1 Ngày mồng một tháng hai năm thứ hai, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se ở Lều Hội Kiến trong hoang mạc Si-na-i rằng:
2 “Hãy kiểm tra dân số cả hội chúng Y-sơ-ra-ên theo từng bộ tộc và gia tộc, liệt kê tất cả nam đinh
3 từ hai mươi tuổi trở lên, tức là tất cả người Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được. Con và A-rôn sẽ đếm họ theo từng đơn vị.
4 Mỗi bộ tộc phải có một người sẽ giúp đỡ các con; người ấy phải là trưởng tộc.
5 Đây là danh sách những người sẽ giúp đỡ các con: Bộ tộc Ru-bên có Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu;
6 bộ tộc Si-mê-ôn có Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai;
7 bộ tộc Giu-đa có Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp;
8 bộ tộc Y-sa-ca có Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a;
9 bộ tộc Sa-bu-lôn có Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn;
10 con cháu Giô-sép, tức là bộ tộc Ép-ra-im, có Ê-li-sa-ma con trai của A-mi-hút; bộ tộc Ma-na-se có Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su;
11 bộ tộc Bên-gia-min có A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni;
12 bộ tộc Đan có A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai;
13 bộ tộc A-se có Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran;
14 bộ tộc Gát có Ê-li-a-sáp, con trai của Đê-u-ên;
15 bộ tộc Nép-ta-li có A-hi-ra con trai của Ê-nan.”
16 Đó là những người được kêu gọi từ hội chúng vốn là những người lãnh đạo các bộ tộc của ông cha họ và là những thủ lĩnh của các đơn vị Y-sơ-ra-ên.
17 Môi-se và A-rôn tiếp nhận những người đã được chỉ định,
18 và triệu tập cả hội chúng vào ngày mồng một tháng hai. Họ khai phả hệ từng người theo từng bộ tộc và gia đình từ hai mươi tuổi trở lên.
19 Vậy Môi-se kiểm tra dân số tại hoang mạc Si-na-i như Đức Giê-hô-va đã phán dặn:
20 Con cháu Ru-bên là trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên từng người theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Ru-bên có thể ra trận,
21 đếm được bốn mươi sáu nghìn năm trăm người.
22 Con cháu Si-mê-ôn, theo gia phả của họ, được ghi tên từng người theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Si-mê-ôn có thể ra trận,
23 đếm được năm mươi chín nghìn ba trăm người.
24 Con cháu Gát, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Gát có thể ra trận,
25 đếm được bốn mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi người.
26 Con cháu Giu-đa, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Giu-đa có thể ra trận,
27 đếm được bảy mươi bốn nghìn sáu trăm người.
28 Con cháu của Y-sa-ca, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Y-sa-ca có thể ra trận,
29 đếm được năm mươi bốn nghìn bốn trăm người.
30 Con cháu của Sa-bu-lôn, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Sa-bu-lôn có thể ra trận,
31 đếm được năm mươi bảy nghìn bốn trăm người.
32 Con cháu Giô-sép, gọi là con cháu Ép-ra-im, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Ép-ra-im có thể ra trận,
33 đếm được bốn mươi nghìn năm trăm người.
34 Con cháu Ma-na-se, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Ma-na-se có thể ra trận,
35 đếm được ba mươi hai nghìn hai trăm người.
36 Con cháu Bên-gia-min, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Bên-gia-min có thể ra trận,
37 đếm được ba mươi lăm nghìn bốn trăm người.
38 Con cháu Đan, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Đan có thể ra trận,
39 đếm được sáu mươi hai nghìn bảy trăm người.
40 Con cháu A-se, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc A-se có thể ra trận,
41 đếm được bốn mươi mốt nghìn năm trăm người.
42 Con cháu Nép-ta-li, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Nép-ta-li có thể ra trận,
43 đếm được năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
44 Đó là những người mà Môi-se, A-rôn và mười hai người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên kiểm tra; mỗi trưởng bộ tộc kiểm tra cho bộ tộc mình.
45 Như vậy, toàn dân Y-sơ-ra-ên đã được kiểm tra tùy theo gia tộc, từ hai mươi tuổi trở lên, tức là mọi người Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được,
46 tổng số là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi người.
47 Nhưng người Lê-vi theo bộ tộc của ông cha mình không được tính chung với những bộ tộc khác.
48 Vì Đức Giê-hô-va có phán với Môi-se rằng:
49 “Con đừng tính bộ tộc Lê-vi và cũng đừng kiểm tra dân số chung với dân Y-sơ-ra-ên,
50 nhưng hãy chỉ định người Lê-vi trông coi Đền Tạm Chứng Ước, tất cả đồ đạc và mọi vật thuộc về Đền Tạm. Họ sẽ vận chuyển Đền Tạm và tất cả đồ đạc trong đó, cũng như trông coi và đóng trại chung quanh Đền Tạm.
51 Mỗi khi dời Đền Tạm thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó, và khi cần dựng Đền Tạm thì họ sẽ dựng lên. Những người khác đến gần sẽ bị xử tử.
52 Dân Y-sơ-ra-ên phải đóng trại theo từng đơn vị; mỗi người ở trong trại riêng của mình và phải đóng dưới ngọn cờ mình.
53 Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh Đền Tạm Chứng Ước để cơn thịnh nộ không giáng trên hội chúng Y-sơ-ra-ên. Người Lê-vi sẽ coi sóc Đền Tạm Chứng Ước.
54 Dân Y-sơ-ra-ên làm đúng theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
2 “Dân Y-sơ-ra-ên phải đóng trại đối diện và chung quanh Lều Hội kiến, mỗi người ở dưới ngọn cờ và bảng hiệu của bộ tộc mình.
3 Trại quân Giu-đa sẽ đóng về hướng đông, phía mặt trời mọc, theo ngọn cờ và đơn vị của mình. Thủ lĩnh của người Giu-đa là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp,
4 quân số của ông được bảy mươi bốn nghìn sáu trăm người.
5 Đóng trại bên cạnh Giu-đa là bộ tộc Y-sa-ca. Thủ lĩnh của người Y-sa-ca là Na-tha-na-ên, con trai Xu-a,
6 quân số của ông được năm mươi bốn nghìn bốn trăm người.
7 Kế đến là bộ tộc Sa-bu-lôn. Thủ lĩnh của người Sa-bu-lôn là Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn,
8 quân số của ông được năm mươi bảy nghìn bốn trăm người.
9 Tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Giu-đa, theo từng đơn vị, là một trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm người. Họ sẽ đi tiên phong.
10 Đội quân Ru-bên đóng trại về hướng nam theo từng đơn vị dưới ngọn cờ mình. Thủ lĩnh của người Ru-bên là Ê-li-su, con trai của Sê-đêu,
11 quân số của ông được bốn mươi sáu nghìn năm trăm người.
12 Bộ tộc Si-mê-ôn đóng trại bên cạnh bộ tộc Ru-bên. Thủ lĩnh của người Si-mê-ôn là Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai,
13 quân số của ông được năm mươi chín nghìn ba trăm người.
14 Kế đến là bộ tộc Gát. Thủ lĩnh của người Gát là Ê-li-a-sáp, con trai của Rê-u-ên,
15 quân số của ông được bốn mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi người.
16 Tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Ru-bên, theo từng đơn vị là một trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi người. Họ sẽ đi thứ nhì.
17 Sau đó, Lều Hội kiến với trại quân Lê-vi sẽ đi giữa các trại quân khác. Trại quân Lê-vi sẽ ra đi theo thứ tự đã đóng trại, mỗi người theo từng đơn vị dưới ngọn cờ mình.
18 Trại quân Ép-ra-im đóng về hướng tây theo từng đơn vị, dưới ngọn cờ mình. Thủ lĩnh của người Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút
19 và quân số của ông được bốn mươi nghìn năm trăm người.
20 Bộ tộc Ma-na-se đóng trại bên cạnh bộ tộc Ép-ra-im. Thủ lĩnh của người Ma-na-se là Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su,
21 quân số của ông được ba mươi hai nghìn hai trăm người.
22 Kế đến là bộ tộc Bên-gia-min. Thủ lĩnh của người Bên-gia-min là A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni,
23 quân số của ông được ba mươi lăm nghìn bốn trăm người.
24 Như vậy, tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Ép-ra-im, theo từng đơn vị, là một trăm lẻ tám nghìn một trăm người. Họ sẽ đi thứ ba.
25 Trại quân Đan đóng về hướng bắc theo từng đơn vị, dưới ngọn cờ của mình. Thủ lĩnh của người Đan là A-hi-ê-xe con trai của A-mi-sa-đai,
26 quân số của ông được sáu mươi hai nghìn bảy trăm người.
27 Bộ tộc A-se sẽ đóng trại bên cạnh bộ tộc Đan. Thủ lĩnh của người A-se là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran,
28 quân số của ông được bốn mươi mốt nghìn năm trăm người.
29 Kế đến là bộ tộc Nép-ta-li. Thủ lĩnh của người Nép-ta-li là A-hi-ra, con trai của Ê-nan,
30 quân số của ông được năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
31 Như vậy, tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Đan là một trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm người. Họ sẽ đi sau cùng, dưới ngọn cờ mình.
32 Đó là những người Y-sơ-ra-ên được kiểm tra theo từng bộ tộc của họ. Tất cả những người trong các trại quân được kiểm tra theo từng đơn vị, là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi người.
33 Nhưng người Lê-vi không được tính chung với những người Y-sơ-ra-ên khác như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Môi-se.
34 Vậy dân Y-sơ-ra-ên làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se. Họ đóng trại theo từng đơn vị và ra đi theo từng gia tộc và gia đình của mình.”
1 Trên đây là danh sách các gia tộc mà A-rôn và Môi-se ghi chép lại trong thời gian Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trên núi Si-na-i.
2 Tên các con trai của A-rôn là Na-đáp, trưởng nam, kế đến là A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
3 Đó là tên các con trai A-rôn, những thầy tế lễ đã được xức dầu và lập lên để làm chức tế lễ.
4 Nhưng Na-đáp và A-bi-hu đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va khi hai người dâng một thứ lửa lạ lên Đức Giê-hô-va trong hoang mạc Si-na-i. Họ không có con nên chỉ có Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm chức tế lễ dưới sự giám sát của A-rôn là cha mình.
5 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
6 “Hãy đem bộ tộc Lê-vi trình diện trước thầy tế lễ A-rôn để phụ giúp người.
7 Họ sẽ thi hành các công tác cho A-rôn và cho cả hội chúng nơi Lều Hội Kiến bằng cách phục vụ trong Đền Tạm.
8 Họ cũng phải coi sóc tất cả dụng cụ của Lều Hội Kiến và làm công tác mà dân Y-sơ-ra-ên giao phó nơi Đền Tạm.
9 Vậy con phải giao người Lê-vi cho A-rôn và các con trai người vì họ đã được tuyển chọn từ dân Y-sơ-ra-ên để giao cho A-rôn.
10 Vậy con sẽ lập A-rôn và các con trai người làm chức tế lễ, còn những người khác đến gần sẽ bị xử tử.”
11 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
12 “Ta đã chọn người Lê-vi từ trong dân Y-sơ-ra-ên để thay thế cho tất cả con đầu lòng trong dân Y-sơ-ra-ên. Vậy người Lê-vi sẽ thuộc về Ta,
13 vì tất cả con đầu lòng đều thuộc về Ta. Vào ngày Ta trừng phạt các con đầu lòng ở Ai Cập, Ta đã biệt riêng cho Ta mọi con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người hay thú vật đều thuộc về Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.”
14 Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se trong hoang mạc Si-na-i rằng:
15 “Hãy kê khai con cháu Lê-vi tùy theo bộ tộc và gia tộc. Kê khai tất cả người nam từ một tháng trở lên.”
16 Môi-se kiểm tra người Lê-vi đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với mình.
17 Đây là tên các con trai của Lê-vi: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri.
18 Đây là tên các con trai của Ghẹt-sôn theo từng gia tộc mình: Líp-ni và Si-mê-i.
19 Đây là các con trai của Kê-hát theo từng gia tộc mình: Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn và U-xi-ên.
20 Các con trai của Mê-ra-ri theo từng gia tộc mình là: Mách-li và Mu-si. Đó là những gia tộc thuộc bộ tộc Lê-vi.
21 Gia tộc Líp-ni và gia tộc Si-mê-i thuộc về Ghẹt-sôn. Đó là hai gia tộc của Ghẹt-sôn.
22 Số người nam của họ từ một tháng tuổi trở lên được kiểm tra là bảy nghìn năm trăm người.
23 Các gia tộc của Ghẹt-sôn đóng trại về hướng tây, phía sau Đền Tạm.
24 Trưởng gia tộc Ghẹt-sôn là Ê-li-a-sáp, con trai của La-ên.
25 Trách nhiệm của con cháu Ghẹt-sôn trong Lều Hội Kiến là coi sóc mọi vật thuộc về Đền Tạm, lều với các tấm phủ và tấm màn nơi cửa vào Lều Hội Kiến,
26 các tấm màn của hành lang, tấm màn nơi cửa vào hành lang bao quanh Đền Tạm và bàn thờ cùng các dây thừng dùng cho Đền Tạm.
27 Gia tộc Am-ram, gia tộc Dít-sa, gia tộc Hếp-rôn và gia tộc U-xi-ên là những gia tộc của Kê-hát.
28 Số người nam của họ từ một tháng tuổi trở lên là tám nghìn sáu trăm người. Họ có trách nhiệm coi sóc nơi thánh.
29 Các gia tộc thuộc con cháu Kê-hát đóng trại về hướng nam của Đền Tạm.
30 Trưởng gia tộc Kê-hát là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên.
31 Người Kê-hát coi sóc Hòm Giao Ước, cái bàn, chân đèn, các bàn thờ, những vật dụng nơi thánh dùng vào việc thờ phượng, tấm màn và các vật dụng liên quan đến sự bảo trì nơi thánh.
32 Đứng đầu các thủ lĩnh của người Lê-vi là Ê-lê-a-sa, con trai của thầy tế lễ A-rôn. Ông được chỉ định để giám sát những người coi sóc nơi thánh.
33 Gia tộc Mách-li và gia tộc Mu-si thuộc về Mê-ra-ri. Đó là các gia tộc của Mê-ra-ri.
34 Số những người nam của họ từ một tháng trở lên được kiểm tra là sáu nghìn hai trăm người.
35 Trưởng gia tộc Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai. Con cháu Mê-ra-ri đóng trại về phía bắc của Đền Tạm.
36 Họ có trách nhiệm coi sóc các khung của Đền Tạm, cây xà ngang, trụ, đế, những vật dụng và mọi thứ phụ thuộc;
37 những trụ ở chung quanh hành lang và đế, cây cọc và dây thừng nữa.
38 Những người đóng trại trước Đền Tạm về phía đông, trước Lều Hội Kiến về hướng mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai ông. Họ có trách nhiệm thay cho dân Y-sơ-ra-ên để coi sóc nơi thánh. Những người khác đến gần đó sẽ bị xử tử.
39 Tổng số người Lê-vi mà Môi-se và A-rôn kê khai theo lệnh của Đức Giê-hô-va, theo từng gia tộc, gồm tất cả người nam từ một tháng trở lên, là hai mươi hai nghìn người.
40 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy kê khai tất cả con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên từ một tháng trở lên và lập danh sách.
41 Ta là Đức Giê-hô-va. Hãy chọn cho Ta những người Lê-vi thay thế cho các con trưởng nam trong dân Y-sơ-ra-ên, và cũng phải bắt súc vật của người Lê-vi thay thế cho mọi súc vật đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.”
42 Như vậy, Môi-se kiểm tra các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
43 Tổng số con trưởng nam từ một tháng trở lên được kiểm tra là hai mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba người.
44 Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se:
45 “Hãy chọn những người Lê-vi thay thế cho tất cả con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên và súc vật của người Lê-vi thay thế cho súc vật của dân Y-sơ-ra-ên. Như thế, những người Lê-vi sẽ thuộc về Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
46 Để chuộc lại hai trăm bảy mươi ba con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên vượt hơn số người Lê-vi
47 thì con phải thu năm siếc-lơ bạc theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ là hai chục ghê-ra.
48 Con hãy giao số bạc chuộc lại những con trưởng nam vượt hơn đó cho A-rôn và các con trai người.”
49 Vậy Môi-se thu số bạc chuộc lại những con trưởng nam vượt hơn số người Lê-vi đó.
50 Số bạc mà ông thu từ những con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên là một nghìn ba trăm sáu mươi lăm siếc-lơ theo siếc-lơ nơi thánh.
51 Môi-se vâng lệnh Đức Giê-hô-va giao số bạc chuộc lại đó cho A-rôn và các con trai ông như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
2 “Hãy kiểm tra dân số Lê-vi thuộc con cháu Kê-hát theo từng gia tộc và bộ tộc của họ,
3 từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là tất cả những người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến.
4 Đây là công việc của con cháu Kê-hát tại Lều Hội Kiến: Họ sẽ coi sóc các vật chí thánh.
5 Khi trại quân dời đi, A-rôn và các con trai người sẽ đến gỡ bức màn mà phủ lên Hòm Chứng Ước,
6 và phủ trên đó một tấm da dê; kế đến, trải thêm một tấm nỉ màu xanh lên rồi xỏ đòn khiêng vào.
7 Họ cũng trải một tấm nỉ màu xanh trên bàn bánh cung hiến và đặt trên đó đĩa, chén, tô và bình dùng cho lễ quán; bánh được bày thường xuyên trên bàn vẫn cứ giữ nguyên trên đó.
8 Họ phủ lên trên các vật đó một tấm nỉ màu đỏ sậm, trải thêm một tấm da dê, rồi xỏ đòn khiêng vào.
9 Họ cũng phải lấy một tấm nỉ màu xanh phủ trên chân đèn, đèn, kéo cắt tim, đồ đựng tro và các bình dầu để thắp đèn.
10 Rồi họ để chân đèn và tất cả đồ phụ tùng trong một tấm da cá nược đặt trên cáng để khiêng đi.
11 Họ phải trải trên bàn thờ bằng vàng một tấm nỉ màu xanh và phủ thêm một tấm da dê rồi xỏ đòn khiêng vào.
12 Họ cũng phải lấy tất cả các vật dụng dùng cho nơi thánh gói lại trong một tấm nỉ màu xanh và phủ lên trên một tấm da dê rồi đặt trên cáng để khiêng.
13 Họ phải hốt tro của bàn thờ ra và trải trên đó một tấm nỉ màu điều,
14 rồi đặt lên đó tất cả các vật dụng của bàn thờ như lư hương, nĩa, vá, bát cùng những vật dụng liên quan đến bàn thờ. Họ cũng phủ trên bàn thờ một tấm da cá nược và xỏ đòn khiêng vào.
15 Sau khi A-rôn và các con trai người đã phủ nơi thánh và các vật dụng thánh xong, và khi trại quân sẵn sàng ra đi thì con cháu Kê-hát phải đến để khiêng các vật dụng đó, nhưng họ không được đụng vào những vật thánh, kẻo phải chết. Đó là những vật dụng trong Lều Hội Kiến mà con cháu Kê-hát phải khiêng đi.
16 Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, sẽ coi sóc về dầu thắp đèn, hương liệu, tế lễ chay hằng hiến, dầu xức, và cả Đền Tạm cùng tất cả các vật dụng trong đó, bao gồm nơi thánh và các dụng cụ.”
17 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn rằng:
18 “Đừng để gia tộc Kê-hát bị tiêu diệt khỏi bộ tộc Lê-vi.
19 Đây là điều mà các con phải làm để họ được sống, không phải chết khi đến gần các vật chí thánh: A-rôn và các con trai người phải đến nơi thánh, phân chia công việc cho mỗi người và các vật dụng họ phải khiêng đi.
20 Nhưng người Kê-hát không được vào xem các vật thánh dù chỉ trong một lát, kẻo phải chết.”
21 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
22 “Hãy kiểm tra dân số người Ghẹt-sôn theo từng bộ tộc và gia tộc của họ.
23 Hãy lập danh sách những người từ ba mươi đến năm mươi tuổi, là những người có thể làm công việc trong Lều Hội Kiến.
24 Đây là công việc mà gia tộc Ghẹt-sôn phải làm hoặc khiêng:
25 Họ sẽ mang những tấm màn của Đền Tạm và Lều Hội Kiến, tấm phủ trong và tấm phủ ngoài bằng da dê và bức màn nơi cửa vào Lều Hội Kiến,
26 các màn của hành lang chung quanh Đền Tạm và bàn thờ, bức màn nơi cửa vào hành lang, những dây thừng và tất cả các vật dụng liên quan đến việc phụng vụ.
27 Tất cả công việc của con cháu Ghẹt-sôn, hoặc khuân vác hoặc làm việc gì đều phải theo sự chỉ dẫn của A-rôn và các con trai người. Các con phải giao cho họ chịu trách nhiệm mọi vật dụng khiêng đi.
28 Đó là những công việc của gia tộc Ghẹt-sôn trong Lều Hội Kiến. Công việc của họ ở dưới quyền giám sát của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
29 Con phải kiểm tra dân số người Mê-ra-ri theo từng bộ tộc và gia tộc của họ,
30 từ ba mươi đến năm mươi tuổi, là những người có thể phục vụ nơi Lều Hội Kiến.
31 Đây là các công việc của họ trong Lều Hội Kiến: Họ phải khiêng những tấm ván của Đền Tạm, các xà ngang, trụ, đế trụ,
32 các trụ chung quanh hành lang và đế trụ, cọc, dây thừng, cùng tất cả vật dụng và các thứ liên quan. Các con sẽ giao cho mỗi người chịu trách nhiệm cụ thể về các vật khiêng đi.
33 Đó là công việc mà gia tộc Mê-ra-ri phải làm trong Lều Hội Kiến dưới quyền giám sát của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.”
34 Vậy Môi-se, A-rôn và những người lãnh đạo kiểm tra con cháu Kê-hát theo từng gia tộc và bộ tộc của họ,
35 từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là tất cả những người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến.
36 Số người được kiểm tra theo từng gia tộc là hai nghìn bảy trăm năm mươi.
37 Đó là số người thuộc gia tộc Kê-hát, tức là tất cả những người phục vụ trong Lều Hội Kiến mà Môi-se và A-rôn đã kiểm tra theo lệnh của Đức Giê-hô-va phán qua Môi-se.
38 Con cháu của Ghẹt-sôn được kiểm tra theo từng bộ tộc và gia tộc,
39 từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là những người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến,
40 tổng cộng là hai nghìn sáu trăm ba mươi.
41 Đó là con cháu thuộc gia tộc Ghẹt-sôn, tức là tất cả những người phục vụ trong Lều Hội Kiến mà Môi-se và A-rôn đã kiểm tra theo lệnh của Đức Giê-hô-va.
42 Còn số con cháu thuộc gia tộc Mê-ra-ri được kiểm tra theo từng gia tộc và bộ tộc của họ,
43 từ ba mươi cho đến năm mươi tuổi, tức là mọi người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến,
44 tổng cộng là ba nghìn hai trăm.
45 Đó là số con cháu thuộc các gia tộc Mê-ra-ri được Môi-se và A-rôn kiểm tra theo lệnh của Đức Giê-hô-va đã phán qua Môi-se.
46 Tất cả người Lê-vi mà Môi-se, A-rôn và các người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên kiểm tra theo từng gia đình và gia tộc của họ,
47 từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là mọi người có thể phục vụ và khiêng vật dụng trong Lều Hội Kiến,
48 tổng cộng là tám nghìn năm trăm tám mươi.
49 Người ta kiểm tra người Lê-vi theo lệnh của Đức Giê-hô-va đã phán qua Môi-se và phân chia cho mỗi người công việc cùng vật dụng phải khiêng đi. Như vậy, họ được kiểm tra dân số theo lệnh Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy ra lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên đuổi khỏi trại quân tất cả người phong hủi, người mắc bệnh lậu và người bị ô uế vì đụng phải xác chết.
3 Phải đuổi họ khỏi trại quân bất luận nam hay nữ để họ không làm ô uế trại quân là nơi Ta ngự ở đó.”
4 Dân Y-sơ-ra-ên đuổi họ khỏi trại quân đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Môi-se.
5 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
6 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi một người nam hay nữ gây thiệt hại cho người khác, tức là phạm tội bất trung với Đức Giê-hô-va thì người ấy mắc tội.
7 Người ấy phải xưng tội và bồi thường đầy đủ, ngoài ra còn phải trả thêm một phần năm cho người mình làm thiệt hại.
8 Nếu người bị thiệt hại qua đời và không có bà con ruột thịt nào để lãnh số bồi thường thì số bồi thường đó sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va và phải trao cho thầy tế lễ, cộng thêm một con chiên đực làm tế lễ chuộc tội cho người mắc tội đó.
9 Tất cả tế lễ thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đem đến cho thầy tế lễ đều sẽ thuộc về người.
10 Những vật thánh mà mỗi người dâng hiến, sẽ thuộc về thầy tế lễ; vật gì mỗi người tặng cho thầy tế lễ sẽ thuộc về người vậy.’”
11 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
12 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu một người đàn bà lỗi đạo và không chung thủy với chồng;
13 nếu có một người nam ăn nằm với nàng mà chồng không biết và sự thất tiết chưa bị phát hiện (vì không có bằng chứng để tố cáo và nàng không bị bắt quả tang),
14 nếu người chồng nổi ghen với vợ mình vì nàng đã thật sự bị thất tiết hoặc nổi ghen mặc dù nàng không bị thất tiết,
15 thì người ấy phải dẫn vợ mình đến trước mặt thầy tế lễ và đem theo hai lít bột mạch nha làm tế lễ cho nàng. Người chồng đừng đổ dầu vào tế lễ và cũng đừng bỏ nhũ hương lên trên vì là một tế lễ chay về sự ghen tuông, một tế lễ chay để ghi nhớ về tội lỗi.
16 Thầy tế lễ sẽ bảo nàng đến gần và đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
17 Kế đó, thầy tế lễ lấy chút nước thánh đổ trong một cái bình gốm và hốt một nhúm đất nơi sân Đền Tạm bỏ trong nước.
18 Thầy tế lễ bảo người nữ đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, xả tóc nàng xuống và đặt tế lễ ghi nhớ trong bàn tay nàng, tức là tế lễ chay về sự ghen tuông. Còn thầy tế lễ cầm bình nước đắng của sự nguyền rủa trong tay mình.
19 Thầy tế lễ bắt người nữ thề và nói với nàng: “Nếu không có người nam nào nằm cùng ngươi và nếu ngươi không lỗi đạo với chồng và không thất tiết thì nước đắng của sự nguyền rủa nầy sẽ vô hại cho ngươi.
20 Nhưng, nếu ngươi đã có chồng mà lỗi đạo và thất tiết với một người khác không phải là chồng ngươi...”
21 (bấy giờ thầy tế lễ bắt người nữ lấy một lời thề độc mà thề) và nói tiếp rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va khiến ngươi trở nên cớ nguyền rủa và trù ẻo trong dân chúng, khiến người ốm lòi hông và bụng phình lên, dạ ngươi héo đi,
22 Nguyện nước đắng nguyền rủa nầy vào trong ruột gan làm cho bụng ngươi phình lên và ốm lòi hông.” Người nữ sẽ nói rằng: “A-men. A-men!”
23 Sau đó, thầy tế lễ phải viết các lời trù ẻo nầy vào một cuốn sách rồi lấy nước đắng rửa đi.
24 Thầy tế lễ sẽ bắt người nữ uống nước đắng của sự nguyền rủa, và nước đắng nầy sẽ vào trong người nàng, làm cho nàng đau khổ, đắng cay.
25 Thầy tế lễ sẽ lấy nơi tay nàng tế lễ chay về sự ghen tuông đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va và dâng trên bàn thờ.
26 Thầy tế lễ lấy một nắm bột tế lễ chay về sự ghi nhớ và xông trên bàn thờ, rồi bảo người nữ uống nước đắng.
27 Khi thầy tế lễ bảo nàng uống nước đắng, nếu quả nàng bị thất tiết và không chung thủy với chồng thì nước đắng của sự nguyền rủa sẽ vào trong người, làm nàng đau khổ, cay đắng, bụng nàng sẽ phình lên và ốm lòi hông. Người nữ nầy sẽ trở thành cớ nguyền rủa trong dân chúng.
28 Còn nếu người nữ không bị thất tiết, vẫn còn trong trắng thì nàng sẽ không bị tổn hại và có thể sinh con.
29 Đó là luật về ghen tuông khi một người đàn bà đã có chồng mà lỗi đạo và thất tiết,
30 hoặc khi nào người chồng nổi ghen với vợ mình. Người chồng phải đem vợ đến trước mặt Đức Giê-hô-va và thầy tế lễ sẽ áp dụng toàn bộ luật lệ nầy đối với nàng.
31 Người chồng sẽ không có lỗi gì, còn người vợ sẽ chịu lấy hậu quả nếu phạm tội.’”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu một người nam hay nữ nào đặc biệt hứa nguyện làm người Na-xi-rê để biệt riêng mình cho Đức Giê-hô-va,
3 thì phải kiêng rượu và thức uống có men; không được uống giấm làm từ rượu hoặc thức uống có men. Người ấy cũng không được uống nước nho hoặc ăn nho tươi hay nho khô.
4 Trong suốt thời gian biệt mình riêng ra, đừng ăn bất cứ món gì làm từ nho, cả hột lẫn vỏ.
5 Trong suốt thời gian hứa nguyện Na-xi-rê, người ấy không được cạo tóc trên đầu. Người ấy sẽ biệt ra thánh và để tóc mọc dài cho đến khi hoàn tất thời kỳ biệt riêng cho Đức Giê-hô-va.
6 Trong suốt thời gian biệt riêng cho Đức Giê-hô-va, người ấy không được đến gần xác chết.
7 Người ấy cũng không vì cha hay mẹ, hoặc vì anh em hay chị em đã chết mà làm cho mình bị ô uế, bởi vì dấu hiệu biệt riêng cho Đức Chúa Trời vẫn còn ở trên đầu người ấy.
8 Trong suốt thời gian hứa nguyện Na-xi-rê, người ấy được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va.
9 Nếu có ai chết thình lình gần bên người ấy và làm ô uế đầu mình đã biệt riêng ra thánh thì phải cạo tóc trên đầu trong ngày người ấy được thanh tẩy, tức là ngày thứ bảy.
10 Qua ngày thứ tám, người ấy phải đem một cặp chim cu hay một cặp bồ câu con đến thầy tế lễ tại cửa vào Lều Hội Kiến.
11 Thầy tế lễ sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội, một con làm tế lễ thiêu để chuộc tội cho người ấy vì cớ xác chết. Vậy trong ngày đó, người ấy sẽ biệt riêng đầu mình ra thánh.
12 Người ấy phải biệt riêng cho Đức Giê-hô-va trong những ngày tái hứa nguyện Na-xi-rê và dâng một con chiên đực một tuổi làm tế lễ chuộc lỗi, nhưng các ngày trước đó không được tính vì đã bị ô uế trong thời gian Na-xi-rê.
13 Đây là luật về người Na-xi-rê khi những ngày biệt riêng đã mãn: Người ta phải đem người ấy đến tại cửa vào Lều Hội Kiến,
14 người ấy phải dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va gồm một con chiên đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu, một con chiên cái một tuổi không tì vết làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực không tì vết làm tế lễ bình an,
15 một giỏ bánh không men, bánh bột lọc nhồi dầu, bánh sốp không men thoa dầu cùng với tế lễ chay và lễ quán.
16 Thầy tế lễ sẽ đem những lễ vật nầy đến trước mặt Đức Giê-hô-va và dâng tế lễ chuộc tội cùng với tế lễ thiêu.
17 Ông cũng dâng giỏ bánh không men luôn với con chiên đực làm tế lễ bình an cùng với tế lễ chay và lễ quán nữa.
18 Tại cửa Lều Hội Kiến, người Na-xi-rê phải cạo tóc trên đầu đã biệt riêng và lấy tóc đó bỏ vào lửa đang cháy phía dưới tế lễ bình an.
19 Sau khi người Na-xi-rê đã cạo tóc, thầy tế lễ sẽ đặt trong lòng hai bàn tay người ấy nguyên miếng thịt vai luộc của chiên đực, một cái bánh không men trong giỏ và một cái bánh sốp không men.
20 Tiếp theo, thầy tế lễ dâng các lễ vật ấy bằng cách đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là một vật thánh thuộc về thầy tế lễ cùng với cái ức dâng đưa qua đưa lại và cái đùi dâng giơ lên. Sau đó người Na-xi-rê được phép uống rượu.
21 Đó là luật về người Na-xi-rê đã hứa nguyện và tế lễ người ấy phải dâng cho Đức Giê-hô-va theo sự hứa nguyện, bên cạnh các tế lễ khác mà người ấy có khả năng dâng thêm. Người ấy phải tuân theo luật Na-xi-rê mà mình đã hứa nguyện.’”
22 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
23 “Hãy bảo A-rôn và các con trai người rằng: ‘Các ngươi phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy:
24 Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi Và phù hộ ngươi!
25 Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi Và làm ơn cho ngươi!
26 Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương ngươi Và ban bình an cho ngươi!’
27 Họ phải đặt danh Ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vậy thì Ta sẽ ban phước cho dân nầy.”
1 Khi đã dựng xong Đền Tạm, Môi-se xức dầu và biệt riêng ra thánh tất cả vật dụng của Đền Tạm, cũng như xức dầu và biệt riêng ra thánh bàn thờ và tất cả vật dụng cho bàn thờ.
2 Sau đó, những người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, tức là các trưởng gia tộc, các trưởng bộ tộc đã chịu trách nhiệm kiểm tra dân số đều đem dâng lễ vật của mình.
3 Họ đem các lễ vật đến trước mặt Đức Giê-hô-va: Sáu cỗ xe kiệu và mười hai con bò đực; mỗi người lãnh đạo dâng một con bò và hai người dâng một cỗ xe. Họ dâng các lễ vật đó trước Đền Tạm.
4 Đức Giê-hô-va bảo Môi-se:
5 “Hãy tiếp nhận các lễ vật của họ để dùng vào công việc nơi Lều Hội Kiến và giao chúng cho người Lê-vi tùy theo công tác của mỗi người.”
6 Vậy Môi-se tiếp nhận các cỗ xe và những bò đực rồi giao lại cho người Lê-vi.
7 Ông giao cho con cháu Ghẹt-sôn hai cỗ xe và bốn con bò đực tùy theo công tác của họ.
8 Ông giao cho con cháu Mê-ra-ri bốn cỗ xe và tám con bò đực tùy theo công tác của họ. Họ ở dưới sự giám sát của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
9 Nhưng ông không giao vật gì cho con cháu Kê-hát vì họ phải lo coi sóc những vật thánh mà họ gánh vác trên vai mình.
10 Trong ngày bàn thờ được xức dầu, những người lãnh đạo đem lễ vật cho việc cung hiến bàn thờ đến dâng trước bàn thờ.
11 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Những người lãnh đạo luân phiên mỗi ngày một người, đem lễ vật để cung hiến bàn thờ.”
12 Người dâng lễ vật vào ngày đầu tiên là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp, thuộc bộ tộc Giu-đa.
13 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một kí rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay,
14 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm,
15 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
16 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
17 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp.
18 Ngày thứ hai, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a, thủ lĩnh của Y-sa-ca, đến dâng lễ vật.
19 Ông dâng một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
20 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
21 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
22 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
23 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Na-tha-na-ên, con trai Xu-a.
24 Ngày thứ ba, Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn, thủ lĩnh của Sa-bu-lôn đến dâng lễ vật.
25 Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
26 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
27 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
28 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
29 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-li-áp, con trai Hê-lôn.
30 Ngày thứ tư, Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, thủ lĩnh của Ru-bên, đến dâng lễ vật.
31 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một kí rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
32 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm,
33 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
34 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
35 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
36 Ngày thứ năm, Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đa, thủ lĩnh của Si-mê-ôn, đến dâng lễ vật.
37 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
38 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam, đựng đầy thuốc thơm;
39 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
40 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
41 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai.
42 Ngày thứ sáu, Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên, thủ lĩnh của Gát, đến dâng lễ vật.
43 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
44 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
45 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
46 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
47 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên.
48 Ngày thứ bảy, Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, thủ lĩnh của Ép-ra-im, đến dâng lễ vật.
49 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một kí rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
50 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
51 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
52 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
53 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút.
54 Ngày thứ tám, Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, thủ lĩnh của Ma-na-se, đến dâng lễ vật.
55 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
56 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
57 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
58 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
59 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su.
60 Ngày thứ chín, A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, thủ lĩnh của Bên-gia-min, đến dâng lễ vật.
61 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
62 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
63 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
64 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
65 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni.
66 Ngày thứ mười, A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, thủ lĩnh của Đan, đến dâng lễ vật.
67 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
68 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
69 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
70 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
71 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
72 Ngày thứ mười một, Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran, thủ lĩnh của A-se, đến dâng lễ vật.
73 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
74 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
75 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
76 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
77 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran.
78 Ngày thứ mười hai, A-hi-ra, con trai Ê-nan, thủ lĩnh của Nép-ta-li, đến dâng lễ vật.
79 Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
80 một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
81 một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
82 một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
83 và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của A-hi-ra, con trai Ê-nan.
84 Đây là những lễ vật của các thủ lĩnh dân Y-sơ-ra-ên dâng cho việc cung hiến bàn thờ khi bàn thờ được xức dầu: Mười hai đĩa bạc, mười hai chậu bạc, mười hai chén vàng.
85 Mỗi cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi và mỗi cái chậu bạc nặng tám trăm gam. Tổng số bạc của các đĩa và chậu khoảng hai mươi tám ký, theo siếc-lơ nơi thánh.
86 Mười hai cái chén vàng đựng đầy thuốc thơm, mỗi cái một trăm mười lăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh. Tổng số vàng của chén nặng khoảng một ký bốn trăm gam.
87 Tổng số bò đực dùng làm tế lễ thiêu là mười hai con với mười hai con chiên đực, mười hai con chiên con một tuổi cùng với tế lễ chay và mười hai con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội.
88 Tổng số bò đực dùng làm tế lễ bình an là hai mươi bốn con với sáu mươi con chiên đực, sáu mươi con dê đực, và sáu mươi con chiên con một tuổi. Đó là lễ vật dâng về việc cung hiến bàn thờ sau khi bàn thờ được xức dầu.
89 Khi Môi-se vào Lều Hội Kiến để hầu chuyện với Đức Giê-hô-va, ông nghe tiếng Chúa phán với mình từ nắp thi ân trên Hòm Chứng Ước, ở giữa hai chê-ru-bim. Và như thế ông hầu chuyện với Đức Giê-hô-va.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy bảo A-rôn rằng: Khi sắp xếp cây đèn thì phải cho bảy ngọn đèn chiếu sáng phía trước chân đèn.”
3 A-rôn làm đúng như vậy; ông đặt bảy ngọn đèn chiếu sáng phía trước chân đèn như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Môi-se.
4 Chân đèn được làm bằng vàng dát mỏng từ đế đèn cho đến các hoa đèn. Người ta làm chân đèn đúng theo kiểu mẫu Đức Giê-hô-va đã chỉ dẫn Môi-se.
5 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
6 “Hãy biệt riêng người Lê-vi khỏi dân Y-sơ-ra-ên và làm lễ thanh tẩy họ.
7 Đây là cách con thanh tẩy họ: Hãy rảy nước thanh tẩy trên họ; bảo họ dùng dao cạo sạch toàn thân, giặt quần áo và dọn mình cho thanh sạch.
8 Sau đó, bảo họ bắt một con bò đực cùng với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu, rồi con phải bắt một con bò đực tơ thứ nhì dùng làm tế lễ chuộc tội.
9 Con phải bảo người Lê-vi đến trước Lều Hội Kiến và họp cả hội chúng Y-sơ-ra-ên lại.
10 Khi con trình diện người Lê-vi trước Đức Giê-hô-va, dân Y-sơ-ra-ên sẽ đặt tay trên người Lê-vi.
11 A-rôn sẽ trình diện người Lê-vi như một tế lễ đưa qua đưa lại của dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va để họ sẵn sàng phục vụ Đức Giê-hô-va.
12 Người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu hai con bò đực và con phải dâng một con làm tế lễ chuộc tội, một con làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va để chuộc tội cho người Lê-vi.
13 Kế đó, con hãy bảo người Lê-vi đứng trước mặt A-rôn và các con trai người rồi dâng họ như một tế lễ đưa qua đưa lại cho Đức Giê-hô-va.
14 Như vậy, con sẽ biệt riêng người Lê-vi khỏi dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ thuộc về Ta.
15 Sau khi con đã thanh tẩy và dâng người Lê-vi như một tế lễ đưa qua đưa lại, họ sẽ đến phục vụ tại Lều Hội Kiến.
16 Vì người Lê-vi đã được dâng trọn cho Ta từ giữa dân Y-sơ-ra-ên; Ta đã chọn lấy họ cho Ta thế cho tất cả con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
17 Mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Ta, bất luận người hay vật. Ta đã biệt riêng họ cho Ta trong ngày Ta hình phạt mọi con đầu lòng tại Ai Cập
18 và Ta đã chọn người Lê-vi thế cho mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
19 Từ giữa Y-sơ-ra-ên, Ta đã ban người Lê-vi cho A-rôn và các con trai người để làm công việc của dân Y-sơ-ra-ên trong Lều Hội Kiến, cùng làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên hầu cho họ sẽ không gặp tai họa nào khi đến gần nơi thánh.”
20 Vậy Môi-se, A-rôn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên làm cho người Lê-vi mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
21 Người Lê-vi tự tẩy sạch mình và giặt áo quần, rồi A-rôn dâng họ như tế lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va và làm lễ chuộc tội để họ được thanh tẩy.
22 Sau đó, người Lê-vi đến làm công việc mình trong Lều Hội Kiến dưới sự giám sát của A-rôn và các con trai ông. Người ta làm cho người Lê-vi đúng như Đức Giê-hô-va đã phán về họ qua Môi-se.
23 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
24 “Đây là những quy định về người Lê-vi: Từ hai mươi lăm tuổi trở lên, người Lê-vi phải đến tham gia vào công việc nơi Lều Hội Kiến.
25 Nhưng đến năm mươi tuổi, họ sẽ nghỉ, không làm việc nữa.
26 Họ có thể phụ giúp anh em mình trong Lều Hội Kiến, nhưng chính họ không đảm trách công việc nữa. Đó là cách con phân chia trách nhiệm cho người Lê-vi.”
1 Vào tháng giêng năm thứ hai sau khi ra khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trong hoang mạc Si-na-i rằng:
2 “Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua vào thời gian ấn định.
3 Các ngươi phải giữ lễ đó vào thời gian ấn định, tức là ngày mười bốn tháng nầy vào lúc chiều tối, và phải làm theo mọi quy định cùng luật lệ về lễ đó.”
4 Như vậy, Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải tổ chức lễ Vượt Qua.
5 Dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt Qua vào chiều tối ngày mười bốn tháng giêng tại hoang mạc Si-na-i như Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se.
6 Nhưng có mấy người không được dự lễ Vượt Qua vì bị ô uế bởi xác chết, đến với Môi-se và A-rôn;
7 họ thưa với Môi-se rằng: “Chúng tôi bị ô uế vì xác chết, nhưng tại sao chúng tôi phải bị cất phần dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va theo thời gian ấn định?”
8 Môi-se đáp: “Hãy đợi để ta tìm biết điều Đức Giê-hô-va muốn truyền dạy cho anh em.”
9 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
10 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi một người trong anh em hay con cháu anh em bị ô uế bởi xác chết hoặc bận đi xa thì họ vẫn phải giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va.
11 Họ phải giữ lễ nầy vào chiều tối ngày mười bốn tháng hai và ăn bánh không men cùng rau đắng.
12 Họ không được để dư lại đến sáng mai, cũng không được bẻ gãy bất cứ xương nào. Họ phải giữ theo mọi luật lệ về lễ Vượt Qua.
13 Nhưng ai tinh sạch và không đi xa mà không giữ lễ Vượt Qua thì sẽ bị khai trừ khỏi dân tộc mình vì người ấy không dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va trong thời gian ấn định. Người ấy sẽ mang lấy tội mình.
14 Khi một người ngoại quốc sống giữa anh em mà muốn giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va thì phải theo quy định và luật lệ về lễ Vượt Qua. Các ngươi phải có một luật chung cho cả ngoại kiều lẫn người sinh trong xứ.’
15 ‘Vào ngày người ta dựng Đền Tạm thì đám mây bao phủ Đền Tạm, là Lều Chứng Ước. Từ chiều tối đến sáng mai, đám mây giống như vầng lửa ở trên Đền Tạm.
16 Ban ngày, đám mây bao phủ Đền Tạm và ban đêm nó giống như vầng lửa và cứ xảy ra liên tục như thế.
17 Mỗi khi đám mây cất lên khỏi Lều thì dân Y-sơ-ra-ên ra đi; nơi nào đám mây dừng lại thì dân Y-sơ-ra-ên đóng trại ở đó.
18 Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va và đóng trại theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Bao lâu đám mây còn ngự trên Đền Tạm thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại.
19 Khi nào đám mây ngự lâu trên Đền Tạm thì dân Y-sơ-ra-ên cứ vâng theo lệnh của Đức Giê-hô-va và không ra đi.
20 Nhưng khi nào đám mây ngự một vài ngày trên Đền Tạm thì dân Y-sơ-ra-ên vâng lệnh Đức Giê-hô-va mà đóng trại; sau đó theo lệnh Đức Giê-hô-va, họ lại ra đi.
21 Đôi khi đám mây chỉ ngự tại đó từ buổi chiều đến sáng mai; khi đến sáng mai đám mây cất lên thì họ ra đi. Hoặc nếu đám mây tiếp tục ngự một ngày và một đêm nữa thì khi đám mây cất lên, họ mới ra đi.
22 Khi đám mây ngự trên Đền Tạm hai ngày hoặc một tháng hoặc lâu hơn nữa thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại và không ra đi; nhưng khi đám mây cất lên thì họ lại ra đi.
23 Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại theo lệnh của Đức Giê-hô-va và ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Họ vâng lệnh của Đức Giê-hô-va, theo như Ngài đã truyền phán qua Môi-se.’”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Con hãy làm hai cây kèn bằng bạc dát mỏng và dùng chúng để triệu tập hội chúng cũng như truyền lệnh cho các trại quân ra đi.
3 Khi nào người ta thổi cả hai kèn thì toàn hội chúng sẽ họp lại trước mặt con tại lối vào Lều Hội kiến.
4 Nếu người ta chỉ thổi một kèn thì các thủ lĩnh tức là những người lãnh đạo của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên phải họp lại trước mặt con.
5 Khi các con thổi kèn tiếng vang thì những trại quân phía đông sẽ ra đi.
6 Khi các con thổi kèn tiếng vang lần thứ nhì thì những trại quân phía nam sẽ ra đi. Người ta sẽ thổi kèn tiếng vang khi nào các trại quân phải ra đi.
7 Khi nhóm hội chúng, các con cũng phải thổi kèn nhưng không thổi tiếng vang.
8 Các con trai A-rôn là những thầy tế lễ sẽ thổi những kèn ấy. Đó là quy định vĩnh viễn cho các con qua các thế hệ.
9 Khi nào trong xứ có chiến tranh và các con phải ra chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì phải thổi kèn tiếng thúc quân. Lúc ấy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con sẽ nhớ lại các con và giải cứu các con khỏi kẻ thù.
10 Trong những ngày vui mừng, trong các kỳ lễ trọng thể và ngày đầu tháng thì các con phải thổi kèn trong khi dâng những tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Trước mặt Đức Chúa Trời, tiếng kèn sẽ dùng để nhắc các con nhớ rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.”
11 Vào ngày hai mươi tháng hai của năm thứ hai, đám mây cất lên khỏi Đền Tạm Chứng Ước.
12 Từ hoang mạc Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên ra đi từng chặng cho đến khi đám mây dừng lại tại hoang mạc Pha-ran.
13 Đây là lần thứ nhất dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo lệnh Đức Giê-hô-va đã truyền qua Môi-se.
14 Ngọn cờ của trại quân Giu-đa ra đi trước, theo từng đội ngũ. Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp, chi huy quân đội Giu-đa.
15 Na-tha-na-ên, con trai Xu-a, chỉ huy quân đội của bộ tộc Y-sa-ca.
16 Ê-li-áp, con trai Hê-lôn, chỉ huy quân đội của bộ tộc Sa-bu-lôn.
17 Bấy giờ Đền Tạm đã được tháo dỡ, rồi con cháu Ghẹt-sôn và con cháu Mê-ra-ri khiêng Đền Tạm ra đi.
18 Kế đó, ngọn cờ của trại quân Ru-bên ra đi, theo từng đội ngũ. Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, chỉ huy quân đội Ru-bên.
19 Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai, chỉ huy quân đội của bộ tộc Si-mê-ôn.
20 Ê-li-sáp, con trai Đê-u-ên, chỉ huy quân đội của bộ tộc Gát.
21 Bấy giờ các người Kê-hát khiêng những vật thánh ra đi. Người ta dựng Đền Tạm trước khi họ đến.
22 Ngọn cờ của trại quân Ép-ra-im ra đi, theo đội ngũ. Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, chỉ huy quân đội Ép-ra-im.
23 Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, chi huy quân đội của bộ tộc Ma-na-se.
24 A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, chỉ huy quân đội của bộ tộc Bên-gia-min.
25 Sau cùng, ngọn cờ của trại quân Đan ra đi, theo từng đội ngũ, như đội hậu vệ của các trại quân khác. A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, chi huy quân đội Đan.
26 Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran, chi huy quân đội của bộ tộc A-se.
27 A-hi-ra, con trai Ê-nan, chỉ huy quân đội của bộ tộc Nép-ta-li.
28 Đó là trình tự mà dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo từng đội ngũ mình.
29 Môi-se nói với Hô-báp, con trai Rê-u-ên, người Ma-đi-an là anh vợ mình rằng: “Chúng tôi đi đến xứ mà Đức Giê-hô-va có phán: ‘Ta sẽ ban xứ đó cho các con.’ Xin anh hãy đi cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ đối đãi tử tế với anh vì Đức Giê-hô-va có hứa ban ơn cho dân Y-sơ-ra-ên.”
30 Hô-báp trả lời: “Tôi không đi đâu, nhưng tôi sẽ trở về xứ sở tôi là nơi quê cha đất tổ.”
31 Môi-se lại nói: “Xin anh đừng bỏ chúng tôi vì anh biết nơi nào trong hoang mạc chúng tôi có thể đóng trại được và anh sẽ như con mắt cho chúng tôi vậy.
32 Nếu anh đi cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ chia sẻ với anh mọi ơn lành mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho chúng tôi.”
33 Vậy dân Y-sơ-ra-ên khởi hành từ núi Đức Giê-hô-va trong ba ngày đường. Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi trước dân chúng trong ba ngày đường để tìm cho họ một nơi an nghỉ.
34 Ban ngày khi dân Y-sơ-ra-ên dời trại quân đi thì đám mây của Đức Giê-hô-va ở trên họ.
35 Khi Hòm Giao Ước di chuyển thì Môi-se nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin trỗi dậy để các kẻ thù Ngài bị tản lạc, Và kẻ nào ghét Ngài chạy trốn trước mặt Ngài!”
36 Khi Hòm Giao Ước dừng lại thì Môi-se nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin trở lại Với muôn vàn con dân Y-sơ-ra-ên!”
1 Bây giờ, dân chúng phàn nàn và điều đó khiến Đức Giê-hô-va không hài lòng. Đức Giê-hô-va nghe và cơn thịnh nộ Ngài nổi lên. Lửa của Đức Giê-hô-va bùng cháy trong dân chúng và thiêu hủy phần đầu của trại quân.
2 Dân chúng kêu cứu Môi-se. Môi-se cầu nguyện với Đức Giê-hô-va thì lửa dừng lại.
3 Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra vì lửa của Đức Giê-hô-va đã cháy giữa dân chúng.
4 Bọn dân tạp trong dân Y-sơ-ra-ên thèm muốn thức ăn đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên lại than khóc rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?
5 Chúng tôi nhớ cá mà chúng tôi ăn không phải trả tiền tại Ai Cập cùng với dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi.
6 Bây giờ thể xác chúng tôi hao mòn, không có gì ăn hết, chỉ thấy ma-na mà thôi.”
7 Ma-na giống như hạt ngò, màu như nhựa thông.
8 Dân chúng đi tản ra, nhặt về và nghiền bằng cối xay hay giã bằng cối giã, rồi bỏ vào nồi nấu hay làm bánh. Hương vị nó giống như bánh pha dầu.
9 Khi sương xuống ban đêm trên trại quân thì ma-na cũng xuống theo.
10 Môi-se nghe dân chúng trong các gia tộc than van, mọi người đều khóc lóc trước cửa trại mình. Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi bừng lên và Môi-se rất buồn bực về điều đó.
11 Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Sao Ngài làm khổ cho đầy tớ Ngài? Sao con không được ơn trước mặt Ngài? Sao Ngài lại chất gánh nặng cả dân tộc nầy trên con?
12 Con có mang thai dân nầy đâu? Con có sinh ra họ đâu mà Ngài bảo con: ‘Hãy bồng ẵm dân nầy trong lòng con như người vú bồng đứa trẻ đang bú, cho đến khi họ vào xứ mà Ngài đã thề hứa ban cho tổ tiên của họ?’
13 Con sẽ lấy thịt ở đâu mà phát cho cả đoàn dân nầy? Vì họ kêu khóc với con rằng: ‘Hãy cho chúng tôi ăn thịt.’
14 Con không thể một mình gánh hết dân nầy vì họ thật là một gánh nặng quá cho con!
15 Nếu Chúa đãi con như vậy và nếu con được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết con đi để con không thấy cảnh khốn nạn của con!”
16 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy họp bảy mươi người trong số trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tức là những người con nhìn nhận là các trưởng lão và nhà lãnh đạo dân chúng. Hãy dẫn họ đến Lều Hội Kiến để họ đứng tại đó với con.
17 Ta sẽ ngự xuống và nói chuyện với con tại đó. Ta sẽ lấy Thần Ta ngự trên con mà ban cho họ để họ mang gánh nặng về dân tộc nầy với con, chứ không phải con gánh một mình.
18 Con hãy bảo dân chúng rằng: ‘Ngày mai phải dọn mình thánh sạch và anh em sẽ được ăn thịt. Vì tai Đức Giê-hô-va có nghe anh em khóc than rằng “ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt” vì chúng tôi đã từng được sung sướng tại Ai Cập. Vì thế, Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho anh em và anh em sẽ được ăn thịt.
19 Không phải anh em sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay là hai mươi ngày đâu,
20 mà ăn trọn một tháng, cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi và chán ngấy, vì anh em đã chối bỏ Đức Giê-hô-va đang ngự giữa anh em và kêu khóc trước mặt Ngài rằng: “Tại sao chúng tôi lại lìa khỏi Ai Cập?”’”
21 Môi-se thưa: “Con đang đứng giữa một dân có sáu trăm nghìn đàn ông mà Ngài bảo rằng: ‘Ta sẽ phát thịt cho chúng ăn trọn một tháng.’
22 Nếu người ta giết hết chiên và bò, liệu có đủ cho họ không? Nếu người ta bắt hết cá dưới biển, liệu có đủ cho họ không?”
23 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Tay của Đức Giê-hô-va quá ngắn sao? Con hãy chờ xem điều Ta phán với con có trở thành sự thật hay không!”
24 Môi-se đi ra và thuật lại lời của Đức Giê-hô-va cho dân chúng rồi tập hợp bảy mươi trưởng lão của dân chúng chung quanh Lều Hội Kiến.
25 Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây và phán với Môi-se. Ngài lấy Thần ở trên ông mà ban cho bảy mươi trưởng lão. Khi Thần ngự trên bảy mươi trưởng lão thì họ nói tiên tri. Nhưng họ không tiếp tục nói tiên tri nữa.
26 Có hai người ở lại trong trại quân, một người tên là Ên-đát, một người tên là Mê-đát. Thần ngự trên hai người nầy. Họ có tên trong danh sách trưởng lão nhưng không đến Lều Hội Kiến. Vậy họ nói tiên tri trong trại quân.
27 Một thanh niên chạy đến báo cho Môi-se rằng: “Ên-đát và Mê-đát đang nói tiên tri trong trại quân.”
28 Giô-suê, con trai của Nun, là đầy tớ Môi-se từ thời trẻ tuổi, nói: “Thưa Môi-se, chúa tôi, xin ngăn cấm họ!”
29 Môi-se trả lời: “Có phải anh ganh tị giùm tôi không? Ôi! Ước gì tất cả con dân của Đức Giê-hô-va đều là những nhà tiên tri và Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!”
30 Môi-se và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đều trở về trại quân.
31 Bấy giờ, Đức Giê-hô-va khiến một trận gió đùa chim cút từ biển về hướng trại quân và rải chim cút chung quanh trại quân, mỗi bên rộng khoảng một ngày đường và từ mặt đất trở lên dày khoảng một mét.
32 Dân chúng đứng dậy nhặt chim cút trong ngày đó, đêm đó và cả ngày hôm sau. Ai nhặt ít nhất cũng được mười hô-me. Họ căng ra phơi chim cút chung quanh trại quân.
33 Trong khi thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi bừng lên với dân chúng và họ bị Ngài trừng phạt bằng một tai họa nặng nề.
34 Nơi nầy được đặt tên là Kíp-rốt Ha-tha-va vì tại đó người ta chôn một đám dân tham ăn.
35 Từ Kíp-rốt Ha-tha-va, dân chúng đi đến Hát-sê-rốt rồi dừng lại tại đó.
1 Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về người nữ Ê-thi-ô-pi mà ông đã cưới vì ông đã cưới một người Ê-thi-ô-pi làm vợ.
2 Hai người nói rằng: “Đức Giê-hô-va chỉ phán qua Môi-se thôi sao? Không phải Ngài cũng phán qua chúng ta nữa sao?” Đức Giê-hô-va nghe điều đó.
3 Môi-se là người rất khiêm hòa, khiêm hòa hơn hết mọi người trên thế gian.
4 Thình lình Đức Giê-hô-va phán với Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am rằng: “Cả ba người hãy đến Lều Hội Kiến.” Vậy là cả ba đều đi.
5 Đức Giê-hô-va ngự xuống trong trụ mây đứng tại cửa Lều Hội Kiến rồi gọi A-rôn và Mi-ri-am. Khi hai người đến,
6 Ngài phán: “Hãy lắng nghe lời Ta. Khi có một nhà tiên tri ở giữa các con Thì Ta là Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với người ấy trong khải tượng Và phán với người ấy trong giấc chiêm bao.
7 Nhưng với đầy tớ Ta là Môi-se thì không giống như vậy. Người thật trung tín trong cả nhà Ta.
8 Ta nói chuyện với người miệng đối miệng một cách rõ ràng, không lời bí ẩn Và người thấy hình dạng Đức Giê-hô-va. Vậy tại sao các con không sợ mà nói hành đầy tớ Ta là Môi-se?”
9 Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với hai người và Ngài lìa khỏi họ.
10 Khi đám mây lìa khỏi Lều Hội Kiến thì Mi-ri-am bị phong hủi trắng như tuyết. A-rôn quay về phía Mi-ri-am và thấy bà đã mắc bệnh phong hủi.
11 A-rôn nói với Môi-se: “Ôi, chúa tôi, xin đừng trừng phạt chúng tôi về tội lỗi mà chúng tôi đã phạm cách dại dột.
12 Xin chớ để nàng như một hài nhi sảo thai, da thịt đã bị thối rữa hết phân nửa.”
13 Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va rằng: “Đức Chúa Trời ôi! Xin chữa lành cho nàng!”
14 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nếu cha nàng phỉ nhổ trên mặt nàng, không phải nàng chịu xấu hổ trong bảy ngày sao? Nàng phải bị giữ ngoài trại quân trong bảy ngày, sau đó nàng sẽ được nhận vào lại.”
15 Như vậy, Mi-ri-am bị giữ ngoài trại quân trong bảy ngày. Dân chúng không ra đi cho đến khi Mi-ri-am được nhận vào trại quân.
16 Sau đó, dân chúng từ Hát-sê-rốt ra đi và đóng trại trong hoang mạc Pha-ran.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy sai người đi do thám đất Ca-na-an mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi bộ tộc phải gửi một người, là một trong số những người lãnh đạo của họ.”
3 Như vậy, Môi-se từ hoang mạc Pha-ran sai họ ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Tất cả đều là những thủ lĩnh của dân Y-sơ-ra-ên.
4 Đây là tên của các người ấy: Về bộ tộc Ru-bên, có Sam-mua, con trai Xa-cu;
5 về bộ tộc Si-mê-ôn, có Sa-phát, con trai của Hô-ri;
6 về bộ tộc Giu-đa, có Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê;
7 về bộ tộc Y-sa-ca, có Di-ganh, con trai của Giô-sép;
8 về bộ tộc Ép-ra-im, có Hô-sê con trai của Nun;
9 về bộ tộc Bên-gia-min, có Phan-thi, con trai của Ra-phu;
10 về bộ tộc Sa-bu-lôn, có Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi;
11 về bộ tộc Giô-sép (tức là bộ tộc Ma-na-se) có Ga-đi, con trai của Su-si;
12 về bộ tộc Đan, có A-mi-ên, con trai của Ghê-ma-li;
13 về bộ tộc A-se, có Sê-thu, con trai của Mi-ca-ên;
14 về bộ tộc Nép-ta-li, có Nách-bi, con trai của Vấp-si;
15 về bộ tộc Gát, có Gu-ên, con trai của Ma-ki.
16 Đó là tên những người mà Môi-se sai đi do thám xứ. Môi-se đặt tên cho Hô-sê, con trai Nun, là Giô-suê.
17 Khi sai người đi do thám đất Ca-na-an, Môi-se dặn rằng: “Hãy đi lên Nê-ghép, vào miền đồi núi,
18 và xem vùng đất ấy ra sao, người ở đó mạnh hay yếu, ít hay nhiều,
19 xứ sở dân đó tốt hay xấu; các thành dân đó ở như thế nào, có vách thành kiên cố hay chỉ là những trại quân, không tường vách;
20 đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay là không. Hãy can đảm, và mang về một ít trái cây của xứ đó.” Bấy giờ là đầu mùa nho.
21 Vậy những người ấy đi lên do thám xứ từ hoang mạc Xin cho đến Rê-hốp gần Ha-mát.
22 Họ đi lên Nê-ghép, đến thành Hếp-rôn là nơi có A-hi-man, Sê-sai và Thanh-mai, con cháu A-nác. Thành Hếp-rôn xây trước thành Xô-an của Ai Cập bảy năm.
23 Họ đến khe Ếch-côn, tại đó cắt một cành nho có vỏn vẹn một chùm nho mà phải hai người dùng đòn mới khiêng nổi. Họ cũng mang về những trái lựu và trái vả.
24 Người ta gọi chỗ nầy là khe Ếch-côn vì có chùm nho mà dân Y-sơ-ra-ên đã cắt tại đó.
25 Họ đi do thám xứ trong bốn mươi ngày và trở về.
26 Những người đi do thám đến với Môi-se, A-rôn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc Pha-ran tại Ca-đe và thuật lại mọi điều cho hai người và cả hội chúng nghe, cùng đưa cho xem hoa quả của xứ ấy.
27 Các người ấy thuật cho Môi-se rằng: “Chúng tôi đi đến vùng đất mà các ông đã sai chúng tôi đi. Đó quả là một vùng đất đượm sữa và mật; đây là hoa quả của nó.
28 Tuy nhiên, dân ở trong xứ nầy khỏe mạnh, thành trì vững chắc và rộng lớn. Chúng tôi cũng có thấy con cháu A-nác ở đó.
29 Dân A-ma-léc ở Nê-ghép; dân Hê-tít, dân Giê-bu-sít và dân A-mô-rít ở vùng đồi núi; dân Ca-na-an ở gần biển và dọc theo mé sông Giô-đanh.”
30 Lúc ấy, Ca-lép làm cho dân chúng đang cằn nhằn với Môi-se phải im lặng khi ông nói: “Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì chúng ta có thể thắng được.”
31 Nhưng các người đi với Ca-lép nói rằng: “Chúng ta không thể đi lên chống cự nổi dân nầy vì chúng mạnh hơn ta.”
32 Họ phúc trình cho dân Y-sơ-ra-ên về vùng đất đã do thám một cách bất lợi khi nói rằng: “Vùng đất mà chúng tôi đã do thám là một vùng đất ăn nuốt dân mình. Tất cả những người chúng tôi đã thấy tại đó đều là những người cao lớn.
33 Chúng tôi đã thấy những người cao lớn ấy, tức là con cháu của A-nác, là giống dân khổng lồ ở đó. Chúng tôi thấy mình như con cào cào và chúng thấy chúng tôi cũng vậy.”
1 Cả hội chúng cất tiếng la lớn; dân chúng khóc than trong đêm đó,
2 Tất cả dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn với Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói với hai ông: “Phải chi chúng tôi chết trong đất Ai Cập hay chết trong hoang mạc nầy cho rồi!
3 Tại sao Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào đất nầy để ngã chết bởi gươm? Vợ con chúng tôi sẽ bị giặc bắt đi. Chúng tôi quay trở lại Ai Cập không tốt hơn sao?”
4 Rồi họ nói với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo và trở về Ai Cập.”
5 Môi-se và A-rôn sấp mình xuống trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.
6 Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là hai trong số những người đi do thám xứ, xé áo quần mình.
7 Hai người nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: “Đất mà chúng tôi đã đi do thám thật là một vùng đất tốt.
8 Nếu Đức Giê-hô-va hài lòng về chúng ta, Ngài sẽ đem chúng ta vào đó và ban cho chúng ta vùng đất đượm sữa và mật ấy.
9 Chỉ cần một điều là anh em chớ nổi loạn với Đức Giê-hô-va và đừng sợ hãi dân xứ đó vì chúng sẽ làm đồ ăn cho chúng ta. Chúng không được che chở, bảo vệ nữa nhưng Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta. Đừng sợ chúng!”
10 Bấy giờ cả hội chúng đòi ném đá hai người nhưng vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trong Lều Hội Kiến trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
11 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: “Dân nầy khinh Ta và không tin Ta cho đến chừng nào, mặc dù Ta đã làm nhiều phép lạ giữa họ?
12 Ta sẽ giáng dịch bệnh trên họ và tiêu diệt họ, nhưng Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn hơn và mạnh hơn họ.”
13 Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Dân Ai Cập sẽ nghe việc nầy vì Chúa đã dùng quyền năng đem dân nầy ra khỏi Ai Cập,
14 và chúng sẽ thuật điều đó cho dân xứ mình. Lạy Đức Giê-hô-va, dân Ai Cập đã biết rằng Chúa ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên và hiện ra cho họ thấy tận mắt. Trụ mây Chúa ở trên dân nầy và Ngài đi trước họ, ban ngày trong trụ mây, ban đêm trong trụ lửa.
15 Nếu Chúa giết hết dân nầy như giết một người thì các nước đã nghe nói về Chúa sẽ nói rằng:
16 ‘Đức Giê-hô-va không thể dẫn dân nầy vào đất mà Ngài đã thề hứa cho họ; do đó Ngài đã giết họ trong hoang mạc.’
17 Vì thế, bây giờ con xin quyền năng của Chúa bày tỏ cách oai nghiêm như Chúa đã phán rằng:
18 ‘Đức Giê-hô-va chậm nóng giận, Và đầy lòng thương xót, Tha thứ tội lỗi và sự phản nghịch, Nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, Và phạt con cháu ba bốn đời Vì tội của cha ông.’
19 Con xin Chúa tha thứ tội lỗi cho dân nầy tùy theo ơn thương xót lớn lao của Chúa, như Ngài đã bao lần tha thứ cho họ từ khi rời khỏi Ai Cập đến nay.”
20 Đức Giê-hô-va đáp: “Ta đã tha thứ cho họ theo lời con cầu xin.
21 Nhưng, Ta lấy sự sống và vinh quang đầy dẫy khắp đất của Ta là Đức Giê-hô-va mà quả quyết rằng:
22 tất cả những người đã thấy vinh quang và phép lạ Ta đã làm tại Ai Cập và trong hoang mạc rồi, nhưng đã thử Ta mười lần, cũng như không vâng lời Ta,
23 thì chẳng một ai trong họ sẽ thấy xứ mà Ta đã thề hứa ban cho ông cha họ. Không người nào khinh thường Ta mà được thấy xứ đó.
24 Nhưng vì đầy tớ Ta là Ca-lép không đồng tình với họ mà theo Ta một cách trung tín nên Ta sẽ đem người vào xứ mà người đã do thám; dòng dõi người sẽ được xứ ấy làm sản nghiệp.
25 Vì dân A-ma-léc và dân Ca-na-an đang ở trong các thung lũng, nên ngày mai các con hãy quay trở lại và đi vào hoang mạc, về hướng Biển Đỏ.”
26 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
27 “Hội chúng hung dữ nầy cứ phàn nàn với Ta cho đến chừng nào? Ta đã nghe dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn oán trách Ta.
28 Hãy nói với họ rằng ‘Đức Giê-hô-va phán: Ta lấy sự sống Ta mà quả quyết rằng Ta sẽ làm cho các con đúng như lời Ta đã nghe các con phàn nàn:
29 thây các con sẽ ngã chết trong hoang mạc. Tất cả những người đã được kiểm tra từ hai mươi tuổi trở lên, là những kẻ đã cằn nhằn với Ta,
30 sẽ không được vào xứ mà Ta đã thề ban cho các con, ngoại trừ Ca-lép con trai của Giê-phu-nê và Giô-suê, con trai của Nun.
31 Nhưng Ta sẽ đem vào xứ đó những đứa con nhỏ đó mà các con nói rằng chúng sẽ bị giặc bắt đem đi, và chúng sẽ vui hưởng xứ mà các con đã khinh bỏ.
32 Còn các con sẽ phải bỏ thây trong hoang mạc nầy.
33 Con cái các con sẽ chăn chiên nơi hoang mạc trong bốn mươi năm và sẽ mang hình phạt về tội bất trung của các con cho đến chừng người cuối cùng của các con ngã chết trong hoang mạc.
34 Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, tức là bốn mươi ngày, thì các con cũng sẽ mang hình phạt vì tội lỗi mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, mỗi ngày phải đền một năm. Bấy giờ các con sẽ hiểu sự trừng phạt của Ta như thế nào.
35 Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán: Chắc chắn Ta sẽ thi hành những điều ấy cho cả hội chúng độc ác nầy. Họ đã liên kết với nhau để chống lại Ta, nên họ sẽ bị tiêu hao và hủy diệt trong hoang mạc nầy.’”
36 Những người mà Môi-se sai đi do thám xứ trở về đã làm cho cả hội chúng phàn nàn vì tường trình bất lợi về đất hứa,
37 thì họ bị trừng phạt bằng một tai vạ và đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
38 Nhưng trong những người đi do thám xứ chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, được sống mà thôi.
39 Môi-se thuật lại những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên và họ khóc lóc thảm thiết.
40 Họ dậy sớm đi lên đỉnh núi mà nói rằng: “Chúng tôi sẽ đi đến chỗ Đức Giê-hô-va đã phán hứa vì chúng tôi đã phạm tội.”
41 Nhưng Môi-se nói: “Sao anh em làm trái lệnh của Đức Giê-hô-va? Việc nầy sẽ không thành công đâu.
42 Đừng đi lên đó, e anh em bị quân thù đánh bại, vì Đức Giê-hô-va không còn ở giữa anh em nữa.
43 Kìa, dân A-ma-léc và dân Ca-na-an đang ở trước mặt anh em; anh em sẽ bị ngã gục dưới lưỡi gươm của chúng. Vì anh em đã phản bội Đức Giê-hô-va nên Ngài sẽ không ở cùng anh em nữa.”
44 Nhưng họ ngoan cố cứ đi lên đỉnh núi mặc dù Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va cũng như Môi-se không ra khỏi trại quân.
45 Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an sống trong vùng đồi núi đổ xuống đánh tan tác dân Y-sơ-ra-ên và truy đuổi họ đến tận Họt-ma.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con vào ở trong xứ mà Ta ban cho các con,
3 và khi các con dâng bò hay chiên như một tế lễ dâng bằng lửa, có hương thơm lên Đức Giê-hô-va, hoặc tế lễ thiêu, hoặc sinh tế để hoàn nguyện hoặc tế lễ lạc ý, hoặc tế lễ trong những kỳ lễ hội,
4 thì cũng phải dâng lên Đức Giê-hô-va một tế lễ chay bằng hai lít bột lọc nhồi với một lít dầu.
5 Cứ mỗi con chiên dùng làm tế lễ thiêu hay tế lễ khác, con phải dâng một lít rượu làm lễ quán.
6 Nếu sinh tế là con chiên đực thì phải kèm theo một tế lễ chay bằng bốn lít bột lọc nhồi với hơn một lít dầu,
7 đồng thời dùng hơn một lít rượu làm lễ quán, có hương thơm dâng lên Đức Giê-hô-va.
8 Khi dâng một con bò tơ làm tế lễ thiêu hoặc sinh tế hoàn nguyện hay tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va
9 thì phải dâng chung với con bò tơ một tế lễ chay bằng sáu lít bột lọc nhồi với hai lít dầu
10 và dâng hai lít rượu làm lễ quán. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm lên Đức Giê-hô-va.
11 Người ta cũng sẽ làm như vậy cho mỗi con bò đực, mỗi con chiên đực, mỗi con chiên con hay mỗi con dê con.
12 Tùy theo số sinh tế sẽ dâng mà chuẩn bị theo cách ấy cho mỗi con.
13 Mỗi người được sinh ra trong xứ đều phải làm như vậy khi dùng lửa dâng một tế lễ có hương thơm lên Đức Giê-hô-va.
14 Nếu một ngoại kiều sống giữa anh em hay là một người nào khác ở giữa anh em từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, dùng lửa dâng một tế lễ có hương thơm lên Đức Giê-hô-va thì cũng phải làm đúng như cách anh em đã làm.
15 Trong hội chúng, chỉ có một luật lệ chung áp dụng cho các con và cho cả ngoại kiều sống giữa các con. Đó là một quy định đời đời cho mọi thế hệ. Các con và ngoại kiều đều như nhau trước mặt Đức Giê-hô-va.
16 Sẽ có một luật pháp và một quy định như nhau cho các con và cho ngoại kiều sống giữa các con.’”
17 Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se:
18 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi nào các con vào xứ mà Ta sẽ dẫn các con vào
19 và ăn bánh của xứ đó thì các con phải dâng theo cách đưa lên một lễ vật cho Đức Giê-hô-va.
20 Từ bột nhồi đầu tiên của các con, các con phải làm một cái bánh nhỏ và dâng theo cách đưa lên. Các con phải dâng như dâng một lễ vật từ sân đập lúa.
21 Từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, các con phải dâng theo cách đưa lên cho Đức Giê-hô-va một lễ vật bằng bột nhồi đầu tiên của các con.’”
22 “‘Khi các con vô ý phạm tội, không giữ tất cả các điều răn mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se,
23 tức là mọi điều Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền phán cho các con từ ngày Đức Giê-hô-va ban những điều răn nầy và từ đó về sau qua các thế hệ,
24 nếu hội chúng vô ý phạm tội mà không hay biết thì cả hội chúng theo luật định phải dùng một con bò đực tơ làm tế lễ thiêu có hương thơm dâng lên Đức Giê-hô-va, luôn với tế lễ chay cùng lễ quán cặp theo và một con dê đực làm tế lễ chuộc tội.
25 Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên; họ sẽ được tha thứ vì đó là tội lỗi không cố ý và vì hội chúng đã đem đến trước mặt Đức Giê-hô-va một tế lễ, tức là một tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va, cùng với tế lễ chuộc tội, để chuộc lỗi lầm của mình.
26 Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên và ngoại kiều sống giữa họ sẽ được tha tội vì cả dân chúng đều liên lụy đến tội không cố ý nầy.
27 Nhưng nếu chỉ một người vô ý phạm tội thì người đó phải dâng một con dê cái một tuổi làm tế lễ chuộc tội.
28 Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người vô ý phạm tội trước mặt Đức Giê-hô-va; khi đã làm lễ chuộc tội cho người ấy rồi thì người ấy sẽ được tha thứ.
29 Chỉ có một luật lệ chung áp dụng cho bất cứ người nào phạm tội không cố ý, bất luận là con dân Y-sơ-ra-ên hay là kiều dân sống giữa họ.
30 Nhưng ai cố ý phạm tội, dù là dân bản xứ hay ngoại kiều thì người đó xúc phạm đến Đức Giê-hô-va và sẽ bị khai trừ khỏi con dân Ngài.
31 Bởi vì người ấy đã khinh thường lời Đức Giê-hô-va, vi phạm điều răn của Ngài nên bị khai trừ; tội lỗi của người ấy đổ lại trên chính người ấy.’”
32 Khi dân Y-sơ-ra-ên đang ở tại hoang mạc, người ta bắt gặp một người lượm củi trong ngày sa-bát.
33 Những người bắt gặp người đang lượm củi nầy dẫn anh ta đến Môi-se, A-rôn và cả hội chúng.
34 Họ bắt giam anh ta vì không biết phải xử lý như thế nào.
35 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Người nầy phải bị xử tử. Cả hội chúng phải ném đá nó ngoài trại quân.”
36 Như vậy, cả hội chúng đem người ra ngoài trại quân mà ném đá; người chết đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
37 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
38 “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên và bảo họ rằng: ‘Từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, hãy làm một cái tua nơi các chéo áo mình; trên mỗi tua kết một sợi dây màu điều.
39 Các con phải mang cái tua nầy để khi nhìn thấy nó, các con nhớ lại tất cả điều răn của Đức Giê-hô-va mà vâng theo, chứ không theo tư dục của lòng và mắt mình, là điều làm cho các con sa vào tà dâm.
40 Như vậy, các con sẽ nhớ lại và làm theo mọi điều răn của Ta và như vậy, các con sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời của các con.
41 Chính Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các con. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
1 Cô-ra, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, lôi kéo Đa-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, và Ôn, con trai của Phê-lết, cháu Ru-bên,
2 nổi lên chống lại Môi-se. Cùng với họ có hai trăm năm mươi người trong dân Y-sơ-ra-ên vốn là những thủ lĩnh của hội chúng, là những người được tuyển chọn và có danh tiếng;
3 họ cấu kết với nhau chống lại Môi-se và A-rôn. Họ tố cáo: “Các người quá lắm rồi! Vì cả hội chúng đều là thánh và Đức Giê-hô-va đang ngự giữa chúng ta. Vậy tại sao các người tự nhấc mình lên trên hội chúng của Đức Giê-hô-va?”
4 Môi-se nghe điều đó thì sấp mặt xuống đất,
5 và nói với Cô-ra cùng tất cả những người theo ông rằng: “Sáng mai, Đức Giê-hô-va sẽ tỏ cho biết ai thuộc về Ngài và ai là thánh, và Ngài sẽ khiến người đó lại gần Ngài; người nào Ngài chọn sẽ được đến gần Ngài.
6 Hỡi Cô-ra, hãy làm điều nầy: Ngươi và tất cả những người theo ngươi hãy cầm lư hương;
7 sáng mai, trước mặt Đức Giê-hô-va, hãy bỏ lửa vào lư hương và bỏ hương liệu lên trên. Người nào mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn lựa ấy là người thánh. Hỡi con cháu Lê-vi, thôi đủ rồi!”
8 Môi-se nói với Cô-ra: “Hỡi con cháu Lê-vi, hãy nghe đây!
9 Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt riêng anh em khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên, và đem anh em đến gần Ngài để làm công việc trong Đền Tạm của Đức Giê-hô-va và phục vụ trước mặt hội chúng. Việc ấy anh em cho là nhỏ mọn sao?
10 Ngài cho phép anh và tất cả anh em của anh là con cháu Lê-vi đến gần Ngài, nhưng anh em lại còn đòi chức tế lễ nữa sao?
11 Vì thế, anh và tất cả những người theo anh hiệp lại để chống Đức Giê-hô-va! A-rôn là ai mà anh em cằn nhằn với người?”
12 Môi-se sai người gọi Đa-than và A-bi-ram, con trai Ê-li-áp, nhưng hai người đó nói: “Chúng tôi không đi lên đâu!
13 Ông đã đem chúng tôi ra khỏi xứ đượm sữa và mật để chết trong hoang mạc chưa đủ sao mà ông còn muốn làm vua làm chúa trên chúng tôi nữa?
14 Hơn nữa, ông không dẫn chúng tôi vào một xứ đượm sữa và mật, cũng không cho chúng tôi đồng ruộng hay là vườn nho làm sản nghiệp. Ông toan khoét mắt dân nầy chăng? Chúng tôi không đi lên đâu!”
15 Môi-se giận lắm và thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Xin Chúa đừng chấp nhận tế lễ của họ nữa. Con không bắt một con lừa nào của họ và cũng không làm hại một ai trong bọn họ.”
16 Môi-se nói với Cô-ra: “Ngày mai, anh cùng tất cả những người theo anh, và A-rôn, hãy ra mắt Đức Giê-hô-va.
17 Mỗi người hãy cầm lư hương và bỏ hương liệu vào, rồi mỗi người dâng lư hương mình trước mặt Đức Giê-hô-va, tức là hai trăm năm mươi lư hương. Anh và A-rôn, cũng phải có lư hương.”
18 Vậy mỗi người lấy lư hương bỏ lửa vào và bỏ hương liệu lên trên, rồi đứng tại cửa Lều Hội Kiến cùng với Môi-se và A-rôn.
19 Cô-ra họp cả hội chúng để chống lại Môi-se và A-rôn tại cửa Lều Hội Kiến. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng toàn thể hội chúng.
20 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn rằng:
21 “Hãy tách khỏi hội chúng nầy, Ta sẽ tiêu diệt chúng trong giây lát.”
22 Hai người sấp mặt xuống và nói: “Lạy Chúa là Đức Chúa Trời ban hơi thở cho mọi loài xác thịt! Chỉ có một người phạm tội mà Ngài lại nổi giận với cả hội chúng sao?”
23 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
24 “Hãy bảo hội chúng tránh xa khu vực nơi Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram ở.”
25 Môi-se đứng dậy đi về phía Đa-than và A-bi-ram; các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đi theo ông.
26 Ông nói với hội chúng rằng: “Bây giờ, hãy tránh xa trại của những kẻ hung ác nầy và chớ đụng đến vật gì thuộc về họ, kẻo anh em sẽ chết vì tội của họ chăng.”
27 Vậy dân chúng tránh xa khỏi chỗ ở của Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram ra đứng tại cửa trại với vợ con và cháu chắt mình.
28 Môi-se nói: “Nhờ điều nầy, anh em sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va có sai tôi làm tất cả các điều ấy chứ không tự ý tôi.
29 Nếu những người nầy chết như mọi người khác, hoặc nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người thì Đức Giê-hô-va không sai tôi.
30 Nhưng nếu Đức Giê-hô-va làm một việc mới lạ; nếu đất hả miệng ra nuốt họ cùng mọi vật thuộc về họ, và nếu họ còn đang sống mà xuống âm phủ thì anh em sẽ biết rằng những người nầy đã xúc phạm đến Đức Giê-hô-va.”
31 Khi Môi-se vừa dứt lời thì đất ngay dưới chân họ nứt ra,
32 hả miệng nuốt họ, gia quyến và tất cả những người theo Cô-ra cùng tài sản của họ.
33 Những người đó còn đang sống mà xuống âm phủ cùng với mọi vật thuộc về họ; đất lấp lại và họ bị tiêu diệt khỏi hội chúng.
34 Cả Y-sơ-ra-ên ở chung quanh nghe tiếng họ kêu la thì chạy trốn, vì nói rằng: “Hãy coi chừng kẻo đất nuốt chúng ta nữa đó!”
35 Rồi một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa hai trăm năm mươi người đã dâng hương.
36 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
37 “Hãy bảo Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, lượm các lư hương từ chỗ lửa cháy và đổ lửa trong các lư hương nơi xa, vì chúng đã được thánh hóa.
38 Còn các lư hương của những người vì phạm tội mà phải mất mạng thì hãy lấy dát thành những tấm mỏng để bọc bàn thờ, vì các lư hương đó đã dâng trước mặt Đức Giê-hô-va và đã được thánh hóa. Hãy để những tấm dát ấy làm một dấu hiệu cho dân Y-sơ-ra-ên.”
39 Vậy thầy tế lễ Ê-lê-a-sa lấy những lư hương bằng đồng của các người bị thiêu hóa khi dâng lễ và sai làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ.
40 Điều nầy nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng không người nào, ngoại trừ dòng A-rôn, được phép đến gần để xông hương trước mặt Đức Giê-hô-va; nếu không, người ấy sẽ đồng số phận với Cô-ra và những người theo ông ấy, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se.
41 Ngày mai, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên cằn nhằn chống lại Môi-se và A-rôn. Họ nói: “Các người đã giết con dân của Đức Giê-hô-va!”
42 Khi đang hiệp nhau chống lại Môi-se và A-rôn, hội chúng nhìn về phía Lều Hội Kiến, thấy đám mây bao phủ Lều và vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra.
43 Môi-se và A-rôn đến đứng trước Lều Hội Kiến,
44 và Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
45 “Hãy tránh xa hội chúng nầy, Ta sẽ tiêu diệt họ trong giây lát.” Nhưng hai người sấp mặt xuống đất,
46 rồi Môi-se bảo A-rôn rằng: “Anh hãy lấy lư hương bỏ lửa từ bàn thờ vào và bỏ hương liệu lên trên, rồi mau mau đi đến hội chúng mà làm lễ chuộc tội cho họ, vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên và tai họa đã bắt đầu.”
47 A-rôn làm như Môi-se đã bảo và chạy đến giữa hội chúng. Kìa, tai họa đã phát khởi giữa dân chúng. A-rôn dâng hương và làm lễ chuộc tội cho dân chúng.
48 Ông đứng giữa kẻ chết và người sống thì tai họa liền dừng lại.
49 Có mười bốn nghìn bảy trăm người chết vì tai họa nầy, không kể số người chết trong vụ Cô-ra.
50 Khi tai họa dừng lại thì A-rôn trở lại với Môi-se nơi Lều Hội Kiến.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: Mỗi bộ tộc phải đem nộp một cây gậy, nghĩa là mười hai cây gậy. Hãy viết tên mỗi thủ lĩnh trên cây gậy của họ.
3 Cũng viết tên A-rôn trên cây gậy của Lê-vi, vì phải có một cây gậy cho mỗi trưởng bộ tộc.
4 Con phải để các gậy đó trong Lều Hội Kiến trước Hòm Chứng Ước, nơi Ta gặp các con.
5 Nếu người nào Ta chọn thì cây gậy người đó sẽ trổ hoa. Như thế, Ta sẽ làm câm nín những tiếng cằn nhằn của dân Y-sơ-ra-ên chống lại con.”
6 Môi-se nói lại với dân Y-sơ-ra-ên, và tất cả các thủ lĩnh tùy theo bộ tộc mình đem nộp cho ông mỗi người một cây gậy, tức là mười hai cây. Gậy của A-rôn ở giữa các cây gậy khác.
7 Môi-se đặt những gậy đó trong Lều Chứng Ước trước mặt Đức Giê-hô-va.
8 Hôm sau, khi Môi-se vào Lều Chứng Ước thì thấy cây gậy A-rôn thuộc nhà Lê-vi đã đâm chồi; không những đâm chồi mà còn trổ hoa và ra trái hạnh nhân chín.
9 Môi-se rút tất cả cây gậy trước mặt Đức Giê-hô-va và đưa cho cả dân Y-sơ-ra-ên xem. Họ đều thấy và mỗi người lấy cây gậy của mình về.
10 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đem cây gậy của A-rôn đặt lại trước Hòm Chứng Ước để giữ làm một dấu hiệu cảnh cáo về sự nổi loạn. Con phải làm câm nín những lời cằn nhằn chống lại Ta kẻo họ phải chết chăng.”
11 Môi-se làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
12 Dân Y-sơ-ra-ên nói với Môi-se rằng: “Nầy chúng tôi bị diệt, chúng tôi bị chết, chúng tôi chết hết!
13 Ai đến gần Đền Tạm của Đức Giê-hô-va sẽ chết. Không lẽ chúng tôi sẽ chết hết sao?”
1 Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Con, các con trai của con, gia tộc con cùng với con phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi liên quan đến Nơi Thánh; riêng con, các con trai của con cùng với con phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi liên quan đến chức tế lễ.
2 Cũng hãy đem các anh em con thuộc bộ tộc Lê-vi, tức bộ tộc của ông cha con, đến với con để phụ giúp con trong khi con và các con trai con phục vụ trước Lều Chứng Ước.
3 Họ sẽ chịu trách nhiệm trước con về mọi công việc thuộc về Lều, nhưng không được đến gần những vật trong Nơi Thánh hoặc bàn thờ, kẻo họ và con phải chết chăng.
4 Vậy họ sẽ cộng tác với con coi sóc Lều Hội Kiến và làm công việc trong Lều; người ngoại không được đến gần các con.
5 Các con phải coi sóc công việc thuộc về Nơi Thánh và bàn thờ để cơn thịnh nộ không giáng trên dân Y-sơ-ra-ên nữa.
6 Nầy, chính Ta đã chọn anh em các con là những người Lê-vi trong dân Y-sơ-ra-ên và ban cho các con, vì họ đã được dâng cho Đức Giê-hô-va để làm công việc nơi Lều Hội Kiến.
7 Nhưng con và các con trai con phải thận trọng thi hành chức tế lễ trong tất cả các việc liên quan đến bàn thờ và phía trong màn. Ta cho các con thi hành chức tế lễ như một đặc ân. Người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử.”
8 Đức Giê-hô-va lại phán với A-rôn: “Nầy, Ta giao cho con trông coi các lễ vật của Ta, tức là tất cả những tế lễ thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng. Ta ban những lễ vật ấy cho con và cho các con trai của con như là phần riêng của chức tế lễ theo luật vĩnh viễn.
9 Đây là phần của con trích từ các vật rất thánh không bị thiêu hóa mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Ta: Tất cả lễ vật của họ, tế lễ chay, tế lễ chuộc tội, tế lễ chuộc sự mắc lỗi. Những vật rất thánh đó đều thuộc về con và các con trai của con.
10 Con phải ăn phần ấy như là một vật rất thánh; mọi người nam phải ăn và phần ấy sẽ là một vật thánh đối với con.
11 Các lễ vật nầy cũng sẽ thuộc về con: Tức là tế lễ và mọi lễ vật dân Y-sơ-ra-ên dâng đưa qua đưa lại thì Ta ban cho con và các con trai, con gái của con như một luật vĩnh viễn. Tất cả những người tinh sạch trong nhà con sẽ được ăn các món đó.
12 Ta cũng ban cho con những lễ vật đầu mùa mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va, tức là tất cả các phần dầu, rượu nho và lúa miến hạng nhất.
13 Mọi hoa quả đầu mùa của đất mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va đều sẽ thuộc về con. Tất cả những người tinh sạch trong nhà con sẽ được ăn các vật ấy.
14 Tất cả vật gì mà dân Y-sơ-ra-ên hiến dâng sẽ thuộc về con.
15 Mọi con đầu lòng của người hoặc súc vật mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va đều sẽ thuộc về con. Nhưng con phải chuộc lại con đầu lòng của loài người và con đầu lòng của thú vật không thanh sạch.
16 Về giá chuộc lại, con phải chuộc lại những con từ một tháng trở lên và định giá là năm mươi lăm gam bạc, theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ bằng hai mươi ghê-ra.
17 Nhưng con đừng chuộc lại con đầu lòng của bò cái hoặc chiên cái hoặc dê cái; chúng là những vật thánh. Con phải rưới huyết chúng trên bàn thờ và xông mỡ làm tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
18 Thịt của chúng sẽ thuộc về con, cũng như cái ức dâng đưa qua đưa lại và cái đùi bên phải đều thuộc về con.
19 Tất cả lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng lên Đức Giê-hô-va, thì Ta ban cho con, các con trai và các con gái con như một luật vĩnh viễn. Đó là một giao ước bằng muối đời đời trước mặt Đức Giê-hô-va cho con và cho dòng dõi con.”
20 Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Con sẽ không có cơ nghiệp trong đất nầy và cũng không có phần giữa dân đó; chính Ta là phần của con và là cơ nghiệp của con giữa dân Y-sơ-ra-ên.
21 Còn về con cháu Lê-vi, nầy Ta đã ban mọi thuế phần mười của Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp để trả cho công khó họ làm trong Lều Hội Kiến.
22 Từ nay trở đi, dân Y-sơ-ra-ên không được đến gần Lều Hội Kiến, kẻo mắc tội và chết chăng.
23 Nhưng người Lê-vi sẽ làm công việc của Lều Hội Kiến và sẽ chịu trách nhiệm về tội lỗi của họ. Họ sẽ không có phần cơ nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên. Đó là một luật vĩnh viễn trải qua các thế hệ.
24 Vì Ta đã ban cho người Lê-vi các phần mười của dân Y-sơ-ra-ên, là tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va, làm cơ nghiệp. Cho nên, Ta đã phán về họ rằng: ‘Họ sẽ không có cơ nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên.’”
25 Rồi Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
26 “Con cũng phải truyền bảo người Lê-vi rằng: ‘Khi nào các con nhận từ dân Y-sơ-ra-ên phần mười mà Ta đã ban cho các con làm cơ nghiệp, thì các con phải lấy một phần mười của phần mười đó làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va.
27 Tế lễ mà các con dâng sẽ được kể như lúa mì nơi sân đập lúa và như rượu nho dư dật nơi hầm ép rượu.
28 Như thế, trong những phần mười mà các con nhận nơi dân Y-sơ-ra-ên thì cũng phải lấy ra một phần mười làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va và giao lễ vật của Đức Giê-hô-va đó cho thầy tế lễ A-rôn.
29 Trong tất cả những lễ vật nhận được, các con phải lấy ra tất cả phần tốt nhất từ mọi lễ vật biệt ra thánh mà dâng lên Đức Giê-hô-va.’
30 Con cũng bảo người Lê-vi rằng: ‘Khi nào các con dâng phần tốt nhất của phần mười thì sẽ được kể cho các con là người Lê-vi như hoa lợi của sân đập lúa và như hoa lợi của hầm ép rượu vậy.
31 Các con và gia quyến các con có thể ăn các lễ vật ấy nơi nào cũng được, vì là phần thưởng cho công khó phục vụ trong Lều Hội Kiến.
32 Vì lý do ấy, khi các con dâng lên phần tốt nhất, các con sẽ không mắc tội, cũng không làm ô uế những vật thánh của dân Y-sơ-ra-ên, và các con sẽ khỏi phải chết.’”
1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn:
2 “Đây là quy định của luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán: ‘Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên, bảo họ mang đến con một con bò cái màu đỏ không tật nguyền, không tì vết và chưa mang ách.
3 Rồi giao nó cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa; người ta dẫn nó ra ngoài trại quân và giết trước mặt ông.
4 Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa sẽ dùng ngón tay nhúng huyết nó rảy bảy lần phía trước cửa Lều Hội Kiến.
5 Người ta sẽ thiêu con bò cái đó trước mắt ông; thiêu cả da, thịt, huyết và phân của nó.
6 Kế đó, thầy tế lễ sẽ lấy gỗ bá hương, cành bài hương và chỉ len đỏ sậm ném vào giữa đám lửa đang thiêu bò cái.
7 Sau đó, thầy tế lễ phải giặt áo quần và tắm mình trong nước rồi mới được vào trại quân. Nhưng thầy tế lễ phải bị ô uế đến chiều tối.
8 Người nào thiêu con bò cái phải giặt áo quần, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
9 Một người tinh sạch sẽ hốt tro của con bò cái đổ ở ngoài trại quân, nơi tinh sạch. Người ta phải giữ tro đó cho hội chúng Y-sơ-ra-ên để dùng làm nước tẩy uế, vì là một tế lễ thanh tẩy tội lỗi.
10 Kẻ nào hốt tro của con bò cái phải giặt áo quần mình và bị ô uế đến chiều tối. Đây sẽ là một luật vĩnh viễn cho dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều sống giữa họ.
11 Ai đụng đến xác chết của người nào đó thì sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
12 Ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người ấy phải dùng nước tẩy uế thanh tẩy mình thì sẽ được tinh sạch. Còn nếu ngày thứ ba và ngày thứ bảy mà người ấy không thanh tẩy mình thì chưa được tinh sạch.
13 Người nào đụng đến xác chết của ai đó mà không thanh tẩy mình thì sẽ làm ô uế Đền Tạm của Đức Giê-hô-va và sẽ bị khai trừ khỏi Y-sơ-ra-ên. Vì nước tẩy uế không được rảy trên mình nên người ấy vẫn bị ô uế; sự ô uế vẫn còn trên người ấy.’”
14 “‘Đây là luật phải giữ khi có một người chết trong trại: Bất kỳ ai vào trại và mọi vật ở trong trại đều sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
15 Bình nào không đậy, không buộc nắp lại thì bị ô uế.
16 Ai ở ngoài đồng đụng vào một người bị gươm giết hoặc một xác chết hoặc hài cốt hay mồ mả thì sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
17 Để thanh tẩy người bị ô uế, người ta phải lấy tro của con sinh tế bị thiêu trong tế lễ thanh tẩy tội lỗi để trong một cái bình và pha với nước lấy ngoài sông hay suối.
18 Một người tinh sạch sẽ lấy cành bài hương nhúng vào nước ấy rồi rảy trên trại, trên đồ đạc, trên những người có mặt tại đó và trên người nào đã đụng vào hài cốt hoặc người bị giết hoặc xác chết hoặc mồ mả.
19 Vào ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người tinh sạch phải rảy nước ấy trên người bị ô uế và ngày thứ bảy người tinh sạch sẽ thanh tẩy cho người ấy. Người được tẩy uế phải giặt áo quần, tắm trong nước và đến chiều tối mới được tinh sạch.
20 Còn người nào bị ô uế mà không được thanh tẩy, thì người ấy sẽ bị khai trừ khỏi hội chúng, vì người đã làm ô uế Nơi Thánh của Đức Giê-hô-va. Vì không được rảy nước tẩy uế nên người ấy vẫn còn ô uế.
21 Đây sẽ là một luật vĩnh viễn cho dân chúng. Người nào rảy nước tẩy uế sẽ giặt áo quần mình; ai đụng đến nước tẩy uế sẽ bị ô uế đến chiều tối.
22 Bất cứ vật gì mà người bị ô uế đụng đến đều trở nên ô uế; còn ai đụng đến vật ấy sẽ bị ô uế đến chiều tối.’”
1 Vào tháng giêng, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đến hoang mạc Xin và dừng lại tại Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại đó.
2 Bấy giờ, không có nước cho hội chúng uống nên họ tụ họp lại để chống đối Môi-se và A-rôn.
3 Dân chúng gây chuyện với Môi-se và nói: “Anh em chúng tôi đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va; phải chi chúng tôi cũng chết với họ cho rồi!
4 Sao ông đem hội chúng của Đức Giê-hô-va vào hoang mạc nầy để chúng tôi và súc vật của chúng tôi phải chết ở đây?
5 Sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi dẫn chúng tôi đến chỗ khủng khiếp nầy, là nơi người ta không thể gieo mạ, cũng chẳng trồng được cây vả, cây nho, cây lựu và lại không có nước uống nữa?”
6 Môi-se và A-rôn rời khỏi hội chúng, đến trước cửa Lều Hội Kiến và sấp mặt xuống đất. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với hai ông.
7 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
8 “Hãy cầm gậy, rồi con và anh con là A-rôn triệu tập hội chúng lại. Hãy truyền cho tảng đá trước mắt hội chúng thì nó sẽ phun nước ra. Con sẽ khiến nước từ tảng đá phun ra cho hội chúng và súc vật của họ uống.”
9 Như vậy, Môi-se cầm gậy trước mặt Đức Giê-hô-va như Ngài đã phán dặn.
10 Môi-se và A-rôn triệu tập hội chúng đến trước tảng đá và nói: “Hỡi dân nổi loạn, Hãy nghe! Chúng tôi có thể khiến nước từ tảng đá nầy phun ra cho các người được không?”
11 Tay Môi-se cầm gậy giơ lên đập tảng đá hai lần. Nước liền phun trào ra; hội chúng và súc vật của họ cùng uống.
12 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Vì các con không tin Ta để tôn thánh Ta trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, nên các con sẽ không được dẫn hội chúng nầy vào đất mà Ta đã ban cho họ.”
13 Nước uống đó được gọi là nước uống Mê-ri-ba, là nơi dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện với Đức Giê-hô-va và Ngài được tôn thánh trước mặt họ.
14 Từ Ca-đe, Môi-se sai sứ giả đến gặp vua Ê-đôm, nói rằng: “Y-sơ-ra-ên là em vua có nói: Vua biết những điều khốn khổ đã xảy đến cho chúng tôi
15 và việc ông cha chúng tôi đi xuống Ai Cập. Chúng tôi đã ở đó một thời gian lâu; người Ai Cập đã ngược đãi chúng tôi và ông cha chúng tôi.
16 Chúng tôi kêu cầu với Đức Giê-hô-va; Ngài đã nghe tiếng kêu của chúng tôi và sai thiên sứ dẫn chúng tôi ra khỏi Ai Cập. Nầy, chúng tôi hiện ở Ca-đe là thành giáp với địa phận của vua.
17 Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ sở của vua. Chúng tôi sẽ không đi ngang qua đồng ruộng hay vườn nho, và chúng tôi cũng sẽ không uống nước trong các giếng. Chúng tôi sẽ đi theo con đường hoàng gia không xây qua bên phải hay bên trái, cho đến khi qua khỏi địa phận của vua.”
18 Nhưng vua Ê-đôm trả lời: “Ngươi không được đi ngang địa phận của ta; nếu không, ta sẽ cầm gươm ra đón ngươi.”
19 Người Y-sơ-ra-ên lại thưa: “Chúng tôi đi theo đường cái, và nếu chúng tôi và bầy súc vật chúng tôi có uống nước của vua thì chúng tôi sẽ trả tiền. Chỉ xin cho chúng tôi đi ngang qua đó thôi chứ không làm điều gì khác.”
20 Nhưng vua Ê-đôm đáp: “Ngươi không được đi qua đâu!” Rồi người Ê-đôm đem một đạo quân hùng hậu ra ngăn chận dân Y-sơ-ra-ên.
21 Như thế, Ê-đôm không cho phép người Y-sơ-ra-ên đi ngang địa phận của mình nên Y-sơ-ra-ên đi tránh xa khỏi họ.
22 Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đi từ Ca-đe đến núi Hô-rơ.
23 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn trên núi Hô-rơ, gần biên giới xứ Ê-đôm, rằng:
24 “A-rôn sẽ về với tổ tiên mình; người không được vào xứ mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên vì các con đã nổi loạn không vâng theo mệnh lệnh Ta về nước uống Mê-ri-ba.
25 Hãy đem A-rôn và Ê-lê-a-sa, con trai người, lên núi Hô-rơ,
26 rồi cởi y phục A-rôn ra mà mặc cho Ê-lê-a-sa, con trai người. Tại đó, A-rôn sẽ được tiếp về với tổ tiên và qua đời.”
27 Vậy, Môi-se làm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn. Ba người đi lên núi Hô-rơ trước mặt toàn thể hội chúng.
28 Môi-se cởi y phục của A-rôn và mặc cho Ê-lê-a-sa, con trai người. A-rôn qua đời ở đó, trên đỉnh núi. Rồi Môi-se và Ê-lê-a-sa từ trên núi đi xuống.
29 Khi thấy A-rôn đã qua đời thì toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên khóc thương người trong ba mươi ngày.
1 Khi vua A-rát, người Ca-na-an, ở Nê-ghép nghe tin rằng dân Y-sơ-ra-ên đang tiến đến bằng con đường A-tha-rim, thì vua tiến đánh Y-sơ-ra-ên và bắt một số người làm tù binh.
2 Dân Y-sơ-ra-ên hứa nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Chúa phó dân nầy vào tay chúng con thì chúng con sẽ tận diệt các thành của chúng.”
3 Đức Giê-hô-va nhậm lời dân Y-sơ-ra-ên và trao dân Ca-na-an vào tay họ. Họ tận diệt dân ấy và các thành của nó, rồi đặt tên chỗ ấy là Họt-ma
4 Từ núi Hô-rơ, dân Y-sơ-ra-ên đi về hướng Biển Đỏ để vòng qua xứ Ê-đôm. Nhưng giữa đường dân chúng ngã lòng.
5 Dân chúng chống đối Đức Chúa Trời và Môi-se. Họ nói: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập để chết trong hoang mạc nầy? Vì ở đây không có bánh cũng không có nước và chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn đạm bạc nầy.”
6 Đức Giê-hô-va sai rắn lửa đến trong dân chúng và cắn chết nhiều người Y-sơ-ra-ên.
7 Dân chúng đến với Môi-se và nói: “Chúng tôi phạm tội vì đã xúc phạm đến Đức Giê-hô-va và ông. Xin ông kêu cầu Đức Giê-hô-va khiến rắn lìa xa chúng tôi.” Vậy Môi-se cầu nguyện cho dân chúng.
8 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: “Hãy làm một con rắn lửa rồi treo nó trên một cây sào. Ai bị rắn cắn mà nhìn nó thì sẽ được sống.”
9 Vậy Môi-se làm một con rắn bằng đồng rồi treo lên một cây sào. Người nào bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng thì được sống.
10 Kế đó, dân Y-sơ-ra-ên ra đi và đóng trại tại Ô-bốt.
11 Từ Ô-bốt, họ ra đi và đóng trại tại Y-giê A-ba-rim, trong hoang mạc đối diện Mô-áp, về hướng mặt trời mọc.
12 Từ đó họ ra đi và đóng trại tại thung lũng Xê-rết.
13 Rồi họ đi tiếp và đóng trại phía bên kia sông Ạt-nôn, trong hoang mạc. Hoang mạc nầy trải rộng đến địa phận dân A-mô-rít. Sông Ạt-nôn là biên giới của dân Mô-áp, nằm giữa địa phận Mô-áp và địa phận dân A-mô-rít.
14 Vì thế, trong sách Chiến Trận Của Đức Giê-hô-va có chép: “Va-hép ở tại Su-pha Và thung lũng sông Ạt-nôn,
15 Cùng những triền dốc Chạy xuống phía A-rơ Và đụng ranh giới Mô-áp.”
16 Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên tiếp tục đến Bê-e Đó là cái giếng mà Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se rằng: “Hãy tập hợp dân chúng và Ta sẽ cho chúng nước uống.”
17 Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên hát bài nầy: “Hỡi giếng, hãy tuôn nước lên! Hãy hát mừng giếng nước!
18 Giếng mà các vua chúa đã khai, Các quý tộc của dân Chúa đã đào, Bằng vương trượng và cây gậy mình!” Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên từ hoang mạc đi đến Ma-tha-na,
19 từ Ma-tha-na đi đến Na-ha-li-ên, từ Na-ha-li-ên đi đến Ba-mốt,
20 và từ Ba-mốt đi đến thung lũng trong vùng Mô-áp, trên đỉnh núi Phích-ga là nơi người ta nhìn thấy hoang mạc.
21 Dân Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến Si-hôn, vua dân A-mô-rít, nói rằng:
22 “Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của vua. Chúng tôi sẽ không dòm ngó đồng ruộng hay vườn nho hoặc uống nước giếng. Chúng tôi chỉ đi theo con đường hoàng gia cho đến khi qua khỏi địa phận của vua.”
23 Nhưng Si-hôn không cho phép dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua địa phận mình. Vua ấy tập hợp toàn quân và tiến đánh Y-sơ-ra-ên từ phía hoang mạc. Ông đến Gia-hát và giao tranh với dân Y-sơ-ra-ên.
24 Dân Y-sơ-ra-ên dùng gươm đánh bại vua nầy và chiếm đất từ sông Ạt-nôn đến Gia-bốc và dừng lại ở biên giới của dân Am-môn, vì lãnh thổ họ được bảo vệ vững chắc.
25 Dân Y-sơ-ra-ên chiếm tất cả các thành của dân A-mô-rít và định cư trong các thành ấy, luôn cả Hết-bôn và các làng mạc chung quanh.
26 Hết-bôn là thành của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, là vua đã từng giao chiến với vị vua trước kia của Mô-áp và chiếm lấy tất cả đất đai của vua ấy cho đến sông Ạt-nôn.
27 Vì thế, thi nhân có viết: “Hãy đến Hết-bôn! Hãy xây thành của Si-hôn, Hãy phục hồi thành ấy!
28 Vì có lửa từ Hết-bôn, Một ngọn lửa từ thành của Si-hôn, Thiêu đốt A-rơ Mô-áp, Và các lãnh chúa của nơi cao của Ạt-nôn.
29 Hỡi Mô-áp, khốn nạn cho ngươi! Hỡi dân Kê-móc ngươi đã bị diệt mất! Ngươi đã nộp con trai mình làm kẻ lưu lạc, Con gái mình làm thân lưu đày Cho Si-hôn, vua dân A-mô-rít.
30 Nhưng chúng ta đã bắn tên vào chúng; Hết-bôn đã bị tiêu diệt cho đến Đi-bôn. Chúng ta đã tàn phá chúng đến Nô-phách, Lửa đã lan đến Mê-đê-ba.”
31 Vậy dân Y-sơ-ra-ên định cư trong đất của dân A-mô-rít.
32 Môi-se sai người đi do thám Gia-ê-xe. Họ chiếm các làng mạc và đuổi dân A-mô-rít khỏi đó.
33 Dân Y-sơ-ra-ên quay trở lại và đi lên về hướng Ba-san. Óc, vua Ba-san, và toàn quân đi ra và dàn trận tại Ết-rê-i.
34 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Đừng sợ! Vì Ta đã phó nó, quân đội và đất của nó vào tay con. Hãy xử nó như con đã xử Si-hôn, vua dân A-mô-rít ở tại Hết-bôn.”
35 Vậy dân Y-sơ-ra-ên đánh bại Óc, các con trai và toàn quân của nó, không để một người nào sống sót. Và dân Y-sơ-ra-ên chiếm đất đai của vua Óc.
1 Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên đi đến đóng trại trong thảo nguyên Mô-áp bên kia sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô.
2 Ba-lác, con trai Xếp-bô, thấy rõ mọi điều Y-sơ-ra-ên đã làm cho dân A-mô-rít.
3 Dân Mô-áp rất kinh hãi trước dân Y-sơ-ra-ên vì dân đó rất đông.
4 Vậy người Mô-áp bàn với các trưởng lão Ma-đi-an: “Đoàn dân đông nầy đang nuốt chửng các dân chung quanh chúng ta như bò ăn cỏ trong đồng vậy.” Lúc bấy giờ, Ba-lác, con trai Xếp-bô, đang làm vua Mô-áp.
5 Vua sai sứ giả đến Ba-la-am, con trai Bê-ô ở Phê-thô-rơ, gần sông Ơ-phơ-rát, xứ của con cháu Am-mô, và nói: “Nầy, một dân đã ra khỏi Ai Cập, phủ khắp mặt đất và đang đóng trại đối diện với ta.
6 Bây giờ, ngươi hãy đến nguyền rủa dân nầy cho ta vì nó mạnh hơn ta. Có lẽ ta sẽ đủ sức đánh bại dân nầy và đuổi nó khỏi xứ được. Vì ta biết rằng kẻ nào ngươi chúc phước thì được phước, còn kẻ nào ngươi nguyền rủa thì bị rủa.”
7 Vậy các trưởng lão Mô-áp và các trưởng lão Ma-đi-an lên đường, mang theo lễ vật cho thầy bói. Họ gặp Ba-la-am và thuật lại những lời của Ba-lác.
8 Ba-la-am đáp: “Hãy ở lại đây đêm nay và tôi sẽ trả lời cho các ông theo lời Đức Giê-hô-va sẽ phán với tôi.” Vậy, các quan chức Mô-áp ở lại nhà Ba-la-am.
9 Đức Chúa Trời hiện đến với Ba-la-am và phán: “Những người đang ở trong nhà của con là ai?”
10 Ba-la-am thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp, đã sai người đến với con và nói:
11 ‘Nầy, một dân đã ra khỏi Ai Cập và phủ khắp mặt đất. Bây giờ hãy đến nguyền rủa dân đó cho ta. Có lẽ ta sẽ đủ sức đánh đuổi dân nầy.’”
12 Đức Chúa Trời phán với Ba-la-am: “Đừng đi với chúng, cũng đừng nguyền rủa dân nầy vì đó là dân được ban phước.”
13 Sáng hôm sau, Ba-la-am thức dậy và nói với các quan chức của Ba-lác: “Các ông hãy trở về xứ vì Đức Giê-hô-va không cho tôi đi với các ông.”
14 Vậy các quan chức Mô-áp liền trở về với Ba-lác mà tâu rằng: “Ba-la-am không chịu đi với chúng tôi.”
15 Ba-lác lại sai một đoàn quan chức đông hơn và cao cấp hơn những người trước,
16 đến gặp Ba-la-am và nói: “Ba-lác, con trai Xếp-bô, có nói như sau: ‘Xin đừng để điều gì ngăn trở ngươi đến với ta,
17 vì ta sẽ trọng thưởng ngươi và làm cho ngươi bất cứ điều gì ngươi muốn. Ngươi hãy đến nguyền rủa dân nầy cho ta.’”
18 Ba-la-am trả lời với bầy tôi của vua Ba-lác rằng: “Dù Ba-lác có cho tôi tòa lâu đài đầy vàng bạc của vua, tôi cũng không thể vượt qua mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi để làm việc gì dù nhỏ hay lớn.
19 Nhưng tôi xin các ông hãy ở lại đêm nay để tôi biết Đức Giê-hô-va sẽ phán với tôi điều gì nữa.”
20 Ban đêm, Đức Chúa Trời hiện đến với Ba-la-am mà phán rằng: “Vì các người ấy đến mời, nên con cứ đi với chúng, nhưng chỉ làm theo những gì Ta phán dặn.”
21 Sáng hôm sau, Ba-la-am thức dậy thắng yên lừa và đi với các quan chức Mô-áp.
22 Nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời nổi phừng lên vì ông ra đi, và thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường ngăn cản ông. Lúc ấy, ông đang cưỡi lừa của mình và có hai đầy tớ đi theo.
23 Lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường với cây gươm trần nơi tay thì tránh qua một bên và đi xuống ruộng. Ba-la-am đánh nó, để bắt nó đi trở lại trên đường.
24 Kế đến, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên con đường nhỏ giữa các vườn nho, có vách hai bên đường.
25 Khi lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va thì nép vào vách và ép chân Ba-la-am, nên ông đánh nó nữa.
26 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi xa hơn và đứng tại một chỗ rất hẹp không thể xoay qua bên phải hay bên trái.
27 Khi lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va liền nằm quỵ xuống; Ba-la-am nổi giận lấy gậy đánh nó.
28 Bấy giờ, Đức Giê-hô-va mở miệng con lừa cái, và nó nói với Ba-la-am: “Tôi làm gì đâu mà ông đánh tôi đến ba lần?”
29 Ba-la-am nói với con lừa: “Vì mầy khinh nhạo ta. Nếu có gươm trong tay thì ta đã giết mầy rồi!”
30 Lừa cái nói với Ba-la-am: “Tôi không phải là con lừa mà ông vẫn cưỡi từ trước đến nay sao? Tôi có thường làm như vậy với ông bao giờ không?” Ông đáp: “Không.”
31 Lúc ấy, Đức Giê-hô-va mở mắt Ba-la-am và ông thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng giữa đường, tay cầm thanh gươm trần. Ông cúi rạp mình, sấp mặt xuống đất.
32 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hỏi: “Sao ngươi đánh lừa cái của ngươi đến ba lần? Nầy, ta đi ra để ngăn cản ngươi, vì ta thấy ngươi đi theo con đường bại hoại.
33 Con lừa đã thấy ta và đi tránh một bên đến ba lần. Nếu nó không tránh ta, chắc ta đã giết ngươi và để cho nó sống.”
34 Ba-la-am thưa với thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: “Con đã phạm tội vì không biết Ngài đã đứng trên đường để cản con. Bây giờ, nếu Ngài không bằng lòng cho con đi, con sẽ trở về.”
35 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ba-la-am: “Hãy đi với các người đó, nhưng chỉ nói điều gì Ta sẽ phán dặn ngươi.” Vậy Ba-la-am đi với các quan chức của Ba-lác.
36 Khi Ba-lác nghe tin Ba-la-am đến thì ra tận A-rơ Mô-áp bên bờ sông Ạt-nôn, tức là biên giới của xứ, để nghênh tiếp ông.
37 Ba-lác nói với Ba-la-am: “Không phải ta đã tha thiết mời ngươi sao? Tại sao ngươi không đến với ta? Ta không thể ban thưởng xứng đáng cho ngươi được sao?”
38 Ba-la-am trả lời với Ba-lác rằng: “Bây giờ, tôi đã đến với vua, nhưng tôi có quyền nói bất cứ điều gì chăng? Tôi chỉ nói điều mà Đức Chúa Trời đặt trong miệng tôi.”
39 Ba-la-am đi với Ba-lác đến Ki-ri-át Hút-sốt.
40 Ba-lác giết bò và chiên, sai người đem biếu Ba-la-am và các quan chức Mô-áp đang ở với ông.
41 Sáng hôm sau, Ba-lác đem Ba-la-am lên Ba-mốt Ba-anh là nơi ông có thể thấy một phần trại quân Y-sơ-ra-ên.
1 Ba-la-am nói với Ba-lác: “Hãy xây tại đây cho tôi bảy bàn thờ và chuẩn bị cho tôi bảy bò đực và bảy chiên đực.”
2 Ba-lác làm đúng như Ba-la-am đã nói. Ba-lác và Ba-la-am dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
3 Ba-la-am nói với Ba-lác: “Vua hãy đứng gần tế lễ thiêu của mình, còn tôi sẽ đi. Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với tôi và tôi sẽ thuật lại cho vua điều gì Ngài cho tôi thấy.” Rồi ông đi lên một ngọn đồi trống.
4 Đức Chúa Trời hiện ra với Ba-la-am. Ba-la-am thưa với Ngài: “Con có lập bảy bàn thờ và trên mỗi bàn thờ, con đã dâng một bò đực và một chiên đực.”
5 Đức Giê-hô-va đặt lời trong miệng Ba-la-am và phán: “Hãy trở về với Ba-lác và nói như thế đó.”
6 Ba-la-am trở về với vua, thấy vua và các quan chức Mô-áp đứng gần tế lễ thiêu của vua.
7 Ba-la-am nói tiên tri rằng: “Ba-lác, vua Mô-áp sai mời tôi từ A-ram, Từ đồi núi đông phương, và nói: ‘Hãy đến nguyền rủa Gia-cốp cho ta! Hãy đến tố cáo Y-sơ-ra-ên!’
8 Người mà Đức Chúa Trời không nguyền rủa, tôi sẽ nguyền rủa làm sao? Kẻ mà Đức Chúa Trời không tố cáo, tôi sẽ tố cáo thế nào?
9 Vì từ đỉnh núi tôi thấy Y-sơ-ra-ên, Từ đỉnh cao, tôi nhìn họ: Kìa là một dân sống biệt riêng, Và không đồng hóa với các nước.
10 Ai đếm được bụi cát của Gia-cốp? Ai tính được chỉ một phần tư của Y-sơ-ra-ên? Xin cho tôi được chết cái chết của người công chính; Xin cho tôi được mãn phần giống như họ!”
11 Bấy giờ, Ba-lác nói với Ba-la-am: “Ngươi đã làm gì cho ta thế? Ta thỉnh ngươi để nguyền rủa những kẻ thù của ta mà ngươi lại chúc phước cho chúng!”
12 Ba-la-am đáp: “Không phải tôi nên cẩn thận nói điều mà Đức Giê-hô-va đặt trong miệng tôi sao?”
13 Ba-lác nói với Ba-la-am: “Hãy đi với ta đến một chỗ khác là nơi ngươi sẽ thấy dân nầy. Nhưng ngươi sẽ thấy chỉ một phần thôi chứ không thấy tất cả. Tại đó, hãy nguyền rủa chúng cho ta.”
14 Vậy người dẫn Ba-la-am đến cánh đồng Xô-phim, trên đỉnh núi Phích-ga, rồi lập bảy bàn thờ, trên mỗi bàn thờ dâng một bò đực và một chiên đực.
15 Ba-la-am nói với Ba-lác: “Xin vua đứng đây, gần tế lễ thiêu của vua, còn tôi sẽ đi gặp Đức Giê-hô-va ở đàng kia”
16 Đức Giê-hô-va hiện ra với Ba-la-am và dạy lời ông phải nói. Ngài bảo: “Hãy trở lại với Ba-lác và nói như thế đó.”
17 Ba-la-am trở về với vua, thấy nhà vua và các quan chức của Mô-áp đứng gần tế lễ thiêu của vua. Ba-lác hỏi: “Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?”
18 Ba-la-am nói tiên tri rằng: “Hỡi Ba-lác, hãy đứng dậy và nghe! Hỡi con trai Xếp-bô, hãy lắng tai!
19 Đức Chúa Trời không phải là người mà nói dối, Cũng chẳng phải là con loài người mà ăn năn. Điều Ngài đã phán, Ngài không thi hành sao? Lời Ngài đã hứa, Ngài chẳng thực hiện sao?
20 Nầy, tôi đã nhận mệnh lệnh chúc phước; Ngài đã ban phước, tôi không thể thay đổi được.
21 Ngài thấy Gia-cốp chẳng đáng chịu bất hạnh Cũng thấy Y-sơ-ra-ên không đáng bị khốn cùng. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ ở với họ, Trong Y-sơ-ra-ên có tiếng reo mừng của vua.
22 Đức Chúa Trời đã đem dân đó ra khỏi Ai Cập; Họ có sức mạnh như bò rừng vậy.
23 Không có bùa ngải nơi Gia-cốp, Cũng chẳng có bói toán trong Y-sơ-ra-ên; Vì đến lúc người ta sẽ nói về Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đức Chúa Trời đã làm những việc lạ lùng!’
24 Kìa một dân tộc trỗi dậy như sư tử cái, Và vùng dậy như sư tử đực; Nó chỉ nằm xuống khi nào cắn xé được mồi Và uống máu những con thú bị giết.”
25 Bấy giờ, Ba-lác nói với Ba-la-am: “Chớ nguyền rủa họ nhưng cũng đừng chúc phước.”
26 Ba-la-am trả lời Ba-lác: “Không phải tôi đã nói với vua rằng tôi phải làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va phán dặn sao?”
27 Ba-lác lại nói với Ba-la-am: “Hãy lại đây, ta sẽ dẫn ngươi đến một chỗ khác. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ bằng lòng cho ngươi nguyền rủa dân nầy tại đó chăng.”
28 Ba-lác dẫn Ba-la-am đến đỉnh núi Phê-ô, đối diện hoang mạc.
29 Ba-la-am nói với Ba-lác: “Hãy lập cho tôi bảy bàn thờ tại đây và chuẩn bị bảy con bò đực và bảy con chiên đực.”
30 Vậy, Ba-lác làm theo lời Ba-la-am đã nói. Ông dâng một con bò đực và một con chiên đực làm tế lễ thiêu trên mỗi bàn thờ.
1 Khi Ba-la-am thấy rõ Đức Giê-hô-va muốn ban phước cho Y-sơ-ra-ên thì không tìm cách bói toán như những lần trước, nhưng ông xây mặt về hướng hoang mạc.
2 Khi ngước mắt lên, ông thấy Y-sơ-ra-ên đóng trại theo từng bộ tộc, Thần của Đức Chúa Trời tác động trên ông
3 và ông nói tiên tri rằng: “Lời tiên tri của Ba-la-am, con trai Bê-ô, Lời tiên tri của người có mắt mở ra,
4 Lời tiên tri của người nghe lời Đức Chúa Trời, Là người thấy khải tượng của Đấng Toàn Năng, Liền té quỵ xuống và mở mắt ra:
5 Hỡi Gia-cốp! Trại ngươi tốt dường bao! Hỡi Y-sơ-ra-ên! Nơi ngươi ở đẹp biết mấy!
6 Như thung lũng trải dài, Như khu vườn gần bờ sông, Tựa như cây trầm hương mà Đức Giê-hô-va đã trồng, Giống như cây hương nam nơi mé nước.
7 Nước từ trong thùng chảy tràn ra, Hạt giống của người được dư dật nước, Vua người sẽ vượt trội A-gát, Vương quốc người sẽ được tôn cao.
8 Đức Chúa Trời đã dẫn Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập; Họ có sức mạnh như bò rừng, Sẽ nuốt các nước thù địch, Bẻ gãy xương chúng ra từng mảnh, Và bắn tên tiêu diệt chúng.
9 Họ nằm xuống, co quắp người như sư tử đực Và như sư tử cái. Ai dám đánh thức? Đáng chúc phước cho người nào chúc phước ngươi, Đáng nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa ngươi.”
10 Bấy giờ, Ba-lác nổi giận với Ba-la-am, hai tay đập vào nhau và nói với Ba-la-am: “Ta thỉnh ngươi đến để nguyền rủa kẻ thù của ta mà ngươi lại chúc phước cho chúng đến ba lần!
11 Thôi bây giờ hãy cút về xứ ngươi đi! Ta hứa sẽ ban thưởng xứng đáng, nhưng Đức Giê-hô-va đã không cho ngươi nhận lãnh.”
12 Ba-la-am nói với Ba-lác rằng: “Không phải tôi đã nói với các sứ giả mà vua đã sai đến rằng:
13 ‘Dù Ba-lác có cho tôi tòa lâu đài đầy bạc vàng của vua, tôi cũng không được vượt qua mệnh lệnh Đức Giê-hô-va để tự ý làm điều gì, dù tốt hay xấu’ đó sao? Tôi chỉ nói điều gì Đức Giê-hô-va phán dạy thôi!
14 Nầy bây giờ tôi trở về với dân tộc tôi. Nhưng hãy đến, tôi sẽ báo cho vua biết điều dân ấy sẽ làm cho dân của vua trong những ngày sắp đến.”
15 Ba-la-am nói tiên tri rằng: “Lời tiên tri của Ba-la-am con trai Bê-ô, Lời tiên tri của người có mắt mở ra,
16 Lời tiên tri của người nghe lời Đức Chúa Trời, Biết tri thức của Đấng Chí Cao, Thấy khải tượng về Đấng Toàn Năng Liền té quỵ xuống và mắt mở ra:
17 Tôi thấy Ngài, nhưng chẳng phải bây giờ; Tôi trông Ngài, nhưng không phải ở gần; Một ngôi sao hiện ra từ Gia-cốp, Một vương trượng sẽ trỗi dấy từ Y-sơ-ra-ên; Ngài sẽ đập vỡ màng tang của Mô-áp Và vương miện của dòng dõi Sết.
18 Ê-đôm sẽ bị chinh phục, Sê-i-rơ là kẻ thù, sẽ bị xâm chiếm, Nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ được cường thịnh.
19 Đấng ra từ Gia-cốp sẽ cầm quyền; Ngài sẽ tiêu diệt những kẻ sống sót của thành.”
20 Ba-la-am cũng thấy dân A-ma-léc và nói tiên tri rằng: “A-ma-léc đứng đầu các nước, Nhưng cuối cùng nó sẽ bị diệt vong.”
21 Sau đó, Ba-la-am thấy người Kê-nít và nói tiên tri rằng: “Chỗ ở ngươi có vẻ bền vững, Ngươi làm tổ mình trong tảng đá.
22 Nhưng ngươi, Kê-nít, sẽ bị lửa thiêu đốt Khi A-su-rơ bắt ngươi làm tù binh.”
23 Ông cũng nói tiên tri rằng: “Ôi! Khi Đức Chúa Trời làm các việc ấy, Ai là những người tụ họp ở phương bắc?
24 Đó là những kẻ từ bờ biển Kít-tim Đến ngược đãi A-su-rơ và Hê-be. Nhưng rồi chính chúng cũng sẽ bị diệt vong.”
25 Sau đó, Ba-la-am đứng dậy đi về xứ mình và Ba-lác cũng lên đường.
1 Khi dân Y-sơ-ra-ên đang ở Si-tim, họ bắt đầu phạm tội tà dâm với các thiếu nữ Mô-áp.
2 Các thiếu nữ nầy mời dân chúng ăn các sinh tế cúng cho các thần của chúng. Dân chúng ăn và quỳ lạy trước các thần của chúng.
3 Thế là dân Y-sơ-ra-ên tự mình mang ách thờ cúng thần Ba-anh Phê-ô khiến cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với Y-sơ-ra-ên.
4 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bắt các thủ lĩnh của dân chúng, treo họ lên trước mặt Đức Giê-hô-va, dưới ánh nắng mặt trời, để làm nguôi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va đối với dân Y-sơ-ra-ên.”
5 Vậy, Môi-se nói với các thẩm phán của Y-sơ-ra-ên rằng: “Mỗi người trong anh em phải giết những người trong vòng bà con mình mang ách cúng thờ Ba-anh Phê-ô.”
6 Bấy giờ, một người trong dân Y-sơ-ra-ên dẫn một người phụ nữ Ma-đi-an đến giữa anh em mình, trước sự chứng kiến của Môi-se và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, đang khi cả hội chúng khóc lóc tại cửa Lều Hội Kiến.
7 Khi Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu thầy tế lễ A-rôn thấy việc nầy liền đứng dậy giữa hội chúng, tay cầm một cây giáo,
8 đi theo người Y-sơ-ra-ên vào trong trại, ông đâm xuyên bụng của người Y-sơ-ra-ên với người phụ nữ ấy. Tai họa trong dân Y-sơ-ra-ên liền dừng lại.
9 Tuy nhiên, có hai mươi bốn nghìn người chết do tai họa nầy.
10 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
11 “Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu thầy tế lễ A-rôn, đã làm nguôi cơn giận Ta đối với dân Y-sơ-ra-ên, vì giữa họ, người mang lòng sốt sắng của Ta chống lại tội tà dâm; nhờ đó, Ta không tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên trong cơn kỵ tà.
12 Vì thế, hãy bảo với người rằng: ‘Ta lập giao ước bình an với người.
13 Người và dòng dõi người sẽ nhận được giao ước về chức tế lễ đời đời, vì người có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời mình và đã chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên.’”
14 Người Y-sơ-ra-ên bị giết chung với người phụ nữ Ma-đi-an đó tên là Xim-ri, con trai Sa-lu, một thủ lĩnh thuộc bộ tộc Si-mê-ôn.
15 Tên người phụ nữ Ma-đi-an bị giết là Cốt-bi, con gái Xu-rơ, một thủ lĩnh người Ma-đi-an.
16 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
17 “Hãy quấy phá người Ma-đi-an và tiến đánh chúng.
18 Vì chúng đã quấy phá và dụ dỗ các con trong việc cúng thờ Phê-ô, và trong vụ Cốt-bi, con gái của một thủ lĩnh Ma-đi-an, là chị em của chúng. Cốt-bi bị giết khi tai họa xảy đến vì dân chúng cúng thờ Phê-ô.”
1 Sau tai họa ấy, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn rằng:
2 “Hãy kiểm tra dân số cả hội chúng Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi trở lên theo gia tộc của họ, tức là tất cả những người Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được.”
3 Vậy Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nói với dân Y-sơ-ra-ên trong vùng cao nguyên Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, rằng:
4 “Hãy kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.” Đây là những người Y-sơ-ra-ên đã ra khỏi xứ Ai Cập:
5 Con cháu Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Con cháu Ru-bên gồm có: Hê-nóc sinh ra gia tộc Hê-nóc; Pha-lu sinh ra gia tộc Pha-lu;
6 từ Hết-rôn sinh ra gia tộc Hết-rôn; từ Cạt-mi sinh ra gia tộc Cạt-mi.
7 Đó là các gia tộc của Ru-bên; tổng số được kiểm tra là bốn mươi ba nghìn bảy trăm ba mươi người.
8 Con trai Pha-lu là Ê-li-áp.
9 Các con trai của Ê-li-áp là Nê-mu-ên, Đa-than và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram nầy là những người được tuyển chọn từ hội chúng nhưng theo phe Cô-ra, nổi loạn chống lại Môi-se và A-rôn, cũng như chống lại Đức Giê-hô-va.
10 Đất đã hả miệng nuốt hai người ấy cùng với Cô-ra; những kẻ theo hắn đều chết khi lửa thiêu đốt hai trăm năm mươi người. Họ trở thành một lời cảnh cáo cho dân chúng.
11 Tuy nhiên, con cháu Cô-ra không chết hết.
12 Con cháu Si-mê-ôn tùy theo gia tộc mình gồm có: Nê-mu-ên sinh ra gia tộc Nê-mu-ên; Gia-min sinh ra gia tộc Gia-min; Gia-kin sinh ra gia tộc Gia-kin;
13 Xê-rách sinh ra gia tộc Xê-rách; Sau-lơ sinh ra gia tộc Sau-lơ.
14 Đó là các gia tộc của Si-mê-ôn; tổng số là hai mươi hai nghìn hai trăm người.
15 Con cháu của Gát tùy theo gia tộc mình gồm có: Xê-phôn sinh ra gia tộc Xê-phôn; Ha-ghi sinh ra gia tộc Ha-ghi; Su-ni sinh ra gia tộc Su-ni;
16 Óc-ni sinh ra gia tộc Óc-ni; Ê-ri sinh ra gia tộc Ê-ri;
17 A-rốt sinh ra gia tộc A-rốt; A-rê-li sinh ra gia tộc A-rê-li.
18 Đó là các gia tộc của bộ tộc Gát; tổng số là bốn mươi nghìn năm trăm người.
19 Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ và Ô-nan nhưng họ đã qua đời tại Ca-na-an.
20 Con cháu Giu-đa tùy theo gia tộc mình gồm có: Sê-la sinh ra gia tộc Sê-la; Phê-rết sinh ra gia tộc Phê-rết; Xê-rách sinh ra gia tộc Xê-rách.
21 Con cháu của Phê-rết gồm có: Hết-rôn sinh ra gia tộc Hết-rôn; Ha-mun sinh ra gia tộc Ha-mun.
22 Đó là các gia tộc của Giu-đa; tổng số là bảy mươi sáu nghìn năm trăm người.
23 Con cháu Y-sa-ca tùy theo gia tộc của họ gồm có: Thô-la sinh ra gia tộc Thô-la; Phu-va sinh ra gia tộc Phu-va;
24 Gia-súp sinh ra gia tộc Gia-súp; Sim-rôn sinh ra gia tộc Sim-rôn.
25 Đó là các gia tộc của Y-sa-ca; tổng số là sáu mươi bốn nghìn ba trăm người.
26 Con cháu Sa-bu-lôn tùy theo từng gia tộc gồm có: Từ Sê-rết sinh ra gia tộc Sê-rết; từ Ê-lôn sinh ra gia tộc Ê-lôn; từ Gia-lê-ên sinh ra gia tộc Gia-lê-ên.
27 Đó là các gia tộc của Sa-bu-lôn; tổng số là sáu mươi nghìn năm trăm người.
28 Con cháu Giô-sép tùy theo từng gia tộc gồm có Ma-na-se và Ép-ra-im.
29 Con cháu Ma-na-se gồm có: Ma-ki sinh ra gia tộc Ma-ki; Ma-ki sinh Ga-la-át và Ga-la-át sinh ra gia tộc Ga-la-át.
30 Đây là con cháu Ga-la-át: Giê-xe sinh ra gia tộc Giê-xe; Hê-léc sinh ra gia tộc Hê-léc;
31 Ách-ri-ên sinh ra gia tộc Ách-ri-ên; Si-chem sinh ra gia tộc Si-chem;
32 Sê-mi-đa sinh ra gia tộc Sê-mi-đa; từ Hê-phe sinh ra gia tộc Hê-phe.
33 Xê-lô-phát, con trai Hê-phe không có con trai nhưng có con gái. Tên các con gái của Xê-lô-phát là Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa.
34 Đó là các gia tộc của Ma-na-se; tổng số là năm mươi hai nghìn bảy trăm người.
35 Đây là con cháu Ép-ra-im tùy theo gia tộc: Su-thê-lách sinh ra gia tộc Su-thê-lách; Bê-ke sinh ra gia tộc Bê-ke; Tha-han sinh ra gia tộc Tha-han.
36 Đây là con cháu của Su-thê-lách: Ê-ran sinh ra gia tộc Ê-ran.
37 Đó là các gia tộc của con cháu Ép-ra-im; tổng số là ba mươi hai nghìn năm trăm người. Đó là con cháu Giô-sép tùy theo gia tộc của họ.
38 Con cháu Bên-gia-min theo gia tộc gồm có: Bê-la sinh ra gia tộc Bê-la; Ách-bên sinh ra gia tộc Ách-bên; A-hi-ram sinh ra gia tộc A-hi-ram;
39 Sê-phu-pham sinh ra gia tộc Sê-phu-pham; Hu-pham sinh ra gia tộc Hu-pham.
40 Con cháu Bê-la là A-rết và Na-a-man. A-rết sinh ra gia tộc A-rết; Na-a-man sinh ra gia tộc Na-a-man.
41 Đó là con cháu Bên-gia-min tùy theo gia tộc; tổng số là bốn mươi lăm nghìn sáu trăm người.
42 Đây là con cháu của Đan tùy theo gia tộc: Su-cham sinh ra gia tộc Su-cham. Đó là gia tộc của Đan.
43 Tất cả gia tộc Su-cham được kiểm tra là sáu mươi bốn nghìn bốn trăm người.
44 Con cháu A-se tùy theo gia tộc gồm có: Dim-na sinh ra gia tộc Dim-na; Dích-vi sinh ra gia tộc Dích-vi; Bê-ri-a sinh ra gia tộc Bê-ri-a.
45 Về con cháu Bê-ri-a: Hê-be sinh ra gia tộc Hê-be; Manh-ki-ên sinh ra gia tộc Manh-ki-ên.
46 Tên của con gái A-se là Sê-rách.
47 Đó là các gia tộc của con cháu A-se; tổng số là năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
48 Con cháu Nép-ta-li tùy theo từng gia tộc gồm có: Giát-sê-ên sinh ra gia tộc Giát-sê-ên; Gu-ni sinh ra gia tộc Gu-ni;
49 Giê-xe sinh ra gia tộc Giê-xe, Si-lem sinh ra gia tộc Si-lem.
50 Đó là các gia tộc của bộ tộc Nép-ta-li; tổng số là bốn mươi lăm nghìn bốn trăm người.
51 Tổng số người Y-sơ-ra-ên được kiểm tra là sáu trăm lẻ một nghìn bảy trăm ba mươi người.
52 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
53 “Tùy theo số người trên danh sách mà chia đất cho họ làm sản nghiệp.
54 Bộ tộc nào có dân số đông hơn thì con phải chia cho một sản nghiệp lớn hơn, và bộ tộc nào có dân số ít hơn thì phải chia cho một sản nghiệp nhỏ hơn. Mỗi bộ tộc sẽ được cấp sản nghiệp tùy theo con số đã kiểm tra,
55 nhưng phải bắt thăm để phân chia đất. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp mình theo tên của bộ tộc mình.
56 Phải bắt thăm mà phân chia sản nghiệp cho mỗi bộ tộc tùy theo số dân đông hay ít.”
57 Đây là người Lê-vi được kiểm tra theo từng gia tộc của họ: Ghẹt-sôn sinh ra gia tộc Ghẹt-sôn; Kê-hát sinh ra gia tộc Kê-hát; Mê-ra-ri sinh ra gia tộc Mê-ra-ri.
58 Đây cũng là các gia tộc Lê-vi: Gia tộc Líp-ni, gia tộc Hếp-rôn, gia tộc Mách-li, gia tộc Mu-si, gia tộc Cô-ra. Kê-hát sinh Am-ram.
59 Vợ của Am-ram tên là Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi, sinh ở Ai Cập; nàng sinh cho Am-ram: A-rôn, Môi-se và chị của hai người là Mi-ri-am.
60 Còn A-rôn sinh Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
61 Nhưng Na-đáp và A-bi-hu chết trong khi dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va.
62 Tất cả những người nam từ một tháng trở lên được kiểm tra là hai mươi ba nghìn. Người Lê-vi không được tính chung với dân số Y-sơ-ra-ên vì người Lê-vi không nhận sản nghiệp nào giữa dân Y-sơ-ra-ên.
63 Đó là những người mà Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa lập danh sách khi kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên trong cao nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
64 Trong số người nầy không có ai thuộc về số người mà Môi-se và thầy tế lễ A-rôn đã kiểm tra trong cuộc kiểm tra dân Y-sơ-ra-ên tại hoang mạc Si-na-i.
65 Vì Đức Giê-hô-va có phán về họ rằng: “Họ sẽ chết trong hoang mạc!” Vậy, chẳng còn một ai sống sót trừ Ca-lép, con trai Giê-phu-nê và Giô-suê, con trai Nun.
1 Bây giờ các con gái của Xê-lô-phát, con của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về các gia tộc Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, tiến đến. Tên của các con gái nầy là: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa.
2 Họ ra mắt Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, các nhà lãnh đạo và cả hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến, và nói:
3 “Cha chúng tôi đã chết trong hoang mạc. Ông không theo phe Cô-ra là những kẻ hiệp lại chống đối Đức Giê-hô-va nhưng ông đã chết vì tội lỗi mình và không có con trai.
4 Tại sao danh cha chúng tôi bị loại ra khỏi gia tộc chỉ vì không có con trai? Hãy cho chúng tôi phần đất làm sản nghiệp giữa các anh em của cha chúng tôi.”
5 Môi-se đem trường hợp của các người con gái ấy đến trước mặt Đức Giê-hô-va.
6 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
7 “Các người con gái Xê-lô-phát nói có lý. Con phải chia cho họ đất làm sản nghiệp giữa các anh em của cha họ và chuyển giao cho họ sản nghiệp của cha họ.
8 Con cũng phải nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu người nào chết mà không có con trai thì anh em phải giao sản nghiệp của người ấy lại cho con gái của họ.
9 Nếu người ấy không có con gái thì phải giao sản nghiệp cho anh em của người ấy.
10 Lại nếu người ấy không có anh em thì phải giao sản nghiệp cho chú bác của người ấy.
11 Và nếu người ấy không có chú bác thì phải giao sản nghiệp người cho người bà con gần nhất làm sở hữu’”. Đó là luật lệ quy định cho dân Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
12 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy lên trên núi A-ba-rim nầy và nhìn xứ mà Ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên.
13 Khi con đã nhìn thấy xứ đó rồi, con cũng sẽ được về cùng tổ phụ như anh con là A-rôn vậy,
14 bởi vì tại hoang mạc Xin, các con đã nổi loạn chống lại mệnh lệnh Ta khi hội chúng cãi cọ về nước uống và các con đã không tôn thánh Ta trước mặt họ.” Đó là nước về sự cãi cọ tại Ca-đe trong hoang mạc Xin.
15 Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va:
16 “Lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của thần linh mọi xác thịt! Xin Ngài lập trên hội chúng một người
17 để đi ra và đi vào trước mặt họ, là người sẽ dẫn họ đi ra và đem họ đi vào; như thế hội chúng của Đức Giê-hô-va sẽ không như chiên không có người chăn.”
18 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy chọn Giô-suê, con trai của Nun, người có Thần ngự vào, và đặt tay trên người,
19 rồi đem người ra mắt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa cùng toàn thể hội chúng, và ủy thác trách nhiệm cho người trước mặt mọi người.
20 Hãy trao một phần thẩm quyền của con cho người để cả hội chúng Y-sơ-ra-ên vâng theo người.
21 Giô-suê phải ra mắt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và thầy tế lễ sẽ vì người tìm hiểu ý Đức Giê-hô-va bằng cách cầu hỏi U-rim trước mặt Đức Giê-hô-va. Theo lệnh Ê-lê-a-sa, người và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra và đi vào.”
22 Vậy Môi-se làm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn. Ông chọn Giô-suê và đem người ra trước mặt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và cả hội chúng.
23 Ông đặt tay trên người và ủy thác trách nhiệm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
2 “Hãy truyền lệnh nầy cho dân Y-sơ-ra-ên và nói: ‘Các con phải lo dâng cho Ta đúng kỳ định các tế lễ và thực phẩm làm tế lễ, dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Ta.’
3 Vậy con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đây là tế lễ dùng lửa đốt mà các con sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va: Mỗi ngày hai con chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu hằng hiến.
4 Phải dâng một con vào buổi sớm mai, một con vào buổi chiều tối,
5 và dâng chung với tế lễ chay gồm một ký bột lọc, nhồi với khoảng một lít dầu ô-liu.
6 Đó là tế lễ thiêu hằng hiến đã lập tại núi Si-na-i, tức là một tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.’
7 Lễ quán sẽ là một lít rượu cho mỗi chiên con. Con phải dâng lễ quán cho Đức Giê-hô-va trong Nơi Thánh.
8 Con phải dâng chiên con kia vào buổi chiều tối cùng với tế lễ chay và lễ quán giống như buổi sớm mai. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.”
9 “Vào ngày sa-bát, con phải dâng hai chiên con đực một tuổi không tì vết, chung với lễ quán và tế lễ chay gồm khoảng hai ký bột lọc nhồi dầu.
10 Đây là tế lễ thiêu vào mỗi ngày sa-bát ngoài các tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán.”
11 “Vào mỗi đầu tháng, các con phải dâng cho Đức Giê-hô-va hai con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu;
12 dâng chung với ba ký bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay cho mỗi con bò đực, hai ký bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay cho con chiên đực;
13 một ký bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay cho mỗi chiên con. Đó là một tế lễ thiêu, tức một tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va,
14 Lễ quán sẽ là hai lít rượu nho cho mỗi con bò đực, một lít rưỡi cho con chiên đực và một lít cho mỗi chiên con. Đó là tế lễ thiêu vào mỗi đầu tháng trong năm.
15 Ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán, cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một con dê đực làm tế lễ chuộc tội.”
16 “Vào ngày mười bốn tháng giêng, phải giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va.
17 Ngày mười lăm của tháng ấy sẽ là lễ hội và phải ăn bánh không men trong bảy ngày.
18 Vào ngày thứ nhất, các con sẽ có cuộc hội họp thánh và không được làm công việc thường lệ nào cả.
19 Các con phải dâng cho Đức Giê-hô-va hai con bò đực tơ và bảy chiên con đực một tuổi làm tế lễ thiêu, tất cả đều không có tì vết.
20 Tế lễ chay sẽ là ba ký bột lọc nhồi dầu cho một con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
21 và một ký cho mỗi chiên con.
22 Kèm theo một con dê đực làm tế lễ chuộc tội để làm lễ chuộc tội cho các con.
23 Các con phải dâng các lễ vật nầy ngoài tế lễ thiêu buổi sớm mai, tức là tế lễ thiêu hằng hiến.
24 Các con phải dùng lửa dâng những tế lễ hằng hiến như thế trong suốt bảy ngày có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va. Tế lễ đó phải được dâng ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán.
25 Và ngày thứ bảy, các con sẽ có cuộc hội họp thánh và không được làm một công việc thường lệ nào cả.”
26 “Trong kỳ lễ Các Tuần nhằm ngày hoa quả đầu mùa, khi các con dâng cho Đức Giê-hô-va tế lễ chay mới thì phải có cuộc hội họp thánh và không được làm một công việc thường lệ nào cả.
27 Các con sẽ dâng hai con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi làm tế lễ thiêu có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
28 Cũng dâng tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho mỗi con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
29 và một ký cho mỗi chiên con.
30 Cũng phải dâng một con dê đực để làm lễ chuộc tội cho mình.
31 Ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và tế lễ chay, các con cũng phải dâng các lễ vật đó cùng với lễ quán. Các sinh tế không được có tì vết nào cả.”
1 Vào ngày mồng một tháng bảy, các con sẽ có cuộc hội họp thánh và không được làm một công việc thường lệ nào cả. Đó là một ngày để các con thổi kèn.
2 Các con phải dâng một con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu có hương thơm, hài lòng cho Đức Giê-hô-va.
3 Phải dâng chung với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
4 một ký cho mỗi con trong số bảy chiên con ấy;
5 và phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội cho các con.
6 Các con phải dâng những lễ vật nầy ngoài tế lễ thiêu đầu tháng kèm theo tế lễ chay, tế lễ thiêu hằng hiến kèm theo tế lễ chay với lễ quán theo quy định. Những tế lễ nầy phải dùng lửa để dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
7 Vào ngày mùng mười tháng bảy nầy, các con sẽ có buổi hội họp thánh, phải ép linh hồn mình và không được làm một công việc thường lệ nào cả.
8 Các con phải dâng một con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
9 Phải dâng chung với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
10 và một ký cho mỗi trong số bảy chiên con ấy.
11 Các con cũng dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ trong Ngày Chuộc Tội, tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
12 Vào ngày rằm tháng bảy, các con sẽ có cuộc hội họp thánh. Không được làm một công việc thường lệ nào, nhưng các con phải giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày.
13 Các con phải dâng mười ba con bò đực tơ, hai con chiên đực và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu, tức là tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
14 Phải dâng chung với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho mỗi con bò đực, hai ký cho mỗi con chiên đực
15 và một ký cho mỗi con trong số mười bốn chiên con ấy.
16 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
17 “Vào ngày thứ hai, các con phải dâng mười hai con bò đực tơ, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
18 Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
19 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán.
20 Vào ngày thứ ba, các con phải dâng mười một con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
21 Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
22 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
23 Vào ngày thứ tư, các con phải dâng mười con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
24 Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
25 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
26 Vào ngày thứ năm, các con phải dâng chín con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
27 Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
28 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
29 Vào ngày thứ sáu, các con phải dâng tám con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
30 Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
31 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
32 Vào ngày thứ bảy, các con phải dâng bảy con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
33 Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
34 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
35 Vào ngày thứ tám, các con phải có cuộc hội họp trọng thể và không được làm một công việc thường lệ nào cả.
36 Phải dâng một con bò đực, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu, tức là tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
37 Cũng dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
38 Các con cũng phải dâng một con dê đực làm của sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
39 Đó là những lễ vật mà các con phải dâng cho Đức Giê-hô-va vào những ngày lễ trọng thể để làm tế lễ thiêu, tế lễ chay, lễ quán và tế lễ bình an ngoài những tế lễ hứa nguyện và những tế lễ tự nguyện của các con.”
1 Môi-se truyền lại cho con dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dạy mình.
2 Môi-se nói với các thủ lĩnh của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên rằng: “Đây là điều Đức Giê-hô-va đã phán dạy:
3 Khi một người nam khấn hứa với Đức Giê-hô-va hoặc thề nguyện điều gì buộc phải giữ thì đừng thất tín. Người ấy phải làm đúng như lời miệng mình đã nói ra.
4 Khi một người nữ, trong thời niên thiếu ở nhà cha mình, có hứa nguyện với Đức Giê-hô-va và buộc phải giữ điều mình đã hứa,
5 nếu cha nàng nghe lời thề hứa mà nàng buộc phải giữ lấy đó nhưng không nói gì, thì những lời khấn hứa hay thề nguyện mà nàng đã thề hứa vẫn có hiệu lực.
6 Nhưng nếu cha nàng khi nghe lời thề hứa và phản đối, thì những lời khấn hứa hay thề nguyện mà nàng đã thề hứa sẽ không còn hiệu lực nữa, và Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng, vì cha nàng ngăn cấm nàng.
7 Nếu người nữ ấy đã kết hôn và sau đó lỡ khấn hứa hoặc miệng nàng đã vội thốt ra điều gì tự ràng buộc mình,
8 và nếu ngày ấy chồng nàng nghe biết điều đó mà vẫn không nói gì, thì những lời khấn hứa và thề nguyện mà nàng đã thề hứa vẫn có hiệu lực.
9 Còn nếu ngày ấy chồng nàng biết được và phản đối, thì lời khấn hứa hoặc thề nguyện vội vàng đó sẽ không có hiệu lực, và Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng.
10 Bất cứ lời hứa nguyện của một đàn bà góa hoặc một người đàn bà ly dị thì buộc phải giữ lấy.
11 Nếu một người đàn bà đã khấn hứa trong khi sống ở nhà chồng mình, hoặc thề nguyện điều gì buộc phải giữ lấy,
12 và nếu người chồng đã nghe mà không nói gì và không phản đối, thì những lời khấn hứa và thề nguyện mà nàng đã thề hứa vẫn có hiệu lực.
13 Nhưng nếu ngày mà chồng nàng nghe biết và hủy bỏ lời thề hứa đó, thì mọi lời khấn hứa và thề nguyện mà miệng nàng đã thốt ra sẽ không còn hiệu lực. Vì chồng nàng đã hủy bỏ các lời đó nên Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.
14 Chồng nàng có quyền xác lập hay hủy bỏ mọi lời hứa nguyện mà nàng tự ràng buộc mình.
15 Nếu chồng nàng vẫn không nói gì với nàng cho đến hôm sau, có nghĩa là chồng nàng đã xác nhận mọi lời khấn hứa hay thề nguyện của nàng. Chồng nàng đã xác nhận lời đó, vì anh ta đã không phản ứng gì khi nghe vợ mình thề hứa.
16 Còn nếu người chồng hủy bỏ các lời hứa nguyện đó một thời gian sau khi nghe biết, thì người chồng sẽ mang lấy tội lỗi của vợ mình.”
17 Đó là các quy định mà Đức Giê-hô-va truyền dạy cho Môi-se liên hệ đến người chồng và vợ mình, người cha và con gái mình khi nàng còn niên thiếu ở nhà cha mình.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy báo thù người Ma-đi-an cho dân Y-sơ-ra-ên, sau đó con sẽ được về cùng tổ tiên.”
3 Vậy Môi-se truyền bảo dân chúng rằng: “Anh em hãy trang bị khí giới để tiến đánh dân Ma-đi-an và báo thù dân đó cho Đức Giê-hô-va.
4 Mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên phải gửi một nghìn quân ra trận.”
5 Vậy trong mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên, người ta chọn một nghìn quân và có mười hai nghìn người được trang bị khí giới để ra trận.
6 Môi-se sai mười hai nghìn người đó ra trận tức là sai mỗi bộ tộc một nghìn người, cùng với Phi-nê-a, con trai của thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, đem theo những khí giới thánh và kèn thúc quân.
7 Họ giao tranh với dân Ma-đi-an như Đức Giê-hô-va đã phán dạy Môi-se và họ giết tất cả người nam.
8 Trong số những người bị giết có năm vua Ma-đi-an là: Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ và Rê-ba. Họ cũng dùng gươm giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô.
9 Dân Y-sơ-ra-ên bắt phụ nữ và trẻ em Ma-đi-an làm tù binh, cướp tất cả súc vật, bầy chiên và của cải của chúng.
10 Họ đốt hết các thành nơi dân Ma-đi-an ở và các doanh trại,
11 rồi thu hết của cải, chiến lợi phẩm, kể cả người lẫn súc vật.
12 Họ đem những tù binh và những chiến lợi phẩm đến trước Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
13 Bấy giờ Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và tất cả những người lãnh đạo đi ra ngoài trại quân để gặp họ.
14 Môi-se nổi giận với các cấp chỉ huy quân đội vừa đánh trận trở về, tức là những chỉ huy trưởng một nghìn quân và những chỉ huy trưởng một trăm quân.
15 Môi-se nói với họ: “Sao anh em để tất cả phụ nữ sống sót?
16 Những phụ nữ nầy theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên cúng thờ Phê-ô, phạm tội trọng với Đức Giê-hô-va và khiến hội chúng của Đức Giê-hô-va phải mang họa.
17 Vậy bây giờ, hãy giết hết trẻ em nam và phụ nữ nào đã ăn nằm với người nam,
18 nhưng chừa lại tất cả những thiếu nữ chưa ăn nằm với người nam nào.
19 Còn về phần anh em, hãy đóng trại ngoài trại quân trong bảy ngày. Ai giết người hoặc đụng đến xác chết thì người đó phải tự thanh tẩy mình vào ngày thứ ba và ngày thứ bảy.
20 Cũng phải thanh tẩy tất cả quần áo, mọi vật bằng da, mọi vật bằng lông dê và mọi đồ đạc bằng gỗ.”
21 Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nói với những người lính đi đánh trận về rằng: “Đây là quy định của luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se:
22 Vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì,
23 tức là mọi vật có thể chịu được lửa thì anh em phải đưa ngang qua lửa để được tẩy sạch. Tuy nhiên, cũng phải dùng nước tẩy uế để thanh tẩy cho vật ấy nữa. Còn bất cứ vật gì không thể chịu được lửa thì phải cho qua nước tẩy uế đó.
24 Vào ngày thứ bảy, các con phải giặt áo quần mình cho sạch sẽ rồi mới được vào trại quân.”
25 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
26 “Con và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa cùng với các thủ lĩnh của hội chúng hãy kiểm kê các chiến lợi phẩm đã thu được, cả người lẫn súc vật,
27 rồi chia đôi chiến lợi phẩm đó cho những chiến sĩ và cả hội chúng.
28 Trong phần thuộc về các chiến sĩ đã ra trận, hoặc người hoặc bò hoặc lừa hoặc chiên, con phải lấy một phần năm trăm đem dâng cho Đức Giê-hô-va.
29 Hãy lấy phần dâng hiến đó trong một nửa thuộc về các chiến sĩ giao cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.
30 Còn trong một nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, con hãy lấy một phần năm mươi, hoặc người hoặc bò hoặc lừa hoặc chiên, tức là tất cả súc vật, và giao cho người Lê-vi, là người chịu trách nhiệm coi sóc Đền Tạm của Đức Giê-hô-va.”
31 Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa làm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dạy Môi-se.
32 Số chiến lợi phẩm còn lại mà quân lính thu được là sáu trăm bảy mươi lăm nghìn con chiên;
33 bảy mươi hai nghìn con bò,
34 sáu mươi mốt nghìn con lừa đực,
35 và ba mươi hai nghìn trinh nữ.
36 Trong một nửa thuộc về những người đã ra trận là ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm con chiên,
37 thì dâng cho Đức Giê-hô-va sáu trăm bảy mươi lăm con;
38 ba mươi sáu nghìn con bò, thì dâng cho Đức Giê-hô-va là bảy mươi hai con;
39 ba nghìn năm trăm con lừa đực, thì dâng cho Đức Giê-hô-va sáu mươi mốt con;
40 mười sáu nghìn người, thì dâng cho Đức Giê-hô-va là ba mươi hai người.
41 Môi-se giao cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa phần dâng hiến làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va đúng như Ngài đã phán dạy Môi-se.
42 Một nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, tức là một nửa mà Môi-se đã chia với những người ra trận.
43 Một nửa nầy thuộc về hội chúng, gồm có: ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm con chiên,
44 ba mươi sáu nghìn con bò,
45 ba mươi nghìn năm trăm con lừa,
46 và mười sáu nghìn người.
47 Trong một nửa nầy thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se lấy ra một phần năm mươi từ người hay súc vật và giao cho người Lê-vi, là những người có trách nhiệm coi sóc Đền Tạm của Đức Giê-hô-va đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dạy mình.
48 Các cấp chỉ huy tức là chỉ huy trưởng một nghìn quân và chỉ huy trưởng một trăm quân đến gần Môi-se,
49 và nói: “Các đầy tớ ông đã kiểm tra các chiến sĩ là những người ở dưới quyền chúng tôi và không thiếu một người nào.
50 Mỗi người trong chúng tôi có đem lễ vật bằng vàng đã thu được như dây chuyền, xuyến, nhẫn, bông tai, và kiềng, dâng lên Đức Giê-hô-va để chuộc tội cho mình trước mặt Ngài.”
51 Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa tiếp nhận số vàng, tức là tất cả đồ trang sức ấy.
52 Tất cả lễ vật bằng vàng mà những chỉ huy trưởng một nghìn quân và chỉ huy trưởng một trăm quân dâng cho Đức Giê-hô-va, tổng cộng khoảng một trăm chín mươi ký.
53 Mỗi chiến sĩ ra trận đều lấy chiến lợi phẩm cho riêng mình.
54 Vậy Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa tiếp nhận số vàng của các chỉ huy trưởng một nghìn quân và chỉ huy trưởng một trăm quân, rồi đem vào Lều Hội Kiến làm kỷ niệm cho dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va.
1 Con cháu Ru-bên và con cháu Gát có rất nhiều bầy súc vật. Họ thấy đất Gia-ê-xe và Ga-la-át là đất thích hợp cho việc chăn nuôi súc vật
2 nên đến thưa với Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và các nhà lãnh đạo rằng:
3 “Đất A-ta-rốt, Đi-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra, Hết-bôn, Ê-lê-a-sa, Sê-bam, Nê-bô và Bê-ôn
4 mà Đức Giê-hô-va đã chinh phục trước mặt hội chúng Y-sơ-ra-ên, là đất thích hợp cho việc chăn nuôi súc vật. Hơn nữa, các đầy tớ ông lại có nhiều bầy súc vật.
5 Nếu chúng tôi được ơn trước mặt ông, xin ông ban đất ấy cho các đầy tớ ông làm sản nghiệp. Xin đừng bắt chúng tôi đi qua sông Giô-đanh.”
6 Nhưng Môi-se trả lời với con cháu Gát và con cháu Ru-bên rằng: “Trong khi anh em mình ra trận mà anh em ở lại đây sao?
7 Tại sao anh em làm cho dân Y-sơ-ra-ên nản lòng không chịu đi vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ?
8 Tổ phụ anh em cũng làm như vậy khi từ Ca-đe Ba-nê-a tôi sai họ đi do thám xứ.
9 Vì tổ phụ anh em sau khi đi đến thung lũng Ếch-côn để quan sát xứ, thì đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên nản lòng không chịu vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ.
10 Trong ngày đó, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên và Ngài thề rằng:
11 ‘Những người đi ra khỏi Ai Cập từ hai mươi tuổi trở lên sẽ chẳng hề thấy xứ mà Ta đã hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, vì họ không hết lòng đi theo Ta,
12 ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là người Kê-nít và Giô-suê, con trai của Nun, vì hai người đó đã hết lòng đi theo Đức Giê-hô-va.’
13 Vì thế, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với dân Y-sơ-ra-ên, và Ngài khiến họ phải đi lang thang trong hoang mạc bốn mươi năm, cho đến khi cả thế hệ làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va đều bị tiêu diệt.
14 Bây giờ, anh em là dòng dõi của những kẻ tội lỗi, lại thay thế tổ phụ mình nổi lên và làm cho cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va với Y-sơ-ra-ên càng tăng thêm.
15 Nếu anh em tiếp tục từ bỏ Ngài thì Ngài sẽ bỏ dân nầy trong hoang mạc và anh em sẽ khiến cho họ bị tiêu diệt.”
16 Nhưng các người đó đến với Môi-se và nói: “Chúng tôi sẽ xây chuồng súc vật và thành trì cho con cái chúng tôi,
17 và chúng tôi sẵn sàng cầm vũ khí đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến khi đưa họ vào địa phận của họ. Chỉ có con cái chúng tôi sẽ ở lại trong thành kiên cố vì sợ dân địa phương tấn công.
18 Chúng tôi sẽ không quay trở về nhà chúng tôi cho đến khi mọi người Y-sơ-ra-ên đều nhận sản nghiệp mình.
19 Chúng tôi sẽ không nhận sản nghiệp với dân Y-sơ-ra-ên ở bên kia sông Giô-đanh hay là xa hơn nữa vì chúng tôi đã được sản nghiệp mình ở phía đông sông Giô-đanh nầy rồi.”
20 Môi-se trả lời với họ: “Nếu anh em làm điều đó, cầm vũ khí chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va,
21 và nếu tất cả đều cầm vũ khí vượt qua sông Giô-đanh trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến khi Ngài đuổi hết quân thù khỏi trước mặt Ngài
22 và chỉ quay về sau khi đã chinh phục đất ấy trước mặt Đức Giê-hô-va, thì anh em đã làm xong trách nhiệm đối với Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên. Và khi ấy, đất nầy sẽ là sản nghiệp của anh em trước mặt Đức Giê-hô-va.
23 Nhưng, nếu anh em không làm như thế, anh em thật đã phạm tội với Đức Giê-hô-va và phải biết rằng tội ấy chắc sẽ đổ lại trên anh em.
24 Vậy, hãy xây thành cho con cái, dựng chuồng cho bầy súc vật và làm điều anh em đã nói.”
25 Con cháu Gát và con cháu Ru-bên nói với Môi-se: “Các đầy tớ ông sẽ làm điều mà ông là chúa chúng tôi đã dặn bảo.
26 Vợ và con nhỏ, bầy chiên và tất cả gia súc của chúng tôi sẽ ở lại đây trong các thành của Ga-la-át,
27 còn tất cả đầy tớ ông sẽ cầm khí giới vượt qua sông mà chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va như ông là chúa chúng tôi đã dặn bảo.”
28 Vậy Môi-se truyền lệnh liên quan đến hai bộ tộc ấy cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, cho Giô-suê con trai Nun, và cho các thủ lĩnh của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
29 Ông nói với họ: “Nếu con cháu Gát và con cháu Ru-bên cầm vũ khí đi qua sông Giô-đanh với anh em để chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va và khi đất đã được chinh phục rồi, thì anh em phải ban cho họ đất Ga-la-át làm sản nghiệp.
30 Nhưng nếu họ không cầm vũ khí đi qua sông với anh em thì họ sẽ nhận sản nghiệp giữa anh em trong đất Ca-na-an.”
31 Con cháu Gát và con cháu Ru-bên thưa: “Chúng tôi sẽ làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán với các đầy tớ ông.
32 Chúng tôi sẽ cầm vũ khí đi vào xứ Ca-na-an trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng chúng tôi sẽ nhận sản nghiệp mình về phía bên nầy sông Giô-đanh.”
33 Vậy Môi-se ban cho con cháu Gát, con cháu Ru-bên và một nửa bộ tộc Ma-na-se là con cháu của Giô-sép, vương quốc của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và vương quốc của Óc, vua xứ Ba-san, gồm có đất và các thành của nó cùng các vùng phụ cận.
34 Con cháu Gát xây thành Đi-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,
35 Ạt-rốt Sô-phan, Gia-ê-xe, Giô-bê-ha,
36 Bết Nim-ra và Bết Ha-ran là những thành kiên cố. Họ cũng làm chuồng cho bầy súc vật nữa.
37 Con cháu Ru-bên xây thành Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Ki-ri-a-ta-im,
38 Nê-bô, Ba-anh Mê-ôn (tên các thành nầy đã thay đổi) và Síp-ma. Họ đặt tên cho các thành mình xây cất.
39 Con cháu Ma-ki là con trai Ma-na-se đi vào chiếm đất Ga-la-át và đuổi người A-mô-rít ở đó đi.
40 Vậy Môi-se ban đất Ga-la-át cho Ma-ki, con trai Ma-na-se, và ông định cư tại đó.
41 Giai-rơ là con trai Ma-na-se đi đánh chiếm các làng mạc của dân A-mô-rít và đổi tên là làng Giai-rơ.
42 Nô-bách đi đánh chiếm Kê-nát và các làng của nó rồi đặt tên là Nô-bách theo tên mình.
1 Đây là các cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi xứ Ai Cập theo từng đội ngũ, dưới sự lãnh đạo của Môi-se và A-rôn.
2 Môi-se vâng lệnh Đức Giê-hô-va ghi lại cuộc hành trình của dân chúng theo từng chặng đường. Sau đây là các chặng đường kể theo những điểm khởi hành:
3 Dân Y-sơ-ra-ên khởi hành từ Ram-se vào ngày rằm tháng giêng, một ngày sau lễ Vượt Qua. Họ ra đi một cách dạn dĩ trước sự chứng kiến của người Ai Cập.
4 Trong lúc đó, người Ai Cập lo chôn cất những con đầu lòng mà Đức Giê-hô-va đã trừng phạt vì Ngài đã phán xét các thần của chúng.
5 Dân Y-sơ-ra-ên rời Ram-se và đến đóng trại tại Su-cốt,
6 rồi rời Su-cốt đến đóng trại tại Ê-tam ở cuối hoang mạc.
7 Kế đó, họ rời Ê-tam, đi vòng về hướng Phi Ha-hi-rốt đối diện với Ba-anh Sê-phôn và đóng trại trước Mít-đôn.
8 Dân Y-sơ-ra-ên rời Phi Ha-hi-rốt, vượt qua biển hướng về hoang mạc và đi ba ngày đường trong hoang mạc Ê-tam rồi đóng trại tại Ma-ra.
9 Họ rời Ma-ra đến Ê-lim. Ở Ê-lim có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là; rồi họ đóng trại tại đó.
10 Rời Ê-lim, họ đến đóng trại gần Biển Đỏ.
11 Họ rời Biển Đỏ và đóng trại trong hoang mạc Sin.
12 Rời hoang mạc Sin, họ đóng trại tại Đáp-ca.
13 Họ rời Đáp-ca và đóng trại tại A-lúc.
14 Rời A-lúc, họ đóng trại tại Rê-phi-đim là nơi không có nước cho dân chúng uống.
15 Họ rời Rê-phi-đim và đóng trại trong hoang mạc Si-na-i.
16 Kế đó, họ rời hoang mạc Si-na-i và đóng trại tại Kíp-rốt Ha-tha-va.
17 Rời Kíp-rốt Ha-tha-va, họ đóng trại tại Hát-sê-rốt.
18 Họ rời Hát-sê-rốt và đóng trại tại Rít-ma.
19 Rời Rít-ma, họ đóng trại tại Ri-môn Phê-rết.
20 Họ rời Ri-môn Phê-rết và đóng trại tại Líp-na.
21 Rời Líp-na, họ đóng trại tại Ri-sa.
22 Kế đó, họ rời Ri-sa và đóng trại tại Kê-hê-la-tha.
23 Rời Kê-hê-la-tha, họ đóng trại tại núi Sê-phe.
24 Họ rời Sê-phe và đóng trại tại Ha-ra-đa.
25 Rời Ha-ra-đa, họ đóng trại tại Mác-hê-lốt.
26 Họ rời Mác-hê-lốt và đóng trại tại Ta-hát.
27 Rời Ta-hát, họ đóng trại tại Ta-rách.
28 Họ rời Ta-rách và đóng trại tại Mít-ga.
29 Rời Mít-ga, họ đóng trại tại Hách-mô-na.
30 Họ rời Hách-mô-na và đóng trại tại Mô-sê-rốt.
31 Rời Mô-sê-rốt, họ đóng trại tại Bê-nê Gia-a-can.
32 Họ rời Bê-nê Gia-a-can và đóng trại tại Hô Ghi-gát.
33 Rời Hô Ghi-gát, họ đóng trại tại Dốt-ba-tha.
34 Họ rời Dốt-ba-tha và đóng trại tại Áp-rô-na.
35 Rời Áp-rô-na, họ đóng trại tại Ê-xi-ôn Ghê-be.
36 Họ rời Ê-xi-ôn Ghê-be và đóng trại tại hoang mạc Xin nghĩa là tại Ca-đe.
37 Kế đó, họ rời Ca-đe và đóng trại trên núi Hô-rơ, biên giới của Ê-đôm.
38 Thầy tế lễ A-rôn lên núi Hô-rơ theo lệnh của Đức Giê-hô-va và qua đời tại đó nhằm ngày mồng một tháng năm, năm thứ bốn mươi sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
39 A-rôn qua đời trên núi Hô-rơ, hưởng thọ một trăm hai mươi ba tuổi.
40 Bấy giờ, vua A-rát là người Ca-na-an ở Nê-ghép của xứ Ca-na-an, nghe tin dân Y-sơ-ra-ên đã đến.
41 Dân Y-sơ-ra-ên rời núi Hô-rơ và đóng trại tại Xa-mô-na.
42 Rời Xa-mô-na, họ đóng trại tại Phu-nôn.
43 Họ rời Phu-nôn và đóng trại tại Ô-bốt.
44 Kế đó, họ rời Ô-bốt và đóng trại tại Y-giê A-ba-rim trên biên giới Mô-áp.
45 Rời Y-giê A-ba-rim, họ đóng trại tại Đi-bôn Gát.
46 Họ rời Đi-bôn Gát và đóng trại tại Anh-môn Đíp-la-tha-im.
47 Kế đó, họ rời Anh-môn Đíp-la-tha-im và đóng trại tại núi A-ba-rim trước Nê-bô.
48 Rời A-ba-rim, họ đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
49 Họ đóng trại gần sông Giô-đanh, từ Bết Giê-si-mốt đến A-bên Si-tim trong đồng bằng Mô-áp.
50 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trong đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, rằng:
51 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên: ‘Khi các con vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ Ca-na-an
52 thì phải đuổi tất cả dân bản địa khỏi các con, phá hủy hết tượng chạm và tượng đúc cùng triệt hạ tất cả các nơi cao của chúng.
53 Các con sẽ nhận xứ ấy làm sản nghiệp và định cư tại đó, vì Ta đã ban xứ ấy cho các con làm sản nghiệp.
54 Hãy bắt thăm để phân chia đất tùy theo gia tộc các con. Gia tộc nào đông người thì cho một sản nghiệp lớn hơn; còn gia tộc nào ít người thì cho một sản nghiệp nhỏ hơn. Mỗi người sẽ nhận lãnh phần mình tùy theo thăm bắt được. Cứ theo từng bộ tộc của tổ phụ các con mà phân chia xứ.
55 Nhưng nếu các con không đuổi hết dân bản địa đi thì các dân mà các con còn để lại sẽ như gai trong con mắt và như chông nơi hông các con. Chúng sẽ theo quấy nhiễu các con trong đất mình đang ở.
56 Rồi đến lúc Ta cũng sẽ đối xử với các con như Ta định đối xử với chúng vậy.’”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy truyền lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con vào xứ Ca-na-an là đất mà các con nhận làm sản nghiệp, thì ranh giới của đất ấy như sau:
3 Về phía nam, đất ấy sẽ từ hoang mạc Xin chạy dài theo Ê-đôm. Như thế, ranh giới phía nam của các con sẽ chạy từ cuối Biển Chết, về hướng đông.
4 Ranh giới nầy chạy vòng phía nam của núi Ạc-ráp-bim đi ngang qua hướng Xin và tiếp giáp phía nam Ca-đe Ba-nê-a, rồi chạy qua Hát-sa Át-đa và đi về hướng Át-môn.
5 Ranh giới chạy từ Át-môn đi vòng về suối Ai Cập và dừng lại ở biển.
6 Ranh giới phía tây của các con sẽ là Biển Lớn. Đó là ranh giới phía tây của các con.
7 Ranh giới phía bắc của các con sẽ chạy từ Biển Lớn đến tận núi Hô-rơ.
8 Từ núi Hô-rơ, ranh giới chạy về lối vào Ha-mát, qua Xê-đát,
9 rồi chạy về hướng Xíp-rôn và kết thúc tại Hát-sa Ê-nan. Đó là ranh giới của các con về phía bắc.
10 Ranh giới phía đông của các con sẽ từ Hát-sa Ê-nan đến Sê-pham,
11 và chạy từ Sê-pham xuống đến Ríp-la về hướng đông của A-in, rồi chạy xuống nữa cho đến khi tiếp giáp với biển Ki-nê-rết về phía đông.
12 Như thế ranh giới sẽ chạy xuống phía sông Giô-đanh và kết thúc ở Biển Chết. Đó là lãnh thổ của các con với các ranh giới chung quanh.’”
13 Môi-se truyền lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Đó là xứ mà anh em sẽ bắt thăm nhận làm sản nghiệp, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ban cho chín bộ tộc rưỡi.
14 Vì bộ tộc Ru-bên theo từng gia tộc; bộ tộc Gát theo từng gia tộc, và nửa bộ tộc Ma-na-se đã lãnh phần sản nghiệp của họ rồi.
15 Hai bộ tộc rưỡi trên đã nhận sản nghiệp mình bên kia sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô về hướng đông, tức về hướng mặt trời mọc.”
16 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
17 “Đây là tên những người sẽ đứng ra chia xứ: Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và Giô-suê, con trai Nun.
18 Các con cũng phải chọn mỗi bộ tộc một người lãnh đạo để phân chia xứ.
19 Sau đây là tên những người ấy: Bộ tộc Giu-đa có Ca-lép, con trai Giê-phu-nê.
20 Bộ tộc Si-mê-ôn có Sê-mu-ên, con trai A-mi-hút.
21 Bộ tộc Bên-gia-min có Ê-li-đát, con trai Kít-lon.
22 Bộ tộc Đan có người lãnh đạo tên là Bu-ki, con trai Giốc-li.
23 Con cháu Giô-sép gồm bộ tộc Ma-na-se, có người lãnh đạo tên là Ha-ni-ên, con trai Ê-phát,
24 và bộ tộc Ép-ra-im có người lãnh đạo tên là Kê-mu-ên, con trai Síp-tan.
25 Bộ tộc Sa-bu-lôn có người lãnh đạo tên là Ê-lít-sa-phan, con trai Phác-nát.
26 Bộ tộc Y-sa-ca có người lãnh đạo tên là Pha-ti-ên, con trai A-xan.
27 Bộ tộc A-se có người lãnh đạo tên là A-hi-hút, con trai Sê-lô-mi.
28 Và bộ tộc Nép-ta-li có người lãnh đạo tên là Phê-đa-ên, con trai A-mi-hút.”
29 Đó là những người mà Đức Giê-hô-va đã chỉ định đứng ra phân chia sản nghiệp cho dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ca-na-an.
1 Tại đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cấp cho người Lê-vi những thành lấy từ trong phần sản nghiệp mình để họ ở. Cũng hãy cho họ những cánh đồng cỏ chung quanh các thành đó.
3 Họ sẽ cư trú trong thành, còn đất chung quanh các thành ấy sẽ dùng cho gia súc, tài vật và tất cả loài thú khác.
4 Cánh đồng cỏ chung quanh thành mà các con cấp cho người Lê-vi sẽ rộng bốn trăm năm chục mét kể từ vách ngoài của thành.
5 Vậy các con phải đo phía ngoài thành về hướng đông chín trăm mét, về hướng nam chín trăm mét, về hướng tây chín trăm mét, về hướng bắc chín trăm mét, còn thành sẽ ở chính giữa. Đó sẽ là cánh đồng cỏ cho những thành của người Lê-vi.”
6 “Trong số thành các con cấp cho người Lê-vi sẽ có sáu thành ẩn náu để kẻ sát nhân có thể trốn ở đó. Ngoài sáu thành đó, các con phải cấp cho người Lê-vi bốn mươi hai thành nữa.
7 Tất cả thành mà các con sẽ cấp cho người Lê-vi luôn với cánh đồng cỏ là bốn mươi tám thành.
8 Những thành mà các con lấy trong sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên để cấp cho người Lê-vi thì bộ tộc có nhiều đất sẽ bị lấy nhiều; bộ tộc có ít đất sẽ bị lấy ít. Mỗi bộ tộc sẽ cấp cho người Lê-vi những thành tỉ lệ theo sản nghiệp mà họ sẽ có.”
9 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
10 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi đã vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ Ca-na-an,
11 các con phải chọn những thành dùng làm thành ẩn náu cho mình, tức là nơi kẻ vô ý đánh chết người có thể chạy đến ẩn náu.
12 Những thành đó sẽ là nơi ẩn náu của kẻ ngộ sát trốn khỏi kẻ đòi nợ máu và không phải chết, cho đến khi đứng trước mặt hội chúng để chịu xét xử.
13 Vậy, trong những thành các con cấp đó sẽ có sáu thành ẩn náu cho các con.
14 Các con sẽ cấp ba thành phía bên kia sông Giô-đanh và ba thành khác trong đất Ca-na-an để làm những thành ẩn náu.
15 Sáu thành nầy sẽ dùng làm chỗ ẩn náu cho dân Y-sơ-ra-ên, cho khách lạ và kiều dân ở giữa họ, để ai vô ý đánh chết người có thể chạy trốn ở đó.
16 Nhưng nếu ai dùng đồ sắt đánh chết một người thì người ấy là kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân phải bị xử tử.
17 Nếu ai cầm trong tay một cục đá có thể gây chết người và đánh chết một người thì người đó là một kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân phải bị xử tử.
18 Hoặc nếu ai cầm trong tay vật bằng gỗ có thể gây chết người và đánh chết một người thì người ấy là một kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân phải bị xử tử.
19 Chính người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân. Khi gặp kẻ sát nhân thì người đòi nợ máu sẽ giết hắn.
20 Nếu ai vì lòng ganh ghét xô đẩy một người hay là cố ý ném vật gì vào một người và gây chết người,
21 hoặc nếu ai vì thù hiềm mà dùng tay đánh người nào đó và gây chết người thì người ấy sẽ phải bị xử tử; đó là một kẻ sát nhân. Người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân khi gặp hắn.
22 Nhưng nếu ai vì vô ý chứ không phải do thù hiềm mà xô lấn hoặc ném vật gì vào một người,
23 hoặc nếu ai vì vô ý chứ không phải thù hiềm và không thấy mà làm rớt một cục đá trên một người, gây chết người,
24 thì hội chúng phải phân xử giữa kẻ ngộ sát đó với người đòi nợ máu theo luật nầy:
25 Hội chúng sẽ giải cứu kẻ ngộ sát khỏi tay người đòi nợ máu và gửi nó trở về thành ẩn náu là nơi nó đã chạy trốn và nó phải ở đó cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm, là người được xức dầu thánh, qua đời.
26 Nhưng nếu kẻ sát nhân đi ra ngoài giới hạn của thành ẩn náu là nơi nó đã chạy đến ẩn mình,
27 và nếu kẻ đòi nợ máu gặp và giết nó ở ngoài giới hạn thành ẩn náu thì kẻ đòi nợ máu sẽ không phạm tội sát nhân.
28 Vì kẻ sát nhân phải ở trong thành ẩn náu cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời. Kẻ sát nhân chỉ được trở về trong sản nghiệp mình sau khi thầy tế lễ qua đời.
29 Đó là luật phân xử mà các con phải tuân theo trải qua mọi thế hệ và ở bất cứ nơi đâu.
30 Nếu ai giết người thì sẽ bị xử tử như kẻ sát nhân dựa trên lời khai của các nhân chứng. Nhưng chỉ một nhân chứng thì không đủ để kết án tử hình.
31 Các con không được nhận tiền chuộc mạng của một kẻ sát nhân can án chết. Nó phải bị xử tử.
32 Cũng không được nhận tiền để cho kẻ cố sát được ở trong thành ẩn náu rồi sau nó được trở về xứ khi thầy tế lễ qua đời.
33 Các con chớ làm ô uế đất mà các con sẽ ở. Vì chính máu làm ô uế đất và không thể thanh tẩy đất đã thấm máu ngoại trừ máu của kẻ đã làm đổ máu.
34 Vậy các con đừng làm ô uế đất là nơi các con sẽ ở, vì chính Ta là Đức Giê-hô-va sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên.’”
1 Các trưởng tộc của Ga-la-át là con trai Ma-ki, cháu Ma-na-se, thuộc dòng dõi Giô-sép, đến trước Môi-se và các nhà lãnh đạo là những trưởng tộc của dân Y-sơ-ra-ên và nói:
2 “Đức Giê-hô-va truyền phán với chúa tôi bắt thăm để chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp và Đức Giê-hô-va đã bảo chúa tôi giao sản nghiệp của anh chúng tôi là Xê-lô-phát cho các con gái anh ấy.
3 Nếu các con gái kết hôn với một trong những con trai thuộc các bộ tộc khác của dân Y-sơ-ra-ên thì sản nghiệp của họ sẽ bị truất khỏi sản nghiệp của tổ phụ chúng tôi và thêm vào sản nghiệp của bộ tộc nào mà họ kết hôn. Như vậy phần đó bị truất khỏi sản nghiệp thuộc về chúng tôi.
4 Đến Năm Hân Hỉ của dân Y-sơ-ra-ên, sản nghiệp của họ sẽ thêm vào sản nghiệp của bộ tộc nào mà họ kết hôn. Như vậy, sản nghiệp của họ sẽ bị truất khỏi sản nghiệp của bộ tộc tổ phụ chúng tôi.”
5 Vậy, Môi-se truyền lệnh nầy của Đức Giê-hô-va cho dân Y-sơ-ra-ên: “Con cháu của bộ tộc thuộc Giô-sép nói có lý.
6 Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền phán liên quan đến các con gái Xê-lô-phát: ‘Họ muốn kết hôn với ai tùy ý, nhưng chỉ được kết hôn với một trong những gia đình của bộ tộc tổ phụ mình.
7 Như vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên không một sản nghiệp nào được chuyển từ bộ tộc nầy qua bộ tộc khác, vì mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên sẽ giữ gìn sản nghiệp thuộc về bộ tộc của tổ phụ mình.
8 Mỗi người con gái muốn được hưởng một phần sản nghiệp trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên thì phải kết hôn với một người thuộc một trong các gia tộc của bộ tộc tổ phụ mình. Như vậy, mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên đều được thừa hưởng phần sản nghiệp của tổ phụ mình.
9 Vậy không một phần sản nghiệp nào được chuyển từ bộ tộc nầy qua bộ tộc kia, vì mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên sẽ gìn giữ sản nghiệp mình.’”
10 Các con gái Xê-lô-phát làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
11 Các con gái của Xê-lô-phát là Mách-la, Tiệt-sa, Hốt-la, Minh-ca và Nô-a đều kết hôn cùng các con trai của chú mình.
12 Họ kết hôn với những người nam trong các gia tộc thuộc con cháu Ma-na-se là con trai Giô-sép; phần sản nghiệp của họ còn giữ lại trong bộ tộc tổ phụ mình.
13 Đó là những mệnh lệnh và luật lệ mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.