? Kêu chúng dậy giúp đỡ Và bảo bọc các ngươi đi!

39 Bây giờ, hãy xem, chính Ta là Đức Chúa Trời Ngoài Ta chẳng có thần nào khác; Ta khiến cho chết và cho sống lại, Làm cho bị thương và chữa cho lành Chẳng ai giải cứu khỏi tay Ta được.

40 Ta giơ tay lên trời Và công bố: ‘Ta sống vĩnh hằng!’

41 Khi Ta mài lưỡi gươm lấp lánh, Và tay cầm sự phán xét Thì Ta sẽ báo thù các đối thủ Ta, Báo ứng những kẻ ghét Ta.

42 Ta sẽ làm cho các mũi tên say máu, Lưỡi gươm nuốt thịt, Tức là huyết của các tù nhân và kẻ bị thương vong, Đầu của các tướng lãnh quân thù.”

43 Hỡi các nước! Hãy vui mừng với dân Chúa, Vì Ngài rửa hận cho huyết của các đầy tớ Ngài, Báo thù các đối thủ Ngài, Và tha tội cho xứ sở và cho dân của Ngài.

44 Môi-se đã cùng đến với Giô-suê, con trai của Nun, đọc cho dân chúng nghe tất cả các lời của bài ca nầy.

45 Khi đã đọc xong các lời nầy cho toàn dân Y-sơ-ra-ên,

46 Môi-se căn dặn họ: “Hãy chú tâm vào tất cả những lời mà hôm nay tôi đã cảnh báo anh em, và truyền lại cho con cháu anh em để chúng cẩn thận làm theo mọi lời của luật pháp nầy.

47 Vì đây không phải là lời nói vô ích đối với anh em đâu, nhưng là sự sống của anh em. Nhờ lời nầy anh em sẽ được sống lâu trên đất mà anh em sắp chiếm hữu sau khi qua sông Giô-đanh.”

48 Cũng trong ngày đó, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

49 “Con hãy lên núi A-ba-rim, đỉnh Nê-bô trong xứ Mô-áp, đối diện Giê-ri-cô, và nhìn về đất Ca-na-an là đất mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp.

50 Con sẽ qua đời trên núi mà con vừa lên đó và sẽ được sum họp với dân tộc con như anh con là A-rôn đã qua đời trên núi Hô-rơ và đã được sum họp với dân tộc mình.

51 Vì cả hai anh em con đã thất tín với Ta trước mặt dân Y-sơ-ra-ên tại mạch nước Mê-ri-ba ở Ca-đe, trong hoang mạc Sin, và vì các con không tôn thánh Ta giữa dân Y-sơ-ra-ên,

52 cho nên con chỉ được thấy đất ấy từ đằng xa chứ không được vào đất đó, là đất mà Ta ban cho con dân Y-sơ-ra-ên.”

33

1 Đây là lời chúc phước mà Môi-se, người của Đức Chúa Trời, đã chúc cho dân Y-sơ-ra-ên trước khi qua đời.

2 Ông nói: “Đức Giê-hô-va đến từ Si-na-i, Chiếu soi trên chúng ta từ Sê-i-rơ, Và rạng ngời từ núi Pha-ran; Ngài đến từ giữa muôn nghìn đấng thánh, Lửa luật pháp phát ra từ tay phải của Ngài.

3 Chúa thương yêu dân Ngài, Tất cả các thánh đều ở trong tay Chúa, Phủ phục dưới chân Ngài Để đón nhận lời Ngài chỉ dạy.

4 Luật pháp mà Môi-se truyền cho chúng tôi Là sản nghiệp của cộng đồng Gia-cốp.

5 Ngài là vua của Giê-su-run Khi cấp lãnh đạo của dân chúng họp lại Cùng với các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.

6 Cầu cho Ru-bên sống và lưu truyền mãi mãi. Dù cho số người nó không đông.”

7 Về Giu-đa, Môi-se nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin Ngài nghe tiếng của Giu-đa Và đem người về với dân mình; Dùng đôi tay tự bảo vệ mình. Xin Chúa giúp người chống lại quân thù.”

8 Về Lê-vi, Môi-se nói rằng: “Xin ban Thu-mim cho Lê-vi Và U-rim cho người tin kính Ngài. Mà Ngài đã thử thách tại Ma-sa, Cùng tranh đấu bên mạch nước Mê-ri-ba.

9 Lê-vi nói về cha mẹ mình rằng: ‘Tôi không nhìn thấy họ,’ Người không nhận anh em mình, Cũng chẳng biết con cái mình. Vì họ tuân thủ lời Chúa, Giữ gìn giao ước của Ngài.

10 Họ dạy mệnh lệnh của Chúa cho Gia-cốp Và luật pháp Ngài cho Y-sơ-ra-ên; Họ dâng hương trước mặt Chúa, Và tế lễ toàn thiêu trên bàn thờ Ngài.

11 Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban sức lực cho người, Và hài lòng về công việc của tay người. Xin đánh gãy hông của kẻ thù, Và kẻ ghen ghét, để chúng không ngóc đầu lên nổi!”

12 Về Bên-gia-min, Môi-se nói rằng: “Người được Đức Giê-hô-va yêu mến, Sẽ được sống yên lành bên Ngài. Chúa che chở người suốt đời, Và ngự giữa núi đồi của người.”

13 Về Giô-sép, Môi-se nói rằng: “Nguyện đất của người được Đức Giê-hô-va ban phước, Với sương móc quý báu từ trời ban tặng, Và những mạch suối ngầm nằm ngay bên dưới;

14 Với sản phẩm tuyệt hảo từ mặt trời, Và sự phong phú đến từ mặt trăng;

15 Những sản vật hàng đầu của núi xưa, Các bông trái dồi dào từ các đồi vĩnh cửu;

16 Với tặng phẩm quý cùng sự sung mãn của đất, Và ơn lành của Đấng ngự giữa bụi gai. Nguyện mọi phước nầy tuôn tràn trên đầu Giô-sép Và trên trán của người đứng đầu anh em mình.

17 Oai phong như con bò đực đầu lòng, Với cặp sừng dũng mãnh của bò rừng! Người dùng sừng ấy quật ngã mọi dân tộc, Cả đến các dân ở cùng trời cuối đất; Đó là hàng vạn quân Ép-ra-im, Hàng nghìn người Ma-na-se.”

18 Về Sa-bu-lôn, Môi-se nói rằng: “Hỡi Sa-bu-lôn, hãy vui mừng trong lúc ra đi; Còn Y-sa-ca, hãy hớn hở trong lều trại mình!

19 Họ sẽ gọi các dân lên núi, Dâng sinh tế công chính tại đó; Vì họ sẽ hút tài nguyên của biển Và những kho tàng ẩn giấu trong cát.”

20 Về Gát, Môi-se nói rằng: “Tụng ca Đấng mở rộng bờ cõi Gát, Gát nằm rình như một sư tử cái Vồ xé mồi cả tay lẫn đầu.

21 Người đã chọn phần tốt nhất cho mình. Vì trong đó có dành phần cho người lãnh đạo; Khi những nhà lãnh đạo dân chúng tụ họp lại, Gát thực thi công lý của Đức Giê-hô-va Và các luật lệ của Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên.”

22 Về Đan, Môi-se nói rằng: “Đan là một sư tử tơ, Từ Ba-san nhảy xông đến.”

23 Về Nép-ta-li, Môi-se nói rằng: “Nép-ta-li ngập tràn ân phước Chúa, Chan chứa phước lành của Đức Giê-hô-va Hãy chiếm hữu phần đất phía tây và phía nam.”

24 Về A-se, Môi-se nói rằng: “Nguyện A-se được phước hơn các con trai khác, Được anh em ưa chuộng, Và được dầm chân trong dầu!

25 Các then cửa làm bằng sắt và đồng, Sức mạnh dẻo dai suốt cuộc đời.”

26 “Ồ Giê-su-run, không có ai như Đức Chúa Trời, Đấng đến cứu giúp cưỡi các tầng trời Uy nghiêm trên những đám mây.

27 Đức Chúa Trời hằng hữu là nơi ẩn náu, Cánh tay đời đời của Ngài nâng đỡ chúng ta. Ngài sẽ đuổi kẻ thù khuất mắt Và phán rằng: ‘Hãy diệt chúng đi!’

28 Nhờ vậy chỉ một mình Y-sơ-ra-ên sống trong an lành; Suối Gia-cốp phun lên Trong xứ sở của ngũ cốc và rượu, Đượm nhuần sương móc từ trời.

29 Hỡi Y-sơ-ra-ên ngươi có phước biết bao! Một dân được Đức Giê-hô-va cứu giúp! Ai được như ngươi? Ngài là thuẫn giúp đỡ ngươi, Là thanh gươm đem vinh quang đến cho ngươi! Kẻ thù sẽ khúm núm trước ngươi, Còn ngươi sẽ giày đạp các nơi cao của chúng.”

34

1 Từ cao nguyên Mô-áp, Môi-se lên đỉnh Phích-ga, trên núi Nê-bô, đối diện Giê-ri-cô. Tại đó, Đức Giê-hô-va cho ông xem toàn bờ cõi, từ Ga-la-át đến Đan,

2 toàn xứ Nép-ta-li, vùng đất Ép-ra-im và Ma-na-se, toàn xứ Giu-đa cho đến tận Biển Tây,

3 vùng Nê-ghép và vùng đồng bằng, tức là thung lũng Giê-ri-cô, thành Cây Chà Là, cho đến Xoa.

4 Đức Giê-hô-va phán với ông: “Đây chính là xứ mà Ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp khi Ta nói: ‘Ta sẽ ban xứ nầy cho dòng dõi con.’ Ta cho con xem tận mắt xứ ấy nhưng con sẽ không được vào đó.”

5 Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời tại đó, trên cao nguyên Mô-áp, như lời Ngài đã phán.

6 Đức Giê-hô-va chôn ông trong một thung lũng thuộc xứ Mô-áp, đối diện với Bết Phê-ô. Cho đến nay không có ai biết được nơi an táng của ông.

7 Môi-se qua đời khi ông được một trăm hai mươi tuổi, nhưng mắt ông không mờ, sức ông không giảm.

8 Con dân Y-sơ-ra-ên thương khóc Môi-se suốt ba mươi ngày trên cao nguyên Mô-áp. Sau đó, họ chấm dứt những ngày thương khóc và để tang cho Môi-se.

9 Giô-suê, con trai của Nun, được đầy dẫy thần khôn ngoan vì Môi-se đã đặt tay trên ông. Dân Y-sơ-ra-ên vâng lời Giô-suê và làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán truyền qua Môi-se.

10 Về sau, trong Y-sơ-ra-ên không còn xuất hiện một nhà tiên tri nào giống như Môi-se, người được Đức Giê-hô-va biết mặt đối mặt.

11 Không ai như ông, người được Đức Giê-hô-va sai làm những dấu lạ phép mầu tại Ai Cập trước mặt Pha-ra-ôn, quần thần và cả xứ sở của vua ấy.

12 Không ai thực hiện được những việc vĩ đại và đáng sợ như cánh tay mạnh mẽ của Môi-se đã thực hiện trước mắt toàn dân Y-sơ-ra-ên.