1 Đức Giê-hô-va từ trong Lều Hội Kiến gọi Môi-se và phán:
2 “Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi có một người trong các con muốn dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va thì phải dâng bò, chiên hay dê từ đàn gia súc.
3 Nếu lễ vật của người ấy là tế lễ thiêu bằng bò thì phải chọn một con bò đực không tì vết. Người ấy phải dâng nó tại cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, để được Ngài vui nhậm.
4 Người dâng lễ vật sẽ đặt tay trên đầu con vật làm tế lễ thiêu và nó sẽ được chấp nhận như một sinh tế chuộc tội thay cho người ấy.
5 Con bò đực sẽ bị giết trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các con cháu A-rôn là những thầy tế lễ lấy máu nó dâng lên và rảy chung quanh bàn thờ tại cửa Lều Hội Kiến.
6 Người ấy lột da con vật làm tế lễ thiêu và sả thịt ra từng miếng.
7 Các thầy tế lễ là con cháu A-rôn sẽ nhóm lửa trên bàn thờ và chất củi lên.
8 Rồi các thầy tế lễ sắp các miếng thịt, đầu và mỡ lên củi đang cháy trên bàn thờ.
9 Người dâng lễ vật phải lấy nước rửa bộ lòng và giò, rồi thầy tế lễ đem thiêu tất cả trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu, tức là một sinh tế dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
10 Nếu lễ vật của người đó là tế lễ thiêu bằng gia súc nhỏ, hoặc chiên hay dê thì phải dâng một con đực không tì vết.
11 Người dâng lễ vật phải giết nó tại phía bắc của bàn thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các con cháu A-rôn là những thầy tế lễ sẽ rảy máu chung quanh bàn thờ.
12 Người ấy phải sả thịt ra từng miếng, cả đầu và mỡ. Thầy tế lễ sắp tất cả lên củi đang cháy trên bàn thờ.
13 Người ấy cũng phải lấy nước rửa bộ lòng và giò, rồi thầy tế lễ đem thiêu tất cả trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu, tức là một sinh tế dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
14 Nếu lễ vật của người đó dâng lên Đức Giê-hô-va là một tế lễ thiêu bằng chim thì phải dùng chim gáy hoặc bồ câu con.
15 Thầy tế lễ sẽ đem nó đến bàn thờ, vặn đứt đầu ra rồi thiêu nó trên bàn thờ; còn máu thì cho chảy ra cạnh bàn thờ.
16 Thầy tế lễ sẽ lấy cái diều và bộ lông ném bên cạnh bàn thờ, về phía đông, là chỗ đổ tro,
17 rồi nắm hai cánh xé con chim ra, nhưng không xé đứt hẳn. Thầy tế lễ sẽ thiêu nó trên bàn thờ nơi củi đang cháy. Đó là tế lễ thiêu, tức là sinh tế dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.’”
1 “‘Khi có người muốn dâng một tế lễ chay lên Đức Giê-hô-va thì lễ vật đó phải làm bằng bột lọc. Người ấy phải chế dầu vào và để nhũ hương lên trên,
2 rồi đem đến cho các con cháu A-rôn, là những thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ lấy một nắm bột lọc, dầu và tất cả nhũ hương rồi đốt trên bàn thờ tượng trưng cho cả tế lễ chay. Đó là tế lễ dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
3 Phần còn lại của tế lễ chay sẽ thuộc về A-rôn và con cái người. Đó là phần rất thánh lấy từ các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
4 Khi các con dâng tế lễ chay bằng bánh nướng trong lò thì bánh đó phải làm bằng bột không men nhồi với dầu, hoặc làm thành bánh tráng không men thoa dầu.
5 Nếu các con dùng bánh nướng trên vỉ làm tế lễ chay thì bánh đó phải làm bằng bột không men nhồi với dầu,
6 phải bẻ ra từng miếng và chế dầu lên. Đó là tế lễ chay.
7 Nếu tế lễ chay là bánh chiên trong chảo lớn thì bánh đó phải làm bằng bột nhồi với dầu.
8 Các con sẽ đem tế lễ chay đã được chuẩn bị như thế dâng lên Đức Giê-hô-va; khi đã trao cho thầy tế lễ thì ông ấy sẽ đem đến bàn thờ.
9 Thầy tế lễ sẽ lấy một phần từ tế lễ chay đó để tượng trưng cho cả tế lễ và thiêu trên bàn thờ. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
10 Phần còn lại của tế lễ chay sẽ thuộc về A-rôn và con cái người. Đó là một phần rất thánh lấy từ tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
11 Tế lễ chay mà các con dâng lên Đức Giê-hô-va không được pha men vì các con không được thiêu men hay mật ong trong tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
12 Các con có thể dâng những thứ đó lên Đức Giê-hô-va như lễ vật đầu mùa nhưng không được đốt trên bàn thờ như tế lễ có hương thơm.
13 Phải nêm muối vào các tế lễ chay. Không được dâng tế lễ chay thiếu muối vì muối là giao ước của Đức Chúa Trời mình. Các con phải dâng muối chung với tất cả các lễ vật.
14 Nếu các con dùng hoa quả đầu mùa làm tế lễ chay dâng lên Đức Giê-hô-va thì phải lấy lúa mới, rang trên lửa rồi xay thành bột,
15 chế dầu vào và để nhũ hương lên trên. Đó là tế lễ chay.
16 Thầy tế lễ sẽ lấy một phần hạt xay nhồi với dầu cùng tất cả nhũ hương và thiêu đi để tượng trưng cho cả tế lễ. Đó là tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.’”
1 “‘Người nào muốn dâng tế lễ bình an bằng bò đực hoặc bò cái thì phải dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va một con bò không tì vết.
2 Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con sinh tế rồi giết nó tại cửa Lều Hội Kiến. Các con cháu A-rôn, tức là những thầy tế lễ, sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
3 Rồi lấy một phần từ sinh tế của tế lễ bình an nầy làm lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là lớp mỡ bọc bộ lòng và lớp mỡ dính vào bộ lòng,
4 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật.
5 Các con cháu A-rôn sẽ thiêu những thứ đó tại bàn thờ chung với tế lễ thiêu đã đặt trên củi đang cháy. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
6 Người nào muốn dâng sinh tế của tế lễ bình an bằng chiên hay dê thì phải dâng lên Đức Giê-hô-va một con đực hoặc cái không tì vết.
7 Khi người ấy dâng chiên con làm lễ vật thì phải dâng nó trước mặt Đức Giê-hô-va,
8 đặt tay trên đầu con chiên rồi giết nó trước cửa Lều Hội Kiến. Các con cháu A-rôn sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
9 Rồi lấy một phần từ tế lễ bình an nầy làm lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là mỡ, nguyên cái đuôi chặt gần cuối xương sống, lớp mỡ bọc bộ lòng và lớp mỡ dính vào bộ lòng,
10 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật.
11 Thầy tế lễ sẽ thiêu những thứ đó trên bàn thờ như là thức ăn dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
12 Khi lễ vật của người ấy là một con dê cái thì phải dâng nó lên trước mặt Đức Giê-hô-va,
13 đặt tay mình trên đầu con dê rồi giết nó trước Lều Hội Kiến. Các con cháu A-rôn sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
14 Rồi lấy một phần từ tế lễ bình an làm lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là lớp mỡ bọc bộ lòng và lớp mỡ dính vào bộ lòng,
15 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật.
16 Thầy tế lễ sẽ thiêu các thứ đó trên bàn thờ như là thức ăn dùng lửa dâng lên có mùi thơm. Tất cả mỡ đều thuộc về Đức Giê-hô-va.
17 Đây là luật lệ đời đời cho dòng dõi các con tại khắp nơi các con cư trú: các con không được ăn mỡ hoặc huyết.’”
1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
2 “Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi có người vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va và làm điều không được phép làm:
3 Nếu là thầy tế lễ thượng phẩm chịu xức dầu rồi mà phạm tội gây cho dân chúng mắc tội, thì vì tội mình đã phạm, thầy tế lễ đó phải dâng lên Đức Giê-hô-va một con bò không tì vết để làm sinh tế chuộc tội.
4 Người ấy sẽ dẫn con bò đó đến cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, đặt tay trên đầu nó rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va.
5 Thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu sẽ lấy một phần máu bò đó đem vào trong Lều Hội Kiến,
6 nhúng ngón tay vào máu và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, phía trước bức màn của Đền Thánh.
7 Thầy tế lễ sẽ bôi máu trên các sừng của bàn thờ xông hương đặt trong Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi đổ tất cả phần máu còn lại dưới chân bàn thờ dâng tế lễ thiêu đặt trước cửa Lều Hội Kiến.
8 Người ấy phải gỡ hết mỡ của con bò dùng làm sinh tế chuộc tội, như lớp mỡ bọc quanh bộ lòng và mỡ dính vào bộ lòng,
9 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật,
10 như cách gỡ các phần nầy của con bò dâng trong tế lễ bình an vậy. Thầy tế lễ sẽ đốt các thứ đó trên bàn thờ dâng tế lễ thiêu.
11 Còn da, tất cả thịt, đầu, giò, bộ lòng và phân của nó,
12 tức là tất cả phần còn lại của con bò, thầy tế lễ phải đem ra ngoài trại, đến một nơi tinh sạch là chỗ đổ tro, rồi chất trên củi để thiêu đi, tức là thiêu tại chỗ đổ tro.
13 Nếu cả hội chúng Y-sơ-ra-ên vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va và làm điều không được phép làm, thì hội chúng đã phạm tội, dù họ không nhận thấy điều đó.
14 Nhưng khi họ biết được tội mình đã phạm thì hội chúng phải dâng một con bò làm tế lễ chuộc tội và dẫn nó đến trước Lều Hội Kiến.
15 Các trưởng lão của hội chúng phải đặt tay trên đầu con bò rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va.
16 Thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu sẽ đem một phần máu của con bò vào Lều Hội Kiến,
17 nhúng ngón tay vào máu và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, phía trước bức màn.
18 Thầy tế lễ thượng phẩm cũng sẽ bôi máu lên các sừng của bàn thờ trong Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, và đổ phần máu còn lại dưới chân bàn thờ dâng tế lễ thiêu đặt trước cửa Lều Hội Kiến.
19 Thầy tế lễ cũng gỡ tất cả mỡ đem thiêu trên bàn thờ.
20 Thầy tế lễ thượng phẩm phải dâng con bò nầy như cách dâng con bò trong lễ chuộc tội. Như vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho hội chúng và tội của họ sẽ được tha.
21 Sau đó, ông phải đem con bò ra ngoài trại quân và thiêu nó như đã thiêu con bò trước. Đó là tế lễ chuộc tội cho hội chúng.
22 Khi một cấp lãnh đạo vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời mình, làm điều không được phép làm, nên đã phạm tội.
23 Nếu người ấy nhận biết tội mình đã phạm thì phải đem đến một con dê đực không tì vết để làm lễ vật.
24 Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con dê đực đó rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va, tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. Đó là tế lễ chuộc tội.
25 Thầy tế lễ sẽ dùng ngón tay lấy một ít máu của sinh tế chuộc tội và bôi trên các sừng bàn thờ dâng tế lễ thiêu, rồi đổ phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
26 Ông cũng đốt tất cả mỡ trên bàn thờ như cách xông mỡ của sinh tế trong tế lễ bình an. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người lãnh đạo và tội người ấy sẽ được tha.
27 Nếu một thường dân vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va, làm điều không được phép làm, nên đã phạm tội.
28 Khi người ấy nhận biết tội mình đã phạm thì phải đem đến một con dê cái không tì vết để làm tế lễ chuộc tội mình đã phạm.
29 Người ấy sẽ đặt tay trên đầu của sinh tế chuộc tội rồi giết nó tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu.
30 Thầy tế lễ sẽ dùng ngón tay lấy một ít máu và bôi trên các sừng bàn thờ dâng tế lễ thiêu rồi đổ hết phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
31 Ông cũng gỡ hết mỡ như cách làm trong tế lễ bình an rồi đem thiêu trên bàn thờ, làm cho tế lễ có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy, và tội người ấy sẽ được tha.
32 Nếu người ấy dâng chiên con làm sinh tế chuộc tội thì phải đem đến một chiên cái không tì vết.
33 Người ấy sẽ đặt tay trên đầu của sinh tế chuộc tội rồi giết nó tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu.
34 Thầy tế lễ sẽ dùng ngón tay lấy một ít máu và bôi trên các sừng bàn thờ dâng tế lễ thiêu rồi đổ hết phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
35 Ông cũng gỡ hết mỡ như cách làm với chiên con dâng trong tế lễ bình an rồi đem thiêu trên bàn thờ, cùng với các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy, và tội người ấy sẽ được tha.”
1 “Khi một người phạm tội vì không chịu nói ra một việc mà mình đã thấy hoặc biết, mặc dù được yêu cầu tuyên thệ làm nhân chứng cho việc ấy, thì người ấy phải chịu hình phạt.
2 Khi một người chạm đến một vật ô uế như xác của một thú rừng không tinh sạch, hoặc xác của một gia súc không tinh sạch, hoặc xác của một loài sâu bọ không tinh sạch, dù không biết đi nữa, thì người ấy vẫn bị ô uế và mắc tội.
3 Hoặc người ấy chạm đến cái gì đó không tinh sạch của loài người, bất kể bị ô uế cách nào và dù không biết đi nữa, thì cũng sẽ mắc tội.
4 Khi một người vô tình thề sẽ làm điều gì đó xấu hay tốt, thề thốt cách vô ý thức bất cứ việc gì, về sau mới nhận ra, thì người ấy sẽ mắc tội về một trong các điều đó.
5 Vậy người nào mắc tội về một trong các điều trên thì phải xưng nhận tội mình đã phạm,
6 và phải mang lễ vật đền tội dâng lên Đức Giê-hô-va là một chiên cái hoặc một con dê cái từ bầy súc vật để làm tế lễ chuộc tội. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy.
7 Nhưng nếu người ấy không đủ khả năng dâng một con chiên cái hay một con dê cái, thì để đền tội mình đã phạm, người ấy phải dâng lên Đức Giê-hô-va một cặp chim gáy hay là một cặp bồ câu con: một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu.
8 Người ấy sẽ đem cặp chim đó đến thầy tế lễ. Trước hết, thầy tế lễ phải dâng con chim làm tế lễ chuộc tội. Ông sẽ vặn cổ nó nhưng không để cho đầu con chim đứt lìa ra,
9 rồi sẽ rảy một phần máu của sinh tế chuộc tội trên một cạnh của bàn thờ, phần máu còn lại thì được vắt dưới chân bàn thờ. Đó là tế lễ chuộc tội.
10 Còn con chim thứ hai, thầy tế lễ dâng làm một tế lễ thiêu như luật định. Như vậy, thầy tế lễ sẽ vì tội người đó đã phạm mà làm lễ chuộc tội và người đó sẽ được tha thứ.
11 Nếu người ấy không có sẵn một cặp chim gáy hay cặp bồ câu con, thì người ấy phải vì tội đã phạm mà đem một ký bột lúa mì làm tế lễ chuộc tội; không nên chế dầu và cũng không để nhũ hương lên trên bột ấy, vì đó là một tế lễ chuộc tội.
12 Người ấy sẽ đem bột đó đến thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ bốc một nắm bột đem thiêu trên bàn thờ, cùng với các lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Nắm bột đó nhắc nhở rằng tất cả bột thuộc về Đức Giê-hô-va. Đó là một tế lễ chuộc tội.
13 Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy về tội mà người ấy đã phạm vào một trong những điều trên, và người ấy sẽ được tha tội. Phần bột còn lại sẽ thuộc về thầy tế lễ như trong tế lễ chay vậy.”
14 Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se rằng:
15 “Khi có một người không trung tín, vô tình phạm lỗi vì không dâng lên Đức Giê-hô-va những vật thuộc về Ngài, thì người ấy phải vì lỗi mình đã phạm mà dâng lên Đức Giê-hô-va một con chiên đực không tì vết bắt từ trong bầy, đánh giá bằng siếc-lơ bạc theo siếc-lơ chuẩn của Nơi Thánh. Đó là tế lễ chuộc lỗi.
16 Người ấy phải bồi thường lại vật thánh và cộng thêm một phần năm giá trị của vật thánh mà mình đã phạm, rồi giao vật đó cho thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ dùng con chiên đực làm tế lễ chuộc lỗi để chuộc tội cho người ấy, và người ấy sẽ được tha thứ.
17 Khi một người vô tình phạm một trong những điều răn của Đức Giê-hô-va và làm điều không được phép làm thì người ấy sẽ mắc tội và phải chịu hình phạt.
18 Người ấy phải đem đến thầy tế lễ một con chiên đực không tì vết, bắt từ trong bầy, theo giá đã định cho tế lễ chuộc lỗi. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người ấy về lầm lỗi mà người ấy vô ý phạm, và người ấy sẽ được tha thứ.
19 Đó là tế lễ chuộc lỗi vì người ấy đã có lỗi với Đức Giê-hô-va.”
1 Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
2 “Khi một người phạm tội và không trung tín với Đức Giê-hô-va vì đã lừa dối người lân cận mình về vật họ nhờ gìn giữ hay bảo quản, hoặc trộm cắp, hoặc đã bóc lột người lân cận mình,
3 hoặc lượm được của rơi mà chối đi, hoặc thề dối về mọi chuyện mà người ta có thể vi phạm.
4 Người nào đã phạm và mắc lỗi như vậy thì phải trả lại vật mình đã trộm cắp, hoặc vật đã bóc lột, hoặc vật người ta gửi, hoặc vật bị mất mà mình lượm được,
5 hoặc bất cứ thứ gì mà mình có do thề dối. Người ấy phải bồi thường đầy đủ cộng với một phần năm giá trị, rồi nộp cho chủ của vật đó trong ngày dâng tế lễ chuộc lỗi.
6 Người ấy phải đem đến thầy tế lễ một con chiên đực không tì vết, bắt từ trong bầy, trị giá đúng quy định, để dâng lên Đức Giê-hô-va làm sinh tế chuộc lỗi.
7 Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va, và người ấy sẽ được tha thứ mọi lỗi lầm mà mình đã phạm.”
8 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
9 “Con hãy truyền lệnh nầy cho A-rôn và con cháu người: Đây là các luật về tế lễ thiêu. Sinh tế thiêu phải ở trên lửa bàn thờ suốt đêm cho đến sáng, và lửa của bàn thờ phải giữ cho cháy luôn.
10 Thầy tế lễ sẽ mặc quần lót ngắn bằng vải gai để che thân, rồi mặc áo tế lễ vào. Sau đó, thầy tế lễ sẽ hốt tro trên bàn thờ tế lễ thiêu và đổ bên cạnh bàn thờ.
11 Rồi thầy tế lễ thay y phục đó ra và mặc y phục khác vào, đem tro nầy đến một chỗ tinh sạch ở bên ngoài trại.
12 Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn, không được tắt. Mỗi buổi sáng, thầy tế lễ sẽ thêm củi, đặt tế lễ thiêu lên trên và đốt mỡ của tế lễ bình an trên đó.
13 Lửa phải cháy liên tục trên bàn thờ, không bao giờ tắt.”
14 “Đây là luật lệ về tế lễ chay: Một thầy tế lễ dòng A-rôn phải dâng tế lễ nầy trước mặt Đức Giê-hô-va, tại bàn thờ.
15 Thầy tế lễ sẽ lấy một nắm bột mì, dầu và tất cả nhũ hương trên tế lễ chay rồi đem đốt trên bàn thờ, dâng mùi thơm lên Đức Giê-hô-va, để nhắc nhở rằng tất cả tế lễ chay đều thuộc về Đức Giê-hô-va.
16 A-rôn và các thầy tế lễ dòng A-rôn sẽ ăn phần còn lại, nhưng dưới dạng bánh không men và ăn tại một nơi thánh, tức là tại hành lang của Lều Hội Kiến.
17 Không được pha men vào bột đó mà nướng. Ta đã ban phần đó cho họ từ trong các tế lễ dùng lửa dâng lên Ta. Đó là phần rất thánh, như tế lễ chuộc tội và tế lễ chuộc lỗi.
18 Tất cả người nam thuộc dòng dõi A-rôn đều được ăn phần ấy. Đó là luật lệ đời đời cho mọi thế hệ của các con về các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Người nào khác chạm đến những tế lễ đó sẽ bị thiệt hại vì tế lễ đó được biệt ra thánh.”
19 Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
20 “Đây là lễ vật mà A-rôn và các thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn phải dâng lên Đức Giê-hô-va trong ngày họ được xức dầu: Một ký bột mì như một tế lễ chay thường lệ, sáng một nửa, chiều một nửa.
21 Lễ vật đó phải được trộn kỹ với dầu và nướng trên vỉ. Sau khi chín, bánh ấy phải được cắt thành miếng dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
22 Trong các con trai A-rôn, thầy tế lễ nào được xức dầu để kế nhiệm chức tế lễ thượng phẩm đều phải dâng tế lễ nầy lên Đức Giê-hô-va. Đó là một luật lệ đời đời. Tế lễ chay phải được thiêu hoàn toàn.
23 Mọi tế lễ chay của thầy tế lễ đều phải thiêu hoàn toàn, không được ăn.”
24 Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
25 “Con hãy truyền cho A-rôn và con cháu người luật về tế lễ chuộc tội như sau: Sinh tế cho lễ chuộc tội phải được giết trước mặt Đức Giê-hô-va, phía bắc bàn thờ, tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. Đó là sinh tế rất thánh.
26 Thầy tế lễ dâng sinh tế chuộc tội sẽ ăn lễ vật đó trong một nơi thánh, tức là trong hành lang của Lều Hội Kiến.
27 Người nào hoặc vật nào chạm đến thịt sinh tế sẽ bị thiệt hại, vì thịt đó được biệt ra thánh. Nếu huyết sinh tế văng lên áo thì phải giặt áo đó trong một nơi thánh.
28 Nồi đất dùng nấu thịt sinh tế sẽ phải đập bể đi; nhưng nếu nấu bằng nồi đồng thì phải cạo nồi và rửa bằng nước cho sạch.
29 Tất cả người nam thuộc gia đình thầy tế lễ đều được ăn phần ấy, đó là một phần rất thánh.
30 Nhưng không được ăn thịt sinh tế chuộc tội mà phải đốt đi, vì huyết nó đã được đem vào Lều Hội Kiến để làm lễ chuộc tội tại Nơi Thánh.”
1 “Đây là luật về tế lễ chuộc lỗi, một tế lễ rất thánh:
2 Hãy giết sinh tế chuộc lỗi tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu, rồi rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
3 Hãy dâng tất cả mỡ, mỡ đuôi và mỡ bọc bộ lòng,
4 hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan gỡ chung với hai trái cật.
5 Thầy tế lễ sẽ thiêu những thứ đó trên bàn thờ như một tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là tế lễ chuộc lỗi.
6 Tất cả người nam thuộc gia đình thầy tế lễ đều được ăn phần ấy trong một nơi thánh; đó là phần rất thánh.
7 Tế lễ chuộc lỗi cũng giống tế lễ chuộc tội, cả hai đều có cùng một luật. Sinh tế sẽ thuộc về thầy tế lễ nào dâng nó làm lễ chuộc tội.
8 Thầy tế lễ dâng tế lễ thiêu cho người nào thì da của sinh tế dâng làm tế lễ thiêu sẽ thuộc về thầy tế lễ đó.
9 Tất cả tế lễ chay hoặc nướng trong lò hoặc chiên trong chảo hay nướng trên vỉ đều thuộc về thầy tế lễ đứng dâng.
10 Nhưng mọi lễ vật chay khác chưa nấu, đã pha dầu hoặc để khô, đều được chia đều cho các con cháu A-rôn.”
11 “Đây là luật lệ về tế lễ bình an mà người nào cũng có thể dâng lên Đức Giê-hô-va.
12 Nếu người ấy dâng tế lễ để cảm tạ thì cùng với lễ vật cảm tạ, phải dâng bánh nhỏ không men pha dầu, bánh tráng không men phết dầu, và bánh làm bằng bột lúa mì trộn kỹ với dầu.
13 Cùng với sinh tế của tế lễ bình an để cảm tạ, người ấy cần dâng thêm bánh có men nữa.
14 Người ấy cũng lấy một ổ bánh trong mỗi loại như một lễ vật đặc biệt trình dâng lên Đức Giê-hô-va. Phần ấy thuộc về thầy tế lễ đã rảy máu sinh tế trong tế lễ bình an.
15 Thịt của sinh tế trong tế lễ bình an để cảm tạ phải được ăn trong ngày dâng tế lễ, không nên để gì sót lại đến sáng hôm sau.
16 Nếu tế lễ là do lời khấn nguyện hay lòng tự nguyện thì phải ăn sinh tế ngay trong ngày dâng hiến, phần còn lại được ăn ngày hôm sau.
17 Nhưng sang ngày thứ ba thì phải thiêu hết những gì còn lại.
18 Nếu ai ăn thịt tế lễ bình an trong ngày thứ ba thì tế lễ mà người đó dâng sẽ không được nhậm và không được kể là đã dâng tế lễ. Đó là một điều đáng ghê tởm, ai ăn thịt đó sẽ phải chịu hình phạt.
19 Thịt đã chạm đến vật gì ô uế thì không được ăn mà phải thiêu trong lửa. Còn thịt khác thì mọi người tinh sạch đều có thể ăn.
20 Người nào ở trong tình trạng ô uế mà ăn thịt tế lễ bình an dâng lên Đức Giê-hô-va thì sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.
21 Nếu ai chạm đến vật ô uế, hoặc của loài người hoặc của loài vật hoặc điều gì đáng ghê tởm, mà lại ăn thịt tế lễ bình an dâng lên Đức Giê-hô-va, thì người ấy sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.”
22 Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
23 “Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: Không được ăn một thứ mỡ nào, mỡ bò, mỡ chiên hay mỡ dê.
24 Mỡ của con thú chết tự nhiên hay bị thú dữ xé có thể dùng cho bất cứ việc gì, nhưng không được ăn.
25 Người nào ăn mỡ của con vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.
26 Các con không được ăn huyết tại bất cứ nơi nào các con cư trú, dù đó là huyết chim hay súc vật.
27 Người nào ăn huyết sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.”
28 Đức Giê-hô-va còn phán dặn Môi-se:
29 “Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào dâng tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va thì chính người đó phải đem sinh tế về tế lễ bình an đến cho Ngài.
30 Tự tay người đó sẽ mang những lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va tức là mỡ và bộ sườn non; bộ sườn non dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt.
31 Thầy tế lễ sẽ đốt mỡ trên bàn thờ, còn bộ sườn non thì thuộc về các thầy tế lễ dòng dõi A-rôn.
32 Các con cũng phải tặng phần trên của đùi phải, phía sau, cho thầy tế lễ nào thuộc dòng dõi A-rôn dâng máu và mỡ của sinh tế.
33 Người nào trong các con trai A-rôn dâng máu và mỡ sinh tế của tế lễ bình an thì sẽ nhận cái đùi phải đó.
34 Từ những sinh tế của tế lễ bình an, Ta lấy và ban cho thầy tế lễ A-rôn và các con trai người bộ sườn non đã qua nghi thức đưa qua đưa lại và cái đùi mà dân chúng đã dâng cho Ta, theo luật lệ đời đời mà dân Y-sơ-ra-ên phải tuân giữ.
35 Đó là phần của A-rôn và các con trai người, lấy từ những tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va, biệt riêng cho họ từ ngày họ được lập làm chức tế lễ trước mặt Đức Giê-hô-va.
36 Đó là điều Đức Giê-hô-va truyền dặn dân Y-sơ-ra-ên phải trao cho họ vào ngày họ được xức dầu. Đây là một luật lệ đời đời trải qua mọi thế hệ.”
37 Đó là luật về tế lễ thiêu, tế lễ chay, tế lễ chuộc tội, tế lễ chuộc lỗi, tế lễ phong chức và tế lễ bình an
38 mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se trên núi Si-na-i, vào ngày Ngài phán dặn dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ lên Đức Giê-hô-va, trong hoang mạc Si-na-i.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
2 “Con hãy đem theo A-rôn và các con trai ông cùng các lễ phục, dầu xức, con bò làm tế lễ chuộc tội, hai con chiên đực và giỏ bánh không men,
3 rồi tập hợp toàn thể hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến.”
4 Môi-se làm đúng theo lời Đức Giê-hô-va phán dặn, và hội chúng tập hợp tại cửa Lều Hội Kiến.
5 Môi-se nói với hội chúng rằng: “Đây là điều Đức Giê-hô-va truyền phải làm.”
6 Môi-se mời A-rôn và các con trai ông đến, rồi lấy nước rửa cho họ.
7 Ông mặc áo lót cho A-rôn, thắt đai lưng, mặc áo dài, mang ê-phót và thắt đai ê-phót.
8 Ông cũng mang bảng đeo ngực và gắn U-rim và Thu-mim vào cho A-rôn,
9 đội mũ lên đầu, gắn thẻ vàng trước mũ, tức là mão triều thánh, như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
10 Sau đó, Môi-se lấy dầu xức bôi lên đền tạm và mọi vật trong đó để biệt riêng ra thánh.
11 Ông cũng rảy dầu trên bàn thờ bảy lần và xức dầu bàn thờ cùng các vật dụng của bàn thờ, bồn và chân bồn để biệt riêng ra thánh.
12 Ông cũng đổ dầu xức trên đầu A-rôn và xức dầu để biệt riêng ông ra thánh.
13 Môi-se gọi các con trai A-rôn đến, mặc áo lót cho họ, thắt đai lưng, đội mũ lên đầu, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
14 Ông cũng cho đem con bò đến để làm tế lễ chuộc tội. A-rôn và các con trai ông đặt tay trên đầu nó.
15 Môi-se giết nó, rồi dùng ngón tay lấy máu bôi lên các sừng chung quanh bàn thờ, thanh tẩy bàn thờ, và đổ máu còn lại dưới chân bàn thờ. Như vậy, ông đã biệt riêng bàn thờ ra thánh để làm lễ chuộc tội tại đó.
16 Ông lấy hết lớp mỡ bọc bộ lòng và phần ngon nhất của gan, hai trái cật và lớp mỡ bọc hai trái cật, rồi đem thiêu trên bàn thờ.
17 Còn con bò, da, thịt và phân thì ông đem thiêu bên ngoài trại, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ông.
18 Môi-se cũng cho đem con chiên đực dùng làm tế lễ thiêu đến. A-rôn và các con trai ông đặt tay trên đầu nó,
19 rồi Môi-se giết nó và rảy máu chung quanh bàn thờ.
20 Ông sả con chiên ra từng miếng, rồi đem thiêu đầu, các miếng thịt và mỡ.
21 Sau khi lấy nước rửa sạch bộ lòng và đùi, Môi-se đem thiêu toàn bộ con chiên trên bàn thờ. Đó là một tế lễ thiêu dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
22 Ông cũng cho đem con chiên đực thứ nhì đến, tức là con chiên đực dùng cho lễ phong chức. A-rôn và các con trai ông đặt tay trên đầu con chiên đó.
23 Môi-se giết nó, lấy máu bôi lên trái tai bên phải của A-rôn, trên ngón cái của bàn tay phải và trên ngón cái của bàn chân phải.
24 Môi-se cũng bảo các con trai A-rôn đến gần và bôi máu lên trái tai bên phải của họ, trên ngón cái của bàn tay phải và trên ngón cái của bàn chân phải của họ. Môi-se rảy phần máu còn lại chung quanh bàn thờ.
25 Ông lấy mỡ, gồm có mỡ đuôi, tất cả mỡ bọc bộ lòng, phần ngon nhất của gan, hai trái cật với mỡ của hai trái cật và đùi phải;
26 ông cũng lấy từ trong giỏ bánh không men để trước mặt Đức Giê-hô-va một cái bánh không men, một cái bánh có dầu, một cái bánh tráng, rồi xếp các thứ bánh đó trên mỡ và đùi phải.
27 Rồi ông đặt tất cả những thứ đó vào tay A-rôn và tay các con trai ông để họ dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt.
28 Sau đó, Môi-se lấy các thứ đó từ tay họ và đem đốt trên bàn thờ, bên trên tế lễ thiêu. Đó là tế lễ phong chức, là tế lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
29 Môi-se lấy bộ sườn non của chiên đực dâng trong lễ phong chức, và dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt; đó là phần thuộc về Môi-se như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
30 Tiếp đến, Môi-se lấy dầu xức và máu trên bàn thờ rảy trên A-rôn và trên lễ phục người, trên các con trai người và trên lễ phục họ. Như thế, Môi-se đã biệt riêng ra thánh A-rôn và lễ phục ông cũng như các con trai ông và lễ phục của họ.
31 Môi-se nói với A-rôn và các con trai ông: “Hãy nấu thịt tại cửa Lều Hội Kiến và ăn tại đó với bánh trong giỏ dùng trong lễ phong chức, như Chúa đã dặn rằng: ‘A-rôn và các con trai người sẽ ăn các thứ ấy.’
32 Nhưng thịt và bánh còn thừa phải đem đốt đi.
33 Trong bảy ngày, anh và các cháu không được ra khỏi cửa Lều Hội Kiến, cho đến khi mãn thời gian phong chức, vì lễ phong chức của anh và các cháu sẽ kéo dài bảy ngày.
34 Đức Giê-hô-va đã truyền dạy phải làm như chúng ta đã làm hôm nay để chuộc tội cho anh và các cháu.
35 Vậy trong bảy ngày, anh và các cháu phải ở tại cửa Lều Hội Kiến cả ngày lẫn đêm, gìn giữ mọi điều Đức Giê-hô-va truyền phán để anh và các cháu khỏi chết; vì đó là lệnh Ngài đã truyền dặn tôi.”
36 A-rôn và các con trai ông làm đúng mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền dạy qua Môi-se.
1 Đến ngày thứ tám, Môi-se mời A-rôn và các con trai ông cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến
2 và nói với A-rôn: “Hãy bắt một con bò con đực làm tế lễ chuộc tội, một con chiên đực làm tế lễ thiêu; cả hai đều không có tì vết và dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va.
3 Anh hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Anh em hãy bắt một con dê đực làm tế lễ chuộc tội, một con bò con và một con chiên con, cả hai đều không có tì vết và được một tuổi, để làm tế lễ thiêu,
4 một con bò và một con chiên đực để làm tế lễ bình an dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va và một tế lễ chay có pha dầu, vì hôm nay Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với anh em.’”
5 Họ đem đến trước Lều Hội Kiến những gì Môi-se đã truyền bảo, rồi cả hội chúng đến gần và đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
6 Môi-se nói: “Đây là điều Đức Giê-hô-va phán dặn anh em phải làm để vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với anh em.”
7 Rồi Môi-se nói với A-rôn: “Anh hãy đến gần bàn thờ dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu của anh để làm lễ chuộc tội cho chính anh và cho dân chúng, rồi dâng tế lễ của dân chúng và làm lễ chuộc tội cho họ, như Đức Giê-hô-va đã phán dạy.”
8 A-rôn đến gần bàn thờ và giết bò con đực để làm tế lễ chuộc tội cho chính mình.
9 Các con trai A-rôn đem máu sinh tế đến cho ông; ông nhúng ngón tay vào máu, bôi lên các sừng bàn thờ, rồi đổ máu dưới chân bàn thờ.
10 Ông lấy mỡ, hai trái cật và phần gan ngon nhất của sinh tế chuộc tội đốt trên bàn thờ, như Đức Giê-hô-va đã phán dạy Môi-se.
11 Còn thịt và da, ông đem đốt bên ngoài trại,
12 A-rôn giết con vật dùng làm tế lễ thiêu. Các con trai A-rôn đem máu sinh tế đến cho ông và ông rảy chung quanh bàn thờ.
13 Họ cũng đem đến thịt tế lễ thiêu đã sả ra từng miếng cùng với cái đầu để ông đốt tất cả trên bàn thờ.
14 Ông rửa bộ lòng và các chân rồi đem đốt bên trên tế lễ thiêu nơi bàn thờ.
15 Tiếp đó, ông đem tế lễ của dân chúng đến. Ông bắt con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội cho dân chúng, giết nó và dâng lên làm lễ chuộc tội như đã làm với tế lễ chuộc tội trước đó.
16 Ông cũng dâng tế lễ thiêu và tiến hành theo luật lệ đã định.
17 Rồi ông dâng tế lễ chay. Ông bốc một nắm đầy lễ vật chay và thiêu trên bàn thờ, chung với tế lễ thiêu buổi sáng.
18 Ông cũng giết con bò và con chiên đực làm sinh tế bình an cho dân chúng. Các con trai A-rôn đem máu sinh tế đến cho ông và ông rảy chung quanh bàn thờ.
19 Còn mỡ của con bò và con chiên đực, mỡ đuôi, mỡ bọc bộ lòng, hai trái cật và phần ngon nhất của gan,
20 thì họ đặt trên bộ sườn, và ông thiêu mỡ đó trên bàn thờ.
21 Nhưng bộ sườn và đùi sau bên phải thì A-rôn lấy và tiến hành nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, như Môi-se đã truyền dặn.
22 A-rôn giơ tay trên dân chúng và chúc phước cho họ. Sau khi dâng tế lễ chuộc tội, tế lễ thiêu và tế lễ bình an thì ông bước xuống khỏi bàn thờ.
23 Môi-se và A-rôn vào Lều Hội Kiến rồi đi ra chúc phước cho dân chúng. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với toàn dân.
24 Một ngọn lửa phát ra từ trước mặt Đức Giê-hô-va thiêu hủy tế lễ thiêu và mỡ trên bàn thờ. Thấy vậy, toàn dân cất tiếng reo mừng và cúi rạp xuống đất.
1 Hai con trai A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu, mỗi người đều cầm lư hương, bỏ than đang cháy vào rồi để hương lên trên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va, là điều Ngài không phán dạy họ.
2 Một ngọn lửa phát ra từ trước mặt Đức Giê-hô-va thiêu nuốt họ; họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
3 Môi-se nói với A-rôn: “Đó là điều Đức Giê-hô-va đã phán: ‘Giữa những người đến gần Ta Ta sẽ tỏ bày đức thánh khiết; Và trước mặt toàn dân Ta sẽ được tôn vinh.’” A-rôn nín lặng.
4 Môi-se gọi Mi-sa-ên và Ên-sa-phan, hai con trai của U-xi-ên là chú của A-rôn, và bảo họ: “Hãy đến khiêng xác của hai cháu khỏi nơi thánh và đem ra ngoài trại.”
5 Họ đến gần, dùng áo lót hai người kia đang mặc, kéo xác họ đưa ra ngoài trại, như lời Môi-se đã bảo.
6 Sau đó, Môi-se nói với A-rôn và hai con trai ông là Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma: “Đừng làm rối tóc, cũng đừng xé áo để anh và các cháu khỏi phải chết, và để Đức Giê-hô-va không nổi giận với cả hội chúng. Nhưng anh em của anh và cả nhà Y-sơ-ra-ên có thể khóc than những người vừa bị Đức Giê-hô-va thiêu đốt đó.
7 Đừng ra khỏi cửa Lều Hội Kiến trong lúc nầy để anh em khỏi chết, vì anh em đã được Đức Giê-hô-va xức dầu.” Họ làm theo lời Môi-se.
8 Đức Giê-hô-va phán với A-rôn:
9 “Con và các con trai của con không được uống rượu nho hay thức uống có men khi vào Lều Hội Kiến, kẻo các con phải chết. Đó là một mệnh lệnh đời đời cho mọi thế hệ.
10 Các con phải biết phân biệt giữa thánh khiết và phàm tục, giữa ô uế và thanh sạch,
11 và phải dạy dân Y-sơ-ra-ên mọi mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán dạy họ qua Môi-se.”
12 Môi-se nói với A-rôn và hai người con trai còn lại của ông là Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma rằng: “Hãy lấy phần tế lễ chay còn lại sau khi đã dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va làm thành bánh không men và ăn gần bàn thờ, vì đó là phần rất thánh.
13 Phải ăn tế lễ nầy tại một nơi thánh vì đó là phần của anh và các con anh trích từ các lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Tôi đã được truyền dặn như vậy.
14 Còn bộ sườn non đã dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt và cái đùi đã trình dâng lên Chúa thì anh cùng các con trai con gái anh sẽ ăn tại một nơi thanh sạch. Các món đó đã được ban làm phần riêng cho anh và các con anh, trích từ tế lễ bình an của con dân Y-sơ-ra-ên.
15 Họ sẽ đem đến cái đùi đã dâng lên và bộ sườn non đã qua nghi thức đưa qua đưa lại, cùng với các phần mỡ của tế lễ thiêu bằng lửa, dâng lên theo nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là phần thuộc về anh và các con anh, theo quy định vĩnh viễn mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy.”
16 Khi Môi-se hỏi về con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội thì thấy nó đã bị thiêu. Vì thế ông nổi giận với Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma là hai con trai còn lại của A-rôn, và nói:
17 “Tại sao các cháu không ăn thịt sinh tế chuộc tội trong một nơi thánh? Đó là một phần rất thánh mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các cháu để gánh lấy tội của hội chúng và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va.
18 Vì huyết sinh tế nầy không được đem vào nơi thánh, nên các cháu phải ăn sinh tế đó trong một nơi thánh như lời ta đã căn dặn.”
19 A-rôn nói với Môi-se: “Hôm nay hai cháu đã dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu trước mặt Đức Giê-hô-va. Nhưng những việc rủi ro như thế đã xảy đến cho tôi mà hôm nay tôi còn ăn sinh tế chuộc tội, thì liệu có đẹp lòng Đức Giê-hô-va không?”
20 Nghe những lời nầy, Môi-se đồng ý.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn rằng:
2 “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên: ‘Trong các loài vật sống trên đất, đây là những loài các con được phép ăn:
3 Những loài vật nào có móng chẻ làm hai và nhai lại, thì các con được ăn.
4 Tuy nhiên, trong các loài nhai lại hoặc có móng chẽ, các con không được ăn các con nầy: lạc đà, vì nó nhai lại nhưng không có móng chẽ, nó là loài không thanh sạch cho các con;
5 con chồn núi, vì nó nhai lại nhưng không có móng chẽ, nó là loài không thanh sạch cho các con;
6 con thỏ rừng, vì nó nhai lại nhưng không có móng chẽ, nó là loài không thanh sạch cho các con;
7 con heo, vì nó có móng chẽ nhưng không nhai lại nên nó là loài không thanh sạch cho các con.
8 Thịt của chúng các con không được ăn, xác chết của chúng các con không đụng đến, chúng là loài không thanh sạch cho các con.
9 Trong các sinh vật sống dưới nước, đây là những loài các con được phép ăn: Tất cả những loài sống dưới nước, dù biển hay sông, nếu có vây và có vảy thì các con được ăn.
10 Nhưng loài nào sống dưới biển hay sông mà không có vây, không có vảy, sống lúc nhúc cả bầy hay sống giữa các loài khác dưới nước, đều đáng ghê tởm đối với các con.
11 Những loài nầy rất đáng kinh tởm cho các con; không được ăn thịt của chúng, còn xác chết của chúng là vật ghê tởm đối với các con.
12 Tất cả các loài vật sống dưới nước mà không có vây, không có vảy thì phải xem là đáng ghê tởm cho các con.
13 Trong các loài chim, đây là những giống các con phải xem là kinh tởm, không được ăn vì chúng rất đáng tởm: đại bàng, diều hâu, kên kên;
14 chim ó, diều và các con cùng loài;
15 mọi thứ quạ,
16 đà điểu, cú mèo, mòng biển, các loài bồ cắt,
17 chim mèo, bồ nông, cò lửa,
18 chim hạc, chim chàng bè, con cồng cộc,
19 con cò, con diệc và các con cùng loại; chim rẽ quạt và dơi.
20 Tất cả các loài bọ có cánh và chân đều đáng ghê tởm cho các con.
21 Tuy nhiên, trong các loài bọ có cánh và chân, các con có thể ăn những con nào chân có khớp để nhảy trên đất,
22 như các loài cào cào, các loài châu chấu đầu nhẵn, các loài dế, và các loài châu chấu khác.
23 Các loài bọ có cánh và chân khác, thì các con phải xem là kinh tởm.
24 Các con có thể bị ô uế vì những lý do nầy: ai đụng đến xác chết các loài thú sau đây sẽ bị ô uế đến chiều tối:
25 ai mang xác chết của chúng sẽ phải giặt quần áo và bị ô uế đến chiều tối.
26 Những loài thú nào có móng chẽ nhưng bàn chân không chẻ và không nhai lại đều ô uế cho các con; ai đụng đến sẽ bị ô uế.
27 Trong các loài đi bằng bốn chân, hễ con nào đi bằng bàn chân thì phải xem là không thanh sạch cho các con; ai đụng đến xác chết của chúng sẽ bị ô uế đến chiều tối,
28 còn ai mang xác chết của chúng sẽ phải giặt quần áo và bị ô uế đến chiều tối; các loài đó là vật không thanh sạch cho các con.
29 Trong các loài vật bò lúc nhúc trên mặt đất, đây là những loài không thanh sạch cho các con: chuột nhũi, chuột nhắt, các loại thằn lằn lớn;
30 cắc kè, kỳ đà, thạch sùng, kỳ nhông và cắc ké.
31 Trong các loài bò sát, đó là những con vật không thanh sạch cho các con; ai đụng đến xác chết của chúng sẽ bị ô uế đến chiều tối.
32 Khi một con nào trong các loài đó chết, xác nó rơi trên bất cứ vật nào thì vật ấy sẽ bị ô uế, dù đó là vật dụng bằng gỗ, bằng vải, bằng da, bao bố, hay bất cứ thứ gì; phải ngâm các vật ấy vào trong nước, và chịu ô uế cho đến chiều tối mới được thanh sạch.
33 Nếu xác đó rơi nhằm bình sành thì các vật chứa trong đó đều bị ô uế, các con phải đập bể bình đó đi.
34 Thức ăn nào bị nước từ trong bình sành đó đổ lên thì sẽ bị ô uế; thức uống nào chứa trong bình sành đó đều bị ô uế.
35 Bất cứ vật nào dù bị một phần của xác chết đó rơi nhằm cũng sẽ bị ô uế; dù là lò hay bếp cũng phải đập bể đi; chúng đã bị ô uế rồi và các con phải xem chúng là ô uế.
36 Tuy nhiên, một suối nước hoặc một hồ chứa nước vẫn được kể là tinh sạch nếu có xác của các loài thú đó; nhưng ai đụng đến xác chết của chúng thì sẽ bị ô uế.
37 Nếu một xác chết rơi trên hạt giống sắp được gieo trồng thì hạt giống đó vẫn được tinh sạch.
38 Nhưng nếu hạt giống đã được tưới nước và xác chết rớt nhằm thì các con phải xem hạt giống đó là ô uế.
39 Nếu một con thú được phép ăn thịt mà chết, thì ai đụng đến xác nó sẽ bị ô uế đến chiều tối.
40 Ai ăn thịt xác chết đó phải giặt quần áo mình và bị ô uế cho đến chiều tối; còn ai khiêng xác chết đó cũng phải giặt quần áo và bị ô uế cho đến chiều tối.
41 Mọi loài sâu bọ bò trên mặt đất đều đáng kinh tởm, không được ăn.
42 Các loài nào bò bằng bụng, đi bằng bốn chân hay nhiều chân, nói chung là các loài vật bò lúc nhúc trên mặt đất, thì các con không được ăn, vì chúng là vật đáng kinh tởm.
43 Các con đừng làm cho mình đáng kinh tởm vì các loài vật đó, cũng đừng vì chúng mà mình trở nên ô uế.
44 Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con; hãy biệt mình ra thánh và phải thánh, vì Ta là thánh. Đừng vì bất cứ một loài sâu bọ bò trên mặt đất mà làm cho mình bị ô uế.
45 Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các con; vậy các con phải thánh vì Ta là thánh.
46 Đó là luật lệ liên quan đến loài súc vật, loài chim trời, các sinh vật bơi lội trong nước và các loài sâu bọ bò trên mặt đất,
47 để phân biệt giữa con vật không sạch với con vật tinh sạch, giữa các loài ăn được với các loài không ăn được.’”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
2 “Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên: ‘Khi một phụ nữ mang thai và sinh con trai thì sẽ bị ô uế trong bảy ngày, như trong kỳ kinh nguyệt.
3 Đến ngày thứ tám phải làm lễ cắt bì cho đứa trẻ.
4 Người phụ nữ ấy phải ngồi nhà thêm ba mươi ba ngày nữa cho trọn thời kỳ thanh tẩy. Bà ấy không được đụng đến vật thánh hay đi vào nơi thánh, cho đến khi kỳ thanh tẩy chấm dứt.
5 Còn nếu sinh con gái thì người phụ nữ sẽ bị ô uế trong hai tuần như trong kỳ kinh nguyệt. Sau đó, bà phải ngồi nhà thêm sáu mươi sáu ngày nữa cho trọn thời kỳ thanh tẩy.
6 Khi kỳ thanh tẩy chấm dứt, dù sinh con trai hay con gái, người phụ nữ ấy phải đem đến cho thầy tế lễ tại cửa Lều Hội Kiến một chiên con một tuổi để làm tế lễ thiêu và một bồ câu hoặc một chim gáy để làm tế lễ chuộc tội.
7 Thầy tế lễ sẽ dâng sinh tế đó trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ thanh tẩy cho bà, và bà sẽ được thanh sạch sau khi mất huyết. Đây là luật liên quan đến người phụ nữ sinh con trai hay con gái.
8 Nếu người phụ nữ không đủ khả năng dâng một chiên con thì phải dâng một cặp chim gáy hoặc một cặp bồ câu con, một con làm tế lễ thiêu, một con làm tế lễ chuộc tội. Thầy tế lễ sẽ làm lễ thanh tẩy cho bà và bà sẽ được thanh sạch.’”
1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn:
2 “Khi một người thấy trên da mình sưng lên hoặc nổi mụt nhọt hoặc đốm trắng có thể biến thành bệnh phong hủi thì người ấy phải được đưa đến gặp thầy tế lễ A-rôn hoặc một trong các thầy tế lễ là con cháu A-rôn.
3 Thầy tế lễ sẽ khám vết thương trên da thịt người ấy. Nếu lông chỗ vết thương đó đã chuyển sang màu trắng và nếu vết ấy lõm xuống sâu hơn mặt da, thì đó là bệnh phong hủi. Sau khi khám, thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế.
4 Nhưng nếu đốm trắng trên da thịt người ấy không lõm sâu hơn da, và nếu lông không chuyển sang màu trắng thì thầy tế lễ phải cách ly người ấy trong bảy ngày.
5 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám lại người ấy. Nếu thấy vết thương đó không ăn lan ra trên da thì thầy tế lễ phải cách ly người ấy thêm bảy ngày nữa.
6 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám lại người ấy. Nếu vết thương đó có vẻ mờ đi, không lan ra trên da, thì thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch; đó chỉ là một mụt nhọt thông thường. Người ấy phải giặt quần áo và được thanh sạch.
7 Nhưng nếu sau khi đã trình diện thầy tế lễ để được tuyên bố là thanh sạch mà mụt nhọt vẫn lan ra trên da thì người ấy phải đến gặp thầy tế lễ một lần nữa.
8 Thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu mụt nhọt đó đã lan ra trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
9 Khi có một người bị nhiễm bệnh phong hủi thì phải đưa người đó đến gặp thầy tế lễ.
10 Thầy tế lễ sẽ khám, nếu trên da có nổi nhọt trắng làm cho lông chuyển sang màu trắng, và nếu trong nhọt có lớp thịt đỏ lồi ra
11 thì đó là bệnh phong hủi kinh niên trên da thịt người ấy. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế mà không cần cách ly để khám lại nữa, vì đã bị ô uế rồi.
12 Còn nếu thấy triệu chứng ngoài da nguy hiểm đã phát và lan khắp cơ thể người bệnh từ đầu đến chân, chỗ nào thầy tế lễ nhìn thấy được
13 thì thầy tế lễ phải khám kỹ; nếu bệnh ấy đã lan phủ khắp cơ thể thì thầy tế lễ sẽ tuyên bố người bệnh là thanh sạch, vì cả cơ thể đã chuyển thành màu trắng nên người ấy được thanh sạch.
14 Nhưng khi thấy có chỗ thịt đỏ xuất hiện thì người ấy phải bị ô uế;
15 thầy tế lễ phải khám kỹ và tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
16 Nhưng nếu chỗ thịt đỏ chuyển sang màu trắng thì người ấy phải đến với thầy tế lễ.
17 Thầy tế lễ khám, nếu vết thương đã chuyển sang màu trắng thì phải tuyên bố người có bệnh là thanh sạch, vì người ấy đã được thanh sạch rồi.
18 Nếu một người có một mụt nhọt trên da đã lành,
19 nhưng tại chỗ mụt đó lại nổi một cái nhọt trắng hay một đốm đỏ tái thì phải đến cho thầy tế lễ khám.
20 Nếu thấy cái đốm đó lõm sâu hơn mặt da và lông chuyển sang màu trắng thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế; đó là một vết do bệnh phong hủi đã phát ra từ mụt nhọt.
21 Nhưng nếu thầy tế lễ khám mà không thấy lông trắng, chỗ đốm không lõm sâu hơn mặt da và màu nhạt đi, thì thầy tế lễ phải cho cách ly người ấy trong bảy ngày.
22 Nếu thấy đốm ấy ăn lan trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
23 Nhưng nếu đốm ấy vẫn ở nguyên một chỗ, không ăn lan ra, thì đó là vết sẹo của mụt nhọt; thầy tế lễ sẽ tuyên bố người đó là thanh sạch.
24 Khi một người có vết bỏng trên da và vết bỏng đó trở thành một đốm đỏ tái hay trắng,
25 thì thầy tế lễ sẽ khám. Nếu lông trong đốm đã chuyển thành màu trắng và lõm sâu hơn mặt da thì đó là bệnh phong hủi phát ra từ vết bỏng. Thầy tế lễ phải tuyên bố người nầy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
26 Nhưng nếu thầy tế lễ khám vết bỏng mà không thấy lông trắng, không lõm sâu hơn mặt da và đã mờ đi thì thầy tế lễ cho cách ly người ấy trong bảy ngày.
27 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám lại người ấy, nếu đốm ấy lan ra trên da thì phải tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
28 Nhưng nếu đốm đó vẫn ở nguyên một chỗ, không lan ra trên da và đã mờ đi, thì đó là vết thương do bỏng lửa. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là tinh sạch, vì đó là sẹo của vết bỏng.
29 Khi một người đàn ông hay đàn bà có vết thương trên đầu hoặc nơi cằm,
30 thì thầy tế lễ sẽ khám vết thương đó. Nếu nó lõm sâu hơn mặt da, lông mọc trong đó thưa và có màu hơi vàng thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế, đó là chứng ghẻ chốc, tức là bệnh phong hủi ở đầu hay ở cằm.
31 Nhưng nếu thầy tế lễ khám chỗ ghẻ chốc đó mà thấy nó không lõm sâu hơn mặt da và không có lông đen mọc trong đó, thì thầy tế lễ phải cho cách ly người ấy trong bảy ngày.
32 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám, nếu chỗ ghẻ chốc đó không lan ra, không có lông hơi vàng và không lõm sâu hơn mặt da,
33 thì người ấy phải cạo đầu và râu nhưng không cạo chỗ vết ghẻ chốc, rồi thầy tế lễ sẽ lại cách ly người ấy thêm bảy ngày nữa.
34 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám lại, nếu chỗ ghẻ chốc không lan ra trên da, không lõm sâu hơn mặt da thì thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch. Người ấy sẽ giặt quần áo và sẽ được thanh sạch.
35 Nhưng nếu chỗ ghẻ chốc đó lại lan ra trên da sau khi được tuyên bố thanh sạch
36 thì thầy tế lễ phải khám lại. Nếu chỗ ghẻ chốc đó đã lan ra trên da thì thầy tế lễ không cần tìm xem có lông hơi vàng hay không; người ấy đã bị ô uế rồi.
37 Nhưng nếu chính mắt thầy tế lễ thấy chỗ ghẻ chốc đó vẫn như trước và có lông đen đã mọc ở đó, thì chỗ ghẻ chốc đó đã lành và người đó đã được thanh sạch. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch.
38 Khi trên da thịt của một người đàn ông hay một người đàn bà nổi lên những đốm trắng
39 thì thầy tế lễ sẽ khám. Nếu những đốm trên da thịt người nào có màu trắng đục thì đó chỉ là mụn phát ra trên da, người ấy vẫn thanh sạch.
40 Khi một người bị rụng tóc, hói đầu thì người ấy vẫn thanh sạch.
41 Người rụng tóc phía trước đầu là một người hói trán, người ấy vẫn thanh sạch.
42 Nhưng nếu chỗ hói đầu hay hói trán có một vết trắng hồng thì đó là bệnh phong hủi phát ra từ chỗ hói đầu hay là hói trán.
43 Thầy tế lễ phải khám người ấy, nếu thấy vết sưng ở chỗ hói đầu hay hói trán có màu trắng hồng, giống như bệnh phong hủi trên da thịt,
44 thì người ấy bị bệnh ngoài da nguy hiểm; thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế vì vết thương trên đầu.
45 Người mắc bệnh phong hủi phải mặc quần áo rách, xõa tóc, che râu lại và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’
46 Ngày nào người ấy còn mắc bệnh thì còn bị ô uế và phải sống một mình bên ngoài doanh trại.”
47 “Khi quần áo bị lên mốc như vết phong hủi, dù trên quần áo bằng len hay quần áo bằng vải gai,
48 trên hàng dệt, hàng đan bằng vải gai hay len, trên da hay là trên bất cứ vật gì làm bằng da,
49 nếu thấy vết đó màu hơi xanh hay hơi đỏ xuất hiện trên quần áo hoặc trên da, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên bất cứ vật gì bằng da, thì phải coi như vết mốc và phải đem đến trình cho thầy tế lễ.
50 Thầy tế lễ sẽ khám và để riêng vật đó ra trong bảy ngày.
51 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu vết ấy lan ra trên quần áo, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên đồ vật bằng da, thì đó là vết mốc lây lan; vật đó bị ô uế.
52 Thầy tế lễ phải đốt quần áo, hàng dệt, hàng đan bằng len hoặc bằng gai, hoặc bất cứ vật gì bằng da đã bị mốc meo, vì đó là vết mốc dễ lây lan cần phải đốt trong lửa.
53 Trái lại, nếu thầy tế lễ khám và không thấy vết mốc đó lan ra trên quần áo, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên các vật dụng bằng da,
54 thì ông sẽ bảo họ đem giặt món đồ có vết mốc đó, rồi để riêng nó ra thêm bảy ngày nữa.
55 Khi giặt rồi, thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu vết đó không đổi màu thì dù mốc không lan ra, món đó vẫn bị ô uế; các con phải đốt trong lửa dù vết mốc ăn vào mặt phải hay mặt trái.
56 Nhưng nếu sau khi giặt, vết mốc ấy mờ đi thì thầy tế lễ phải lột bỏ vết mốc ấy khỏi quần áo, đồ da hay hàng dệt, hàng đan.
57 Nếu vết mốc lại xuất hiện trên quần áo, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên các đồ vật bằng da, thì đó là một vết mốc lây lan, cần phải đốt đi.
58 Nhưng quần áo, hàng dệt, hàng đan hoặc món nào bằng da mà các con đã giặt và vết mốc đã biến mất thì phải đem giặt lần thứ hai và món đồ ấy sẽ được thanh sạch.”
59 Đó là luật về vết mốc meo trên quần áo bằng len hoặc bằng vải gai, trên hàng dệt, hàng đan, hoặc trên vật gì bằng da, để căn cứ vào đó mà tuyên bố vật ấy là thanh sạch hay ô uế.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
2 “Đây là luật lệ dành cho người mắc bệnh phong hủi trong ngày được thanh tẩy. Người ấy sẽ được đưa đến gặp thầy tế lễ;
3 thầy tế lễ sẽ ra ngoài doanh trại để khám. Nếu người mắc bệnh phong hủi đã khỏi rồi
4 thì thầy tế lễ sẽ truyền đem cho người sắp được thanh tẩy hai con chim sống và tinh sạch, một khúc gỗ hương nam, một sợi chỉ màu đỏ sậm và cành bài hương.
5 Thầy tế lễ ra lệnh giết một trong hai con chim đó, hứng máu chim trong một chậu sành, có chứa nước suối.
6 Sau đó, bắt con chim còn sống cùng với khúc gỗ hương nam, sợi chỉ màu đỏ và cành bài hương, nhúng hết vào máu của con chim đã bị giết trong chậu sành có chứa nước suối.
7 Thầy tế lễ phải rảy máu đó bảy lần trên người được thanh tẩy và tuyên bố người ấy được thanh sạch, rồi thả con chim còn sống ra ngoài đồng.
8 Người được thanh tẩy phải giặt quần áo, cạo sạch tóc lông, tắm trong nước và sẽ được tinh sạch. Sau đó, người ấy phải ở bên ngoài trại trong bảy ngày rồi mới được vào trại.
9 Đến ngày thứ bảy, người ấy sẽ cạo sạch lông, tóc, râu và lông mày, giặt quần áo và tắm trong nước để được tinh sạch.
10 Ngày thứ tám, người ấy sẽ bắt hai con chiên đực không tì vết, một chiên con cái một tuổi không tì vết, ba ký bột mịn pha dầu làm tế lễ chay và một phần ba lít dầu.
11 Thầy tế lễ làm lễ thanh tẩy sẽ đem người được thanh tẩy và các lễ vật đó đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến.
12 Thầy tế lễ sẽ bắt một trong hai con chiên đực dâng làm tế lễ chuộc lỗi cùng với một phần ba lít dầu và làm nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
13 Rồi thầy tế lễ giết con chiên đó tại nơi thường giết sinh tế chuộc tội và tế lễ thiêu, trong nơi thánh; vì tế lễ chuộc lỗi cũng thuộc về thầy tế lễ như tế lễ chuộc tội, đó là vật rất thánh.
14 Thầy tế lễ sẽ lấy máu của con sinh chuộc lỗi bôi lên trái tai phải của người được thanh tẩy, lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải;
15 rồi lấy một ít dầu đổ vào lòng bàn tay trái,
16 nhúng ngón tay phải vào dầu trong lòng bàn tay trái và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va.
17 Thầy tế lễ lấy dầu còn lại trong lòng bàn tay bôi lên trái tai phải của người được thanh tẩy, ngón cái tay phải và ngón cái chân phải, tức trên lớp máu của tế lễ chuộc lỗi.
18 Phần dầu còn lại trong lòng bàn tay, thầy tế lễ sẽ xức lên đầu của người được thanh tẩy. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va.
19 Thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ chuộc tội để chuộc tội cho người ấy được thanh tẩy khỏi mọi ô uế. Sau đó, thầy tế lễ sẽ giết con vật làm tế lễ thiêu.
20 Thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ thiêu cùng với tế lễ chay trên bàn thờ. Như vậy, thầy tế lễ sẽ dâng lễ chuộc tội cho người ấy, và người ấy sẽ được thanh sạch.
21 Nhưng nếu người ấy nghèo khó, không đủ khả năng dâng những lễ vật trên, thì phải bắt một con chiên đực dùng làm tế lễ chuộc lỗi theo nghi thức đưa qua đưa lại để chuộc tội cho mình cùng một ký bột lọc pha dầu làm tế lễ chay và một phần ba lít dầu,
22 hai con chim gáy hoặc một cặp bồ câu, tùy theo khả năng, một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu.
23 Đến ngày thứ tám, để được thanh tẩy, người ấy phải đem các lễ vật đó đến cho thầy tế lễ tại cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va.
24 Thầy tế lễ sẽ bắt con chiên con dùng làm tế lễ chuộc lỗi và một phần ba lít dầu dâng lên theo nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
25 Thầy tế lễ sẽ giết chiên con dùng làm sinh tế chuộc lỗi, lấy máu bôi lên trái tai phải, lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy.
26 Thầy tế lễ cũng đổ một ít dầu vào lòng bàn tay trái,
27 dùng ngón tay phải nhúng vào dầu đổ trong bàn tay trái và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va
28 và bôi lên trái tai phải, ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy, cũng như trên lớp máu của tế lễ chuộc lỗi.
29 Phần dầu còn lại trong lòng bàn tay, thầy tế lễ sẽ xức lên đầu người được thanh tẩy để làm lễ chuộc tội cho người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va.
30 Rồi thầy tế lễ sẽ dâng hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu, tùy theo khả năng người ấy,
31 một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu, cùng với tế lễ chay. Như vậy, thầy tế lễ dâng lễ chuộc tội cho người được thanh tẩy trước mặt Đức Giê-hô-va.”
32 Đó là luật lệ cho người mắc bệnh phong hủi mà không đủ khả năng dâng những lễ vật cần thiết cho lễ thanh tẩy của mình.
33 Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se và A-rôn rằng:
34 “Khi các con vào đất Ca-na-an mà Ta sẽ ban cho các con làm sản nghiệp, nếu Ta đặt một vết mốc vào một nhà nào đó trong đất mà các con sẽ chiếm hữu,
35 thì chủ nhà đó phải đến báo với thầy tế lễ rằng: ‘Tôi thấy có một vết gì như vết mốc trong nhà tôi.’
36 Trước khi vào khám vết mốc đó, thầy tế lễ phải ra lệnh dọn trống nhà để không có vật gì trong nhà bị uế nhiễm; sau đó, thầy tế lễ sẽ vào khám nhà.
37 Thầy tế lễ sẽ khám vết đó, nếu vết đó ở trong vách tường với những đốm màu hơi xanh hoặc hơi đỏ, lõm sâu hơn mặt vách,
38 thì thầy tế lễ phải ra khỏi cửa nhà và niêm phong nhà lại trong bảy ngày.
39 Ngày thứ bảy, thầy tế lễ trở lại, nếu thấy các đốm ấy lan ra trên vách nhà
40 thì phải ra lệnh gỡ các viên đá bị đốm đó xuống và ném vào một chỗ ô uế bên ngoài thành;
41 rồi cho người cạo sạch bên trong nhà, đổ lớp hồ vừa cạo đó vào một chỗ ô uế bên ngoài thành,
42 và đem đá khác thay vào chỗ đá cũ, rồi lấy hồ mới tô lại căn nhà.
43 Nhưng nếu sau khi đã gỡ đá, cạo nhà và tô lại rồi mà đốm mốc đó vẫn còn xuất hiện trong nhà
44 thì thầy tế lễ phải đến khám lại. Nếu thấy đốm đó vẫn lan ra trong nhà thì đó là vết mốc ăn lan trong nhà, và nhà đó đã bị ô uế.
45 Người ta phải phá nhà đó đi; tất cả đá, gỗ và hồ của nhà ấy phải đem đổ vào một nơi ô uế bên ngoài thành.
46 Trong lúc nhà bị niêm phong, ai đi vào đó sẽ bị ô uế cho đến chiều tối.
47 Ai ngủ hoặc ăn trong nhà đó phải giặt quần áo mình.
48 Nhưng nếu sau khi nhà đã tô lại, thầy tế lễ đến khám và thấy các vết không lan ra trong nhà, thì phải tuyên bố căn nhà đó là thanh sạch, vì các vết mốc đó đã lành.
49 Để thanh tẩy nhà, thầy tế lễ phải lấy hai con chim, gỗ hương nam, chỉ màu đỏ và cành bài hương;
50 rồi giết một trong hai con chim đó trên miệng chậu sành có chứa nước suối,
51 lấy gỗ hương nam, cành bài hương, chỉ màu đỏ và con chim còn sống nhúng hết vào trong máu con chim đã giết pha trộn với nước suối và rảy trên nhà bảy lần.
52 Như vậy thầy tế lễ đã dùng máu chim, nước suối, con chim sống, gỗ hương nam, cành bài hương và chỉ màu đỏ để thanh tẩy căn nhà.
53 Thầy tế lễ cũng thả con chim sống bay ra đồng bên ngoài thành. Như thế, sau khi thầy tế lễ làm lễ chuộc tội cho căn nhà thì căn nhà sẽ được thanh sạch.”
54 Trên đây là luật lệ liên quan đến các bệnh ngoài da nguy hiểm: ghẻ chốc,
55 các vết mốc trên quần áo và nhà ở,
56 các chỗ sưng, chỗ lở loét và các đốm,
57 để xác định khi nào là ô uế và khi nào là thanh sạch. Đó là luật về bệnh ngoài da nguy hiểm.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
2 “Các con hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng: Khi một người đàn ông mắc bệnh lậu trong thân thể thì bệnh lậu đó sẽ làm cho người ấy bị ô uế.
3 Sự ô uế do bệnh lậu gây ra dù khi thân thể đang tiết mủ ra hay đã được cầm lại thì người đó vẫn bị ô uế.
4 Bất cứ giường nào người mắc bệnh lậu nằm đều bị ô uế; mọi đồ vật người đó ngồi lên cũng bị ô uế.
5 Ai đụng đến giường người đó phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
6 Ai ngồi trên vật gì mà người mắc bệnh lậu đã ngồi thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
7 Ai đụng đến thân thể người bệnh lậu sẽ phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
8 Nếu người bệnh lậu phun nhằm người tinh sạch thì người đó phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
9 Bất cứ yên ngựa nào người mắc bệnh lậu ngồi lên đều bị ô uế.
10 Người nào đụng đến bất cứ vật gì mà người mắc bệnh lậu nằm hay ngồi lên đều sẽ bị ô uế đến chiều tối. Còn ai mang các đồ vật đó thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
11 Người mắc bệnh lậu chưa rửa tay mà chạm phải người nào thì người đó phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
12 Vật dụng bằng sành mà bị người bệnh lậu đụng đến thì phải đập bể, đồ gỗ thì phải rửa trong nước.
13 Khi một người mắc bệnh lậu được lành thì phải tính thêm bảy ngày nữa mới được thanh tẩy. Người ấy phải giặt quần áo, tắm trong suối nước, và sẽ được thanh sạch.
14 Đến ngày thứ tám, người ấy sẽ bắt hai con chim gáy hoặc hai bồ câu, đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến và đưa cho thầy tế lễ.
15 Thầy tế lễ sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội, một con làm tế lễ thiêu. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va cho người mắc bệnh lậu.
16 Khi một người đàn ông xuất tinh thì phải tắm toàn thân trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
17 Các vật dụng bằng vải hay bằng da bị dính tinh dịch phải được giặt rửa trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
18 Khi một người đàn ông giao hợp với một người đàn bà thì cả hai đều phải tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
19 Một phụ nữ khi có kinh nguyệt thì phải chịu ô uế trong bảy ngày. Ai chạm đến người ấy sẽ bị ô uế đến chiều tối.
20 Bất cứ vật gì người nữ ấy nằm hay ngồi lên trong thời kỳ không tinh sạch nầy đều bị ô uế.
21 Ai đụng đến giường của người nữ ấy phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
22 Ai đụng đến vật gì người nữ ấy đã ngồi lên thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
23 Ai đụng đến giường hoặc vật gì người nữ ấy ngồi lên sẽ bị ô uế đến chiều tối.
24 Người đàn ông nào giao hợp với người đàn bà ấy thì sự ô uế sẽ lây sang người đàn ông và người ấy sẽ bị ô uế trong bảy ngày; giường người ấy nằm cũng sẽ bị ô uế.
25 Khi một phụ nữ bị rong huyết nhiều ngày không phải trong thời kỳ kinh nguyệt, hoặc rong huyết kéo dài quá thời kỳ kinh nguyệt, thì sẽ bị ô uế suốt thời gian rong huyết như trong thời gian có kinh vậy.
26 Bất cứ giường nào mà người nữ ấy nằm trong suốt thời gian bị rong huyết sẽ bị ô uế như giường của thời kỳ kinh nguyệt; và vật gì người nữ đó ngồi lên đều sẽ bị ô uế như trong thời gian có kinh.
27 Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô uế, phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
28 Khi huyết cầm lại, người đó phải đợi thêm bảy ngày nữa mới được xem là tinh sạch.
29 Đến ngày thứ tám người ấy phải bắt hai con chim gáy hoặc hai bồ câu đem đến thầy tế lễ tại cửa Lều Hội Kiến.
30 Thầy tế lễ phải dâng một con làm tế lễ chuộc tội và một con làm tế lễ thiêu. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va cho người bị rong huyết.
31 Các con phải giữ cho dân Y-sơ-ra-ên cách ly trong thời gian họ bị ô uế; nếu không, họ sẽ chết trong sự ô uế mình vì đã làm ô uế Đền Tạm của Ta đang ở giữa họ.”
32 Đó là luật về sự ô uế của người mắc bệnh lậu hay người xuất tinh,
33 của người phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt, của người nam mắc bệnh lậu hay người nữ bị rong huyết, và của người đàn ông giao hợp với đàn bà trong thời kỳ kinh nguyệt.
1 Sau cái chết của hai con trai A-rôn khi họ đến gần Đức Giê-hô-va, Ngài phán với Môi-se:
2 “Con hãy nói với A-rôn, anh con, rằng không phải lúc nào cũng có thể vào Nơi Chí Thánh ở phía trong bức màn, trước nắp thi ân đặt trên Hòm Chứng Ước được đâu; nếu bất tuân sẽ phải chết, vì Ta hiện ra trong đám mây trên nắp thi ân.
3 A-rôn sẽ vào Nơi Chí Thánh như thế nầy: Người phải đem một con bò đực tơ để làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực để làm tế lễ thiêu.
4 A-rôn sẽ mặc áo dài thánh bằng vải gai, quần ngắn bằng vải gai, thắt đai lưng bằng vải gai và đội một cái mũ cũng bằng vải gai. Đó là bộ lễ phục thánh mà A-rôn sẽ mặc sau khi đã tắm trong nước.
5 A-rôn cũng nhận từ hội chúng Y-sơ-ra-ên hai con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực dùng làm tế lễ thiêu.
6 A-rôn sẽ dâng con bò để làm tế lễ chuộc tội cho chính mình và cử hành lễ chuộc tội cho mình và cho nhà mình.
7 Sau đó, người phải đem hai con dê đực đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến.
8 A-rôn sẽ bắt thăm chọn giữa hai con dê, một thăm thuộc về Đức Giê-hô-va, một thăm thuộc về A-xa-sên.
9 A-rôn sai đem con dê đực thuộc về Đức Giê-hô-va đến gần và dâng làm tế lễ chuộc tội.
10 Còn con dê thuộc về A-xa-sên sẽ dâng sống trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ chuộc tội trên nó rồi thả vào hoang mạc cho A-xa-sên.
11 Vậy, A-rôn sẽ đem con bò làm sinh tế chuộc tội cho chính mình và giết nó để làm lễ chuộc tội cho mình và cho nhà mình.
12 A-rôn sẽ lấy một lư hương đầy than đỏ hực từ trên bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va và bốc hai nắm bột hương thơm rồi đem vào bên trong bức màn.
13 A-rôn phải bỏ hương vào lửa trước mặt Đức Giê-hô-va để cho đám mây của khói hương bao phủ nắp thi ân đặt trên Hòm Chứng Ước, và nhờ vậy A-rôn mới khỏi chết.
14 A-rôn lấy một ít máu của con bò đó, dùng ngón tay rảy bảy lần về phía đông của nắp thi ân, nghĩa là phía trước nắp thi ân.
15 Sau đó, A-rôn giết con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội cho dân chúng, rồi đem máu vào phía trong bức màn, và cũng dùng máu nó rảy phía đông của nắp thi ân, nghĩa là phía trước nắp thi ân, như đã dùng máu con bò vậy.
16 Như vậy, A-rôn làm lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh vì sự bất khiết của dân Y-sơ-ra-ên, sự vi phạm và tội lỗi của họ. Người cũng làm như thế với phần còn lại của Lều Hội Kiến đang ở với họ, giữa sự bất khiết của họ.
17 Trong lúc thầy tế lễ vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, không một ai được ở trong Lều Hội Kiến cho đến khi người trở ra. Như vậy, người làm lễ chuộc tội cho chính mình, cho nhà mình và cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.
18 Rồi người đi ra chỗ bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ chuộc tội cho bàn thờ; người lấy một ít máu bò đực tơ và máu dê đực bôi lên các sừng của bàn thờ,
19 và dùng ngón tay rảy huyết bảy lần trên bàn thờ để thanh tẩy và thánh hóa bàn thờ khỏi những sự bất khiết của dân Y-sơ-ra-ên.”
20 “Sau khi làm xong lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh, Lều Hội Kiến và bàn thờ, A-rôn phải đem con dê đực còn sống đến,
21 đặt cả hai tay trên đầu con dê đực còn sống đó, xưng tất cả gian ác của dân Y-sơ-ra-ên, mọi vi phạm và tội lỗi của chúng, và chất tất cả lên đầu con thú, rồi giao cho một người được chỉ định dẫn nó vào hoang mạc và thả đi.
22 Con dê đó sẽ mang trên mình tất cả tội ác của dân Y-sơ-ra-ên được thả vào nơi vắng vẻ trong hoang mạc.
23 A-rôn sẽ trở vào Lều Hội Kiến, cởi lễ phục bằng vải gai mịn mình đã mặc khi vào Nơi Chí Thánh và để ở đó.
24 Người sẽ tắm rửa thân thể tại một nơi thánh, mặc lại lễ phục và đi ra dâng tế lễ thiêu của mình và tế lễ thiêu của dân chúng để làm lễ chuộc tội cho chính mình và cho dân chúng.
25 Người cũng phải đốt mỡ của sinh tế chuộc tội trên bàn thờ.
26 Người nào dẫn con dê đực thuộc về A-xa-sên phải giặt quần áo, tắm mình trong nước rồi mới được vào trại.
27 Con bò đực tơ và con dê đực đã dâng làm tế lễ chuộc tội mà máu đã được đem vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, phải được đem ra ngoài trại; da, thịt và phân của hai con thú đó phải đem đốt trong lửa.
28 Người đứng đốt những thứ đó phải giặt quần áo, tắm mình trong nước rồi mới được vào trại.
29 Đây sẽ là một quy định vĩnh viễn cho các con: Vào ngày mùng mười tháng bảy, các con dù là người bản xứ hay ngoại kiều sống giữa các con đều phải kiêng ăn, từ bỏ mình, không làm việc,
30 vì trong ngày đó, lễ chuộc tội sẽ được cử hành cho các con để các con được tinh sạch; mọi tội lỗi của các con sẽ được thanh tẩy trước mặt Đức Giê-hô-va.
31 Đó sẽ là một ngày sa-bát để các con nghỉ ngơi và hạ mình tĩnh tâm. Đây là một quy định vĩnh viễn.
32 Thầy tế lễ đã được xức dầu và phong chức tế lễ thay thế cha mình sẽ mặc lễ phục bằng vải gai, tức là lễ phục thánh, để cử hành lễ chuộc tội.
33 Ông sẽ làm lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh, cho Lều Hội Kiến, cho bàn thờ, cho những thầy tế lễ và toàn thể hội chúng.
34 Đây là quy định vĩnh viễn cho các con: Mỗi năm một lần phải làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên để thanh tẩy mọi tội lỗi của chúng.” A-rôn đã thực hiện đúng như lời Đức Giê-hô-va truyền phán qua Môi-se.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy nói với A-rôn và các con trai người cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đây là lời Đức Giê-hô-va phán truyền:
3 Bất cứ một người nam nào thuộc nhà Y-sơ-ra-ên giết một con bò, một con chiên con hoặc một con dê trong trại hay ngoài trại,
4 thay vì đem đến cửa Lều Hội Kiến để dâng lên Đức Giê-hô-va trước Đền Tạm của Ngài, thì người ấy sẽ bị kể là mắc tội làm đổ máu; người làm đổ máu sẽ bị truất khỏi cộng đồng dân cư.
5 Luật nầy nhằm chấm dứt việc dân Y-sơ-ra-ên dâng sinh tế giết ngoài đồng. Họ phải mang sinh tế đến cho thầy tế lễ để dâng lên Đức Giê-hô-va làm tế lễ bình an tại cửa Lều Hội Kiến.
6 Thầy tế lễ sẽ rảy máu con sinh trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến và thiêu mỡ cho có mùi thơm dâng lên Đức Giê-hô-va.
7 Họ không được dâng tế lễ cho ma quỷ là những thần họ thông dâm nữa. Đây là một quy định đời đời cho họ trải qua các thế hệ.’
8 Vậy con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Bất cứ người nào thuộc nhà Y-sơ-ra-ên, hoặc các ngoại kiều ở giữa họ, dâng một tế lễ thiêu hay sinh tế
9 mà không đem đến cửa Lều Hội Kiến để dâng lên Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị truất khỏi dân tộc mình.’
10 ‘Người nào thuộc nhà Y-sơ-ra-ên hoặc các ngoại kiều ở giữa họ mà ăn huyết thì Ta sẽ chống lại kẻ đó, và truất nó khỏi dân tộc mình.
11 Vì sinh mạng của xác thịt ở trong huyết, và Ta đã ban huyết cho các con rảy trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội linh hồn các con. Vì chính huyết là sinh mạng nên mới chuộc tội được.
12 Vì thế, Ta phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng không một ai trong các con được ăn huyết, và cả các ngoại kiều đang sống giữa các con cũng không được ăn huyết.
13 Nếu có một người trong dân Y-sơ-ra-ên hoặc trong các ngoại kiều đang sống giữa họ đi săn được một con thú hay con chim có thể ăn thịt được thì phải đổ huyết nó ra hết rồi lấy bụi đất lấp lại,
14 vì sinh mạng của mọi xác thịt ở trong huyết của nó. Vì vậy, Ta phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Các con không được ăn huyết của bất cứ loài sinh vật nào vì sinh mạng của mọi sinh vật chính là huyết của nó; ai ăn huyết sẽ bị trục xuất.”
15 Người nào, dù là dân bản địa hay ngoại kiều, ăn thịt của một con thú chết tự nhiên hoặc chết vì bị thú dữ xé, thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối mới được tinh sạch lại.
16 Còn người nào không giặt quần áo và không tắm rửa thì sẽ mắc tội.’”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
3 Các con đừng làm những gì người ta làm trong xứ Ai Cập, nơi các con đã kiều ngụ, cũng đừng làm những gì người ta làm trong xứ Ca-na-an, nơi Ta sắp đưa các con đến. Không được theo các thói tục của họ.
4 Các con phải tuân theo các quy định và giữ gìn luật pháp của Ta. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
5 Vậy hãy tuân giữ luật pháp và các quy định của Ta; ai làm theo những điều nầy thì sẽ nhờ đó mà được sống. Ta là Đức Giê-hô-va.
6 Không ai trong các con được quan hệ tình dục với bà con ruột thịt của mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
7 Đừng sỉ nhục cha mà đi quan hệ tình dục với mẹ. Bà ấy là mẹ; không được quan hệ tình dục với bà.
8 Đừng quan hệ tình dục với bất cứ người vợ nào của cha; làm vậy là sỉ nhục cha mình.
9 Đừng quan hệ tình dục với chị em mình, dù là cùng cha cùng mẹ, hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, dù được sinh ra trong nhà hay sinh ở ngoài.
10 Đừng quan hệ tình dục với cháu nội hoặc cháu ngoại gái; làm vậy là tự sỉ nhục chính mình.
11 Đừng quan hệ tình dục với em cùng cha khác mẹ; vì đó là em gái của mình.
12 Đừng quan hệ tình dục với chị em của cha vì là cốt nhục của cha mình.
13 Đừng quan hệ tình dục với chị em của mẹ vì là cốt nhục của mẹ mình.
14 Đừng quan hệ tình dục với bác gái hay thím; làm vậy là sỉ nhục anh em của cha mình.
15 Đừng quan hệ tình dục với con dâu vì là vợ của con trai mình.
16 Đừng quan hệ tình dục với chị dâu hay em dâu; làm vậy là sỉ nhục anh em mình.
17 Đừng quan hệ tình dục với một người đàn bà cùng với con gái của người ấy. Đừng lấy cháu nội hay cháu ngoại gái của người ấy, vì họ là cốt nhục của nhau. Đó là một việc đồi bại.
18 Đừng lấy chị em của vợ khi người vợ còn sống; như vậy sẽ gây ra cảnh ganh ghét nhau.
19 Đừng quan hệ tình dục với người đàn bà đang ô uế lúc kinh nguyệt.
20 Không được giao hợp với vợ người lân cận để mình khỏi bị ô uế.
21 Không được đem con cái mình dâng cho thần Mo-lóc, vì làm như thế là xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
22 Đừng nằm với một người đàn ông như nằm với người đàn bà; đó là điều đáng ghê tởm.
23 Đừng giao hợp với thú vật nào để mình khỏi bị ô uế vì nó; đàn bà cũng không được buông mình giao hợp với thú vật; đó là một điều đáng kinh tởm.
24 Các con đừng làm cho mình trở nên ô uế bởi các việc đó, vì bởi chính các việc đó mà các dân tộc kia đã bị ô uế và sắp bị Ta đuổi khỏi các con.
25 Đất đã bị ô uế. Ta đã trừng phạt nó vì tội ác nó, và đất đã mửa dân nó ra.
26 Còn các con, dù là dân trong xứ hay ngoại kiều đang sống giữa các con, đều phải tuân giữ luật pháp và mệnh lệnh của Ta, đừng làm bất cứ việc nào trong những việc đáng ghê tởm đó.
27 Chính những người sống trên đất nầy trước các con đã làm những việc đáng ghê tởm đó mà đất đã trở nên ô uế.
28 Vậy, đừng làm cho đất trở thành ô uế; nếu không, đất cũng sẽ mửa các con ra như đã mửa dân tộc từng sống ở đó trước các con.
29 Người nào làm một trong những điều đáng ghê tởm ấy sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.
30 Vậy, các con phải tuân giữ điều Ta phán dạy, không được theo các thói tục ghê tởm mà dân chúng sống ở đó trước các con đã làm, và đừng để các thói tục đó làm cho các con ô uế. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy truyền cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Các con phải thánh vì Ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, là thánh.
3 Mọi người phải tôn kính cha mẹ và giữ những ngày sa-bát của Ta. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
4 Đừng hướng về hình tượng và cũng không được đúc cho mình tượng tà thần. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
5 Khi các con dâng tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va thì phải dâng cách nào để được Ngài chấp nhận.
6 Phải ăn lễ vật đó ngay trong ngày dâng và ngày hôm sau; phần còn thừa lại đến ngày thứ ba thì phải đem đốt sạch.
7 Nếu sang ngày thứ ba rồi mà có người vẫn ăn thì đó là điều ghê tởm, Ngài không chấp nhận.
8 Người đó sẽ mang tội vì đã xúc phạm đến vật thánh của Đức Giê-hô-va và phải bị trục xuất khỏi dân chúng.
9 Khi các con gặt lúa trong đất mình thì đừng gặt đến cuối bờ ruộng, cũng đừng mót những bông lúa còn sót.
10 Đừng hái sạch vườn nho hay nhặt những trái rớt xuống đất; hãy để lại cho người nghèo khó và kẻ tha hương. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
11 Các con không được trộm cắp, không được nói dối và lừa đảo nhau.
12 Các con không được lấy danh Ta mà thề dối, vì như vậy là xúc phạm đến danh của Đức Chúa Trời mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
13 Không được bóc lột người lân cận mình, cũng đừng cướp giật của họ. Không được giữ tiền công của người làm thuê trong nhà mình cho đến hôm sau.
14 Không được rủa sả người điếc hay đặt vật cản cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời. Ta là Đức Giê-hô-va.
15 Các con không được bất công trong việc xét xử; không thiên vị người nghèo cũng đừng nể nang kẻ quyền thế, nhưng hãy phân xử người lân cận mình một cách công minh.
16 Không được phao vu trong bà con, cũng đừng làm chứng dối nhằm hại mạng sống của người lân cận. Ta là Đức Giê-hô-va.
17 Đừng để lòng ghen ghét anh em mình; hãy quở trách người lân cận để khỏi mắc tội chung với họ
18 Đừng trả thù, đừng mang mối oán hận với đồng bào mình, nhưng hãy yêu thương người lân cận như chính mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
19 Các con phải giữ các mệnh lệnh của Ta. Đừng để loài vật khác giống phủ lẫn nhau; đừng gieo hai thứ hạt giống trong ruộng và đừng mặc áo quần dệt bằng hai loại chỉ khác nhau.
20 Nếu một người đàn ông ăn nằm với một nữ nô lệ đã hứa gả cho một người đàn ông khác nhưng chưa được chuộc ra hoặc chưa được trả tự do, thì cả hai đều sẽ bị phạt nhưng không bị tử hình vì nữ nô lệ đó chưa được trả tự do.
21 Tuy nhiên, người đàn ông phải đem một con chiên đực đến trước cửa Lều Hội Kiến, dâng lên Đức Giê-hô-va làm tế lễ chuộc lỗi.
22 Thầy tế lễ sẽ dâng con chiên đực làm tế lễ chuộc lỗi cho người đã phạm trước mặt Đức Giê-hô-va và tội mà người đó phạm sẽ được tha.
23 Khi các con vào đất hứa và trồng các thứ cây ăn trái, thì hãy kể các trái đó như trái cấm. Các con phải xem đó là trái cấm và không được ăn trong ba năm.
24 Nhưng đến năm thứ tư các trái cây đó sẽ được thánh hóa, làm lễ vật tôn vinh Đức Giê-hô-va.
25 Đến năm thứ năm các con vẫn còn được ăn trái cây đó. Nếu các con giữ lời Ta dạy, hoa lợi sẽ gia tăng cho các con. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
26 Các con không được ăn thịt còn máu. Không được hành nghề bói toán hay ma thuật.
27 Đừng xén tóc vòng quanh đầu và đừng tỉa râu.
28 Đừng vì người chết mà cắt da thịt hay xăm vẽ trên thân thể bất cứ hình ảnh nào. Ta là Đức Giê-hô-va.
29 Đừng làm nhục con gái mà bắt nó làm gái mại dâm trong các đền miếu, khiến cho cả xứ rơi vào dâm loạn và đầy dẫy sự đồi bại.
30 Các con phải giữ các ngày sa-bát và tôn kính đền thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
31 Các con không được đến với bọn đồng bóng hay thầy bói; không được cầu hỏi chúng mà trở thành ô uế. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
32 Các con phải đứng dậy trước mặt người tóc bạc, tôn kính người già cả và kính sợ Đức Chúa Trời của các con. Ta là Đức Giê-hô-va.
33 Khi có ngoại kiều cư ngụ trong xứ các con thì đừng ức hiếp họ.
34 Ngoại kiều cư ngụ giữa các con phải được xem như người bản địa; các con phải thương yêu họ như chính mình, vì các con đã từng là kiều dân trong xứ Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
35 Các con không được làm điều bất nghĩa trong khi xét xử cũng như khi cân đo, đong đếm.
36 Các con phải dùng cân chính xác, trái cân chính xác, ê-pha và hin chính xác. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập.
37 Vậy các con phải tuân giữ và thực hành tất cả các luật lệ và mệnh lệnh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.’”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Bất cứ người Y-sơ-ra-ên hay ngoại kiều nào cư ngụ trong xứ Y-sơ-ra-ên mà đem một trong số các con cháu mình dâng cho Mo-lóc thì chắc chắn phải bị xử tử; dân trong xứ sẽ ném đá người ấy.
3 Còn Ta, Ta sẽ không nhìn mặt kẻ ấy nữa và loại trừ nó khỏi dân tộc mình vì nó đã dâng một trong số các con cháu mình cho Mo-lóc, làm ô uế đền thánh và xúc phạm danh thánh Ta.
4 Khi kẻ ấy dâng một trong các con cháu nó cho Mo-lóc mà dân trong xứ nhắm mắt làm ngơ và không xử tử nó,
5 thì chính Ta sẽ không nhìn mặt kẻ ấy và gia tộc nó nữa, nhưng loại trừ nó và những kẻ đồng lõa khỏi dân chúng về tội thông dâm với Mo-lóc.’
6 ‘Nếu người nào hướng về đồng bóng và thầy bói mà thông dâm với chúng thì Ta sẽ đối mặt chống lại kẻ ấy và loại trừ nó khỏi dân chúng.
7 Các con hãy biệt mình riêng ra thánh và nên thánh vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
8 Các con hãy tuân giữ và làm theo luật pháp của Ta; Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các con.’
9 ‘Người nào nguyền rủa cha mẹ mình thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ thì máu nó sẽ đổ lại trên nó.’
10 ‘Nếu một người phạm tội tà dâm với một người đàn bà có chồng, hay với vợ của người lân cận, thì cả người đàn ông lẫn người đàn bà đó đều phải bị xử tử.
11 Nếu người nào quan hệ tình dục với vợ của cha mình, tức là đã làm nhục cha, thì cả hai đều phải bị xử tử; máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
12 Nếu người nào quan hệ tình dục với con dâu mình thì cả hai đều phải bị xử tử, chúng đã làm điều ghê tởm; máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
13 Nếu một người đàn ông nằm với một người đàn ông khác như nằm với một người đàn bà thì cả hai đều phải bị xử tử, chúng đã làm một điều ghê tởm; máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
14 Nếu một người đàn ông lấy cả mẹ và con làm vợ thì đó là một tội ác; cả ba đều phải bị thiêu sống để tội ác đó không tồn tại giữa các con.
15 Nếu một người đàn ông giao hợp với thú vật thì phải bị xử tử; các con phải giết con thú đó đi.
16 Nếu một người đàn bà đến gần một con thú để giao hợp với nó thì các con hãy giết người đàn bà và con thú đó đi; chúng phải bị xử tử, máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
17 Nếu một người đàn ông lấy chị hay em ruột, hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì đó là điều sỉ nhục đáng xấu hổ, chúng phải bị loại trừ khỏi dân chúng. Người đã làm nhục chị em mình sẽ phải mang tội ác.
18 Nếu một người đàn ông quan hệ tình dục với một người đàn bà trong kỳ kinh nguyệt và người đàn ông để lộ ra kinh nguyệt của người đàn bà và chính người đàn bà cũng để lộ ra máu ấy, thì cả hai đều sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.
19 Không được quan hệ tình dục với chị em của mẹ hay là chị em của cha vì làm vậy là sỉ nhục thân tộc mình; cả hai đều phải mang hình phạt về tội ác đó.
20 Nếu một người đàn ông quan hệ tình dục với bác gái hay thím mình tức là làm nhục chú bác mình; cả hai đều sẽ chịu hình phạt về tội mình. Chúng sẽ chết tuyệt tự.
21 Nếu một người đàn ông lấy chị dâu hay em dâu mình thì đó là điều nhơ nhuốc; người đó đã làm nhục anh em mình. Chúng sẽ bị tuyệt tự.
22 Các con hãy vâng giữ và làm theo các luật lệ và mệnh lệnh Ta để xứ mà Ta đem các con vào sẽ không mửa các con ra.
23 Các con không được noi theo thói tục của các dân tộc mà Ta sẽ đuổi khỏi các con vì chúng đã làm những điều đó và Ta ghê tởm chúng.
24 Ta đã phán với các con: “Các con sẽ hưởng đất đai của chúng, Ta sẽ ban xứ ấy cho các con làm sản nghiệp; đó là một xứ đượm sữa và mật.” Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, đã phân rẽ các con khỏi các dân tộc khác.
25 Vậy các con phải phân biệt giữa thú thanh sạch với thú ô uế, giữa chim ô uế với chim thanh sạch; đừng làm cho mình ra kinh tởm vì thú vật, vì chim chóc hay các loài sâu bọ trên mặt đất, là các loài mà Ta đã phân biệt để các con biết là ô uế.
26 Các con hãy nên thánh cho Ta, vì Ta là Đức Giê-hô-va, là thánh; Ta đã phân rẽ các con khỏi các dân tộc để các con thuộc riêng về Ta.
27 Khi một người đàn ông hay đàn bà làm đồng bóng hay bói khoa thì phải bị xử tử; chúng phải bị ném đá và máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.’”
1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Con hãy nói với những thầy tế lễ là các con trai A-rôn rằng: ‘Một thầy tế lễ không được để cho mình bị ô uế vì một người chết trong thân tộc mình,
2 ngoại trừ vì đó là người bà con ruột thịt như mẹ, cha, con trai, con gái, anh em
3 hoặc chị em ruột còn độc thân, nương dựa thầy tế lễ vì không có chồng; thầy tế lễ có thể vì chị em đó mà bị ô uế.
4 Vì là người lãnh đạo dân chúng nên thầy tế lễ không được để cho mình bất khiết và phàm tục.
5 Các thầy tế lễ không được cạo đầu, tỉa râu mép hoặc cắt da thịt mình.
6 Họ phải được biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời và không được xúc phạm đến danh Ngài, vì họ là những người dùng lửa dâng tế lễ lên Đức Giê-hô-va, là thức ăn của Đức Chúa Trời mình; vì vậy họ phải nên thánh.
7 Thầy tế lễ không được kết hôn với một gái mại dâm hay một phụ nữ lăng loàn, hoặc một người đàn bà ly dị, vì thầy tế lễ là người được biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời.
8 Vậy các con hãy xem thầy tế lễ như thánh vì là người dâng thức ăn lên Đức Chúa Trời của các con. Họ là thánh đối với các con, vì Ta, Đức Giê-hô-va là thánh, là Đấng thánh hóa các con.
9 Nếu con gái của thầy tế lễ tự sỉ nhục mình vì làm gái mại dâm, xúc phạm đến cha mình, thì cô gái đó phải bị thiêu sống.
10 Thầy tế lễ có vị trí cao nhất trong các anh em mình, người đã được rảy dầu thánh trên đầu, được biệt riêng ra thánh để mặc lễ phục, thì không được xõa tóc hoặc xé áo,
11 không được đến gần xác chết, không được làm cho mình ra ô uế dù là vì cha hay mẹ mình.
12 Người ấy không được ra khỏi đền thánh, hoặc xúc phạm đến đền thánh của Đức Chúa Trời vì dầu thánh của Đức Chúa Trời đã được xức trên người. Ta là Đức Giê-hô-va.
13 Người ấy phải kết hôn với một trinh nữ.
14 Không được cưới đàn bà góa, đàn bà ly dị, đàn bà lăng loàn hay gái mại dâm mà phải cưới một trinh nữ trong gia tộc mình;
15 như vậy, người ấy sẽ không làm sỉ nhục dòng giống của thân tộc mình, vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa người ấy.’”
16 Đức Giê-hô-va còn phán với Môi-se:
17 “Hãy nói với A-rôn rằng: ‘Qua mọi thế hệ, không một người nào trong dòng dõi ngươi có khuyết tật mà được đến gần để dâng thức ăn lên Đức Chúa Trời mình.
18 Không một ai có khuyết tật như sau mà được đến gần: người mù lòa, què quặt, dị tướng, dị dạng;
19 người bị gãy chân hay gãy tay,
20 gù lưng, còi cọc, mắt có tật, ghẻ chốc, vảy nấm, hay tinh hoàn bị giập.
21 Bất cứ người nào trong dòng dõi thầy tế lễ A-rôn bị khuyết tật đều không được đến gần để dùng lửa dâng tế lễ lên Đức Giê-hô-va. Vì bị khuyết tật, người đó cũng không được đến gần dâng thức ăn lên Đức Chúa Trời mình.
22 Người ấy được ăn thức ăn của Đức Chúa Trời, cả các vật chí thánh lẫn các vật biệt riêng ra thánh,
23 nhưng không được lại gần bức màn hay đến bên bàn thờ vì bị khuyết tật. Như vậy người ấy không xúc phạm các nơi thánh Ta, vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các nơi ấy.’”
24 Môi-se nói như thế với A-rôn và các con trai ông ấy cùng toàn thể con dân Y-sơ-ra-ên.
1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
2 “Hãy bảo A-rôn và các con trai người phải thận trọng với những lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên cung hiến cho Ta để không xúc phạm đến danh thánh Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
3 Hãy bảo họ rằng: ‘Qua mọi thế hệ, bất cứ người nào trong dòng dõi A-rôn đang trong tình trạng ô uế mà đến gần các lễ vật thánh do dân Y-sơ-ra-ên cung hiến lên Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi sự hiện diện của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
4 Không một người nào trong dòng dõi A-rôn mắc bệnh phong hủi hay bệnh lậu được phép ăn những lễ vật thánh cho đến khi người ấy được thanh sạch. Người nào chạm vào bất cứ thứ gì đã bị ô uế bởi xác chết, người mắc chứng di tinh,
5 kẻ bị ô uế vì đụng đến loài sâu bọ, hay người bị ô uế vì chạm vào một kẻ nào đó, hoặc bất cứ thứ ô uế nào,
6 thì người ấy sẽ bị ô uế đến chiều tối và không được ăn lễ vật thánh khi chưa tắm mình trong nước.
7 Khi mặt trời lặn, người ấy được thanh sạch, và sau đó được ăn các lễ vật thánh, là thức ăn của mình.
8 Người ấy không được ăn thịt thú vật chết hay bị thú dữ xé để khỏi bị ô uế. Ta là Đức Giê-hô-va.
9 Vậy, họ phải tuân giữ điều Ta truyền phán, nếu không họ sẽ mắc tội và chết vì đã phỉ báng các lễ vật thánh. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa họ.
10 Không người nào ngoài gia đình thầy tế lễ được ăn các lễ vật thánh. Khách trọ hay người làm thuê trong nhà thầy tế lễ đều không được ăn lễ vật thánh.
11 Nhưng người nô lệ được thầy tế lễ mua về hoặc được sinh ra trong nhà sẽ được phép ăn thức ăn của thầy tế lễ.
12 Nếu con gái của thầy tế lễ lấy chồng không phải là thầy tế lễ thì sẽ không được ăn phần từ lễ vật thánh.
13 Nhưng nếu con gái của thầy tế lễ đã góa chồng hay ly dị mà không có con, nay trở về ở với cha như khi còn trẻ thì nàng sẽ được ăn thức ăn của cha. Không người nào ngoài gia đình thầy tế lễ được phép ăn các lễ vật thánh cả.
14 Nếu người nào vô ý ăn lễ vật thánh thì phải đền lại cho thầy tế lễ vật thánh đã ăn, cộng thêm một phần năm giá trị vật ấy.
15 Thầy tế lễ không được làm ô uế lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng lên Đức Giê-hô-va
16 khi để cho người ngoài ăn lễ vật thánh, khiến họ mắc tội và phải đền lễ vật. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các vật đó.’”
17 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
18 “Hãy truyền bảo A-rôn, các con trai người và toàn dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu một người trong nhà Y-sơ-ra-ên hoặc ngoại kiều sống giữa họ đã hứa dâng hay tự nguyện dâng tế lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va
19 thì phải dâng một con đực không tì vết bắt từ bầy bò, hoặc chiên con hay dê cái.
20 Các con không được dâng một con vật có tì vết vì sẽ không được đoái nhậm.
21 Khi một người đã hứa dâng hay tự nguyện dâng lên Đức Giê-hô-va một tế lễ bình an bằng bò hay chiên thì phải dâng một con vật không tì vết mới được đoái nhậm.
22 Các con không được dâng cho Đức Giê-hô-va một con vật mù mắt, què chân, bị thương tích, ghẻ chốc hay lở lói. Đừng bao giờ đem những con vật như thế đặt lên bàn thờ làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va.
23 Các con có thể dâng một con bò hay chiên con có chân quá dài hay quá ngắn làm lễ vật tự nguyện, nhưng nếu dâng nó làm lễ vật khấn nguyện thì sẽ không được đoái nhậm.
24 Trong toàn xứ, các con không được dâng lên Đức Giê-hô-va con vật có tinh hoàn bị giập, bị rách hay bị thiến.
25 Các con cũng không chấp nhận một con vật nào như thế từ người nước ngoài để làm thức ăn cho Đức Chúa Trời. Chúng sẽ không được đoái nhậm vì đã bị thương tật và tì vết.’”
26 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
27 “Một bò con, chiên con hay dê con mới sinh ra phải được ở bên mẹ nó bảy ngày. Từ ngày thứ tám trở đi nó có thể được chấp nhận làm tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
28 Không được giết cả bò mẹ lẫn bò con, chiên mẹ lẫn chiên con trong cùng một ngày.
29 Khi các con dâng tế lễ tạ ơn lên Đức Giê-hô-va thì phải dâng thế nào để được đoái nhậm.
30 Phải ăn tế lễ trong chính ngày đó, không nên để lại bất cứ thứ gì đến sáng hôm sau. Ta là Đức Giê-hô-va.
31 Vậy các con hãy gìn giữ và làm theo các điều răn của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
32 Không được xúc phạm đến danh thánh Ta để Ta được tôn thánh giữa con dân Y-sơ-ra-ên. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các con,
33 là Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các con. Ta là Đức Giê-hô-va.”
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Con hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đây là những ngày lễ Đức Giê-hô-va đã ấn định mà các con phải công bố như các kỳ hội họp thánh.
3 Mọi công việc được làm trong sáu ngày, nhưng thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, là ngày hội họp thánh, các con không được làm một công việc nào cả; dù sinh sống ở đâu thì đó vẫn là ngày sa-bát dành cho Đức Giê-hô-va.
4 Đây là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va, những kỳ hội họp thánh, mà các con phải công bố theo thời gian được ấn định.
5 Lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va bắt đầu vào buổi tối ngày mười bốn tháng giêng.
6 Sang ngày mười lăm tháng ấy là ngày lễ Bánh Không Men dâng lên Đức Giê-hô-va; các con phải ăn bánh không pha men trong bảy ngày.
7 Ngày đầu các con sẽ có kỳ hội họp thánh, các con không được làm bất cứ một công việc thường ngày nào cả.
8 Trong bảy ngày các con phải dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va. Đến ngày thứ bảy lại có một kỳ hội họp thánh nữa, các con không được làm bất cứ công việc thường ngày nào cả.’”
9 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
10 “Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con đã vào xứ mà Ta ban cho các con và đã gặt hái mùa màng thì hãy đem bó lúa đầu mùa đến cho thầy tế lễ.
11 Vào ngày sau ngày sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đó bằng nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va để các con được đoái nhậm.
12 Cũng trong ngày dâng bó lúa bằng nghi thức đưa qua đưa lại đó, các con phải dâng lên Đức Giê-hô-va một chiên con đực một tuổi không tì vết để làm tế lễ thiêu,
13 và một tế lễ chay bằng hai ký bột lọc trộn với dầu, là tế lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, cùng một lít rượu để làm lễ quán.
14 Các con không được ăn hoặc bánh hoặc hạt lúa rang hoặc gié lúa non cho đến ngày đó, tức là ngày các con dâng tế lễ lên Đức Chúa Trời mình. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các con sinh sống.
15 Các con hãy tính bảy tuần lễ trọn kể từ ngày sau ngày sa-bát tức là ngày dâng bó lúa với nghi thức đưa qua đưa lại;
16 vào ngày thứ năm mươi, tức là ngày sau ngày sa-bát thứ bảy, thì các con phải dâng lên Đức Giê-hô-va một tế lễ chay mới.
17 Mỗi gia đình phải đem đến hai ổ bánh để làm lễ vật dâng theo nghi thức đưa qua đưa lại; mỗi ổ bánh được làm bằng hai ký bột mịn có pha men và nướng lên, đó là lễ vật đầu mùa dâng lên Đức Giê-hô-va.
18 Cùng với bánh, toàn thể hội chúng các con cũng phải dâng bảy chiên con một tuổi không tì vết, một con bò và hai con chiên đực làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va kèm theo tế lễ chay và lễ quán; tế lễ thiêu là tế lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
19 Hội chúng các con cũng phải dâng một con dê đực làm tế lễ chuộc tội và hai chiên con một tuổi làm tế lễ bình an.
20 Thầy tế lễ sẽ dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va các tế lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa và hai chiên con theo nghi thức đưa qua đưa lại. Các lễ vật đó được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va và được dành cho thầy tế lễ.
21 Chính ngày đó, các con phải triệu tập dân chúng lại và có cuộc hội họp thánh; không được làm bất cứ công việc thường ngày nào cả. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các con sinh sống.
22 Khi các con gặt lúa trong đất mình thì đừng gặt đến cuối bờ ruộng, cũng đừng mót những bông lúa còn sót. Hãy để phần đó cho người nghèo và ngoại kiều. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
23 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
24 “Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ngày mồng một tháng bảy là ngày nghỉ cho các con, một ngày kỷ niệm với tiếng kèn thổi lên, và một kỳ hội họp thánh.
25 Các con không được làm việc thường ngày nào cả, nhưng phải dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va.’”
26 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
27 “Ngày mồng mười tháng bảy là ngày lễ chuộc tội, sẽ có kỳ hội họp thánh cho các con; hãy kiêng ăn và dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va.
28 Ngày đó không ai được làm việc, vì đó là ngày chuộc tội, là ngày cử hành lễ chuộc tội cho các con trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
29 Trong ngày đó, ai không kiêng ăn sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng;
30 và ai làm bất cứ việc gì trong ngày đó thì Ta sẽ tiêu diệt họ khỏi dân chúng.
31 Các con không được làm công việc gì cả. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các con sinh sống.
32 Với các con, đây là ngày sa-bát, một ngày nghỉ hoàn toàn, và các con phải kiêng ăn. Các con phải giữ ngày sa-bát từ lúc mặt trời lặn ngày mùng chín đến lúc mặt trời lặn ngày hôm sau.”
33 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
34 “Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ Lều Tạm và sẽ kéo dài bảy ngày để tôn kính Đức Giê-hô-va.
35 Ngày thứ nhất là ngày hội họp thánh, các con không được làm bất cứ công việc thường ngày nào cả.
36 Mỗi ngày trong bảy ngày, các con phải dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va. Đến ngày thứ tám các con lại có một cuộc hội họp thánh nữa và cũng dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va. Đây là một lễ hội trọng thể, các con không được làm một công việc thường ngày nào cả.
37 Đó là các lễ trọng thể của Đức Giê-hô-va mà các con phải công bố như là những kỳ hội họp thánh để dâng lên Đức Giê-hô-va những lễ vật dâng bằng lửa, tế lễ thiêu, tế lễ chay, tế lễ bình an, và lễ quán, lễ nào theo ngày nấy.
38 Ngoài ra, các con còn phải giữ những ngày sa-bát của Đức Giê-hô-va, các lễ vật, các tế lễ hứa nguyện và tự nguyện dâng lên Đức Giê-hô-va.
39 Vậy, vào ngày rằm tháng bảy, sau khi thu hoạch thổ sản, các con phải giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Ngày thứ nhất sẽ là ngày nghỉ và ngày thứ tám sau kỳ lễ cũng là ngày nghỉ.
40 Ngày thứ nhất các con phải chọn các loại trái như cam chanh, các cành chà là, các nhánh cây đầy lá, và những cành liễu mọc bên suối, rồi liên hoan suốt bảy ngày trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
41 Mỗi năm, vào tháng bảy các con phải giữ lễ nầy cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các con.
42 Các con phải ở trong lều bảy ngày. Tất cả những người sinh ra là dân Y-sơ-ra-ên đều phải ở trong lều,
43 để mọi thế hệ các con biết rằng khi Ta đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Ta đã cho họ ở trong các lều trại. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
44 Vậy Môi-se truyền dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết giữ các ngày lễ Đức Giê-hô-va đã ấn định.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên đem dầu ô-liu ép nguyên chất đến thắp đèn để giữ cho đèn luôn cháy.
3 A-rôn sẽ đặt đèn đó trong Lều Hội Kiến, bên ngoài bức màn che Hòm Chứng Ước, để đèn luôn cháy trước mặt Đức Giê-hô-va từ chiều đến sáng. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các con.
4 A-rôn sẽ đặt các đèn trên chân đèn bằng vàng ròng để đèn thường xuyên cháy trước mặt Đức Giê-hô-va.”
5 “Hãy lấy bột lọc nướng mười hai ổ bánh, mỗi ổ cân nặng hai ký,
6 rồi xếp thành hai hàng, mỗi hàng sáu ổ, trên bàn bọc vàng ròng trước mặt Đức Giê-hô-va.
7 Trên mỗi hàng, hãy rắc nhũ hương nguyên chất để tượng trưng cho việc dâng bánh, như một tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
8 Mỗi ngày sa-bát, A-rôn phải thường xuyên sắp xếp các ổ bánh nầy trước mặt Đức Giê-hô-va thay cho dân Y-sơ-ra-ên như một giao ước đời đời.
9 Bánh đó thuộc về A-rôn và các con trai người, họ phải ăn tại một nơi thánh vì đó là phần rất thánh dành cho họ từ các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các con.”
10 Có một đứa con trai, mẹ là người Y-sơ-ra-ên, cha là người Ai Cập, đến giữa con dân Y-sơ-ra-ên và đánh nhau với một người Y-sơ-ra-ên trong trại.
11 Con trai của người đàn bà Y-sơ-ra-ên ấy xúc phạm và nguyền rủa danh Đức Giê-hô-va. Người ta dẫn nó đến Môi-se. Tên của mẹ nó là Sê-lô-mít con gái của Điệp-ri, thuộc bộ tộc Đan.
12 Người ta nhốt nó vào ngục cho đến khi ý muốn Đức Giê-hô-va được bày tỏ rõ ràng.
13 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
14 “Hãy đem kẻ nguyền rủa đó ra ngoài trại. Tất cả những ai đã nghe nó nói phải đặt tay trên đầu nó, và toàn thể hội chúng phải ném đá nó.
15 Rồi con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Người nào nguyền rủa Đức Chúa Trời sẽ phải mang tội.
16 Ai xúc phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử, cả hội chúng sẽ ném đá người đó. Dù là ngoại kiều hay người bản xứ, ai xúc phạm đến danh Đức Giê-hô-va đều sẽ bị xử tử.’
17 ‘Ai đánh chết bất cứ một người nào thì sẽ bị xử tử.
18 Ai đánh chết một con vật thì phải bồi thường, vật sống đền vật sống.
19 Người nào gây thương tích cho người lân cận mình thì phải xử với nó như nó đã gây ra cho người ta;
20 xương đền xương, mắt đền mắt, răng đền răng; đã gây thương tích cho người khác thế nào thì phải chịu thương tích thế ấy.
21 Kẻ nào làm chết một súc vật thì phải bồi thường; ai đánh chết người thì phải bị xử tử.
22 Các con chỉ có một luật được áp dụng cho cả ngoại kiều lẫn người bản địa; vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
23 Môi-se truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên những điều nầy. Họ đem kẻ xúc phạm ra khỏi trại và ném đá nó. Dân Y-sơ-ra-ên làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dặn Môi-se.
1 Trên núi Si-na-i, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con vào xứ Ta sắp ban cho thì phải để đất nghỉ một năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va.
3 Trong sáu năm các con sẽ gieo cấy ruộng đồng, cắt tỉa vườn nho và thu hoa lợi.
4 Nhưng năm thứ bảy phải là năm sa-bát để cho đất nghỉ, tức là năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va, các con không được gieo cấy đồng ruộng hay cắt tỉa vườn nho mình;
5 không được gặt những gì tự mọc lên sau mùa gặt và cũng đừng hái nho từ vườn nho không cắt tỉa. Đó là một năm cho đất nghỉ.
6 Sản vật mà đất sinh ra trong năm sa-bát sẽ dùng làm thức ăn cho các con, cho tôi trai tớ gái của các con, cho người làm thuê, khách trọ giữa các con,
7 và cho gia súc cùng thú vật ở trong xứ các con. Tất cả thổ sản đều được dùng làm thức ăn.’
8 ‘Các con cũng hãy tính bảy tuần năm, nghĩa bảy lần bảy năm; thời gian của bảy tuần năm nầy sẽ là bốn mươi chín năm.
9 Vào ngày mùng mười tháng bảy tức là ngày chuộc tội, các con phải thổi tù và vang rền khắp xứ.
10 Các con phải làm cho năm thứ năm mươi nên thánh và công bố tự do cho mọi người dân trong khắp xứ. Đó là năm hân hỉ cho các con; mỗi người nhận lại cơ nghiệp mình, và mỗi người trở về với gia tộc mình.
11 Năm thứ năm mươi nầy là năm hân hỉ cho các con; các con không nên gieo cũng không gặt vật gì đất tự sinh sản, hoặc hái trái từ vườn nho không cắt tỉa,
12 vì đây là năm hân hỉ và thánh cho các con; các con chỉ ăn sản vật từ ruộng đồng.’
13 ‘Trong năm hân hỉ, mỗi người trong các con sẽ lấy lại phần sản nghiệp của mình.
14 Nếu các con bán hay là mua vật gì từ người lân cận mình thì đừng lường gạt nhau.
15 Các con phải căn cứ vào số năm từ sau năm hân hỉ mà mua từ người lân cận mình, còn người ấy sẽ căn cứ vào năm có hoa lợi mà bán cho các con.
16 Nếu còn nhiều năm thì các con bù thêm giá, nếu còn ít năm thì các con giảm giá, vì theo số năm có hoa lợi mà người ấy bán cho các con.
17 Không được lường gạt nhau nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các con.
18 Các con phải làm theo mệnh lệnh của Ta, gìn giữ và thực hành luật pháp Ta để các con được sống an lành trong xứ.
19 Đất sẽ sinh sản hoa lợi cho các con, các con sẽ ăn no nê và được sống an lành trong xứ.
20 Có thể các con sẽ thắc mắc: “Nếu chúng tôi không gieo, không thu hoa lợi thì chúng tôi sẽ lấy gì mà ăn trong năm thứ bảy?”
21 Năm thứ sáu Ta sẽ ban phước cho các con đến nỗi hoa lợi sẽ đủ cho ba năm.
22 Năm thứ tám các con sẽ gieo và ăn hoa lợi của mùa màng cũ và tiếp tục ăn cho đến mùa màng mới của năm thứ chín.
23 Đất không được bán đứt vì đất đai thuộc về Ta, còn các con ở với Ta chỉ như ngoại kiều và người tạm cư.
24 Trong khắp xứ mà các con sẽ nhận làm sản nghiệp, hãy cho người ta quyền chuộc lại đất đai.
25 Nếu anh em con rơi vào cảnh túng thiếu và phải bán một phần sản nghiệp, thì người bà con gần nhất có quyền chuộc lại phải đến chuộc lại phần đất mà anh em mình đã bán.
26 Nếu người nào không có bà con chuộc cho mình nhưng tự mình có thể xoay xở để chuộc lại được,
27 thì người ấy phải tính số năm từ khi bán và trả số trội cho người mua, rồi nhận lại sản nghiệp mình.
28 Nếu nguyên chủ không có điều kiện để trả lại tiền cho người kia thì đất bán sẽ thuộc về chủ mua cho đến năm hân hỉ; trong năm hân hỉ, đất ấy sẽ ra khỏi tay người mua và trở về nguyên chủ.
29 Nếu người nào bán một cái nhà ở trong thành có tường bao bọc thì người đó có quyền chuộc lại trong vòng một năm sau khi bán; vì quyền chuộc lại được kéo dài một năm.
30 Còn nếu trong vòng một năm mà người bán không chuộc lại thì nhà ở trong thành có tường bao bọc đó sẽ vĩnh viễn thuộc về chủ mua và con cháu họ. Nhà đó sẽ không bị trả lại trong năm hân hỉ.
31 Trái lại, nhà cửa ở trong các làng mạc không có tường thành bao bọc thì được kể như ruộng đồng, người bán có quyền chuộc lại. Nhà đó sẽ được trả lại nguyên chủ vào năm hân hỉ.
32 Tuy nhiên, về các thành và nhà cửa trong các thành thuộc sở hữu của người Lê-vi thì họ có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào.
33 Nếu người Lê-vi không chuộc lại cái nhà trong thành thuộc quyền sở hữu của họ mà họ đã bán thì đến năm hân hỉ nhà đó sẽ về nguyên chủ, vì nhà cửa trong thành của người Lê-vi là sản nghiệp của họ giữa dân Y-sơ-ra-ên.
34 Những ruộng đồng thuộc về thành của người Lê-vi không được phép bán; đó là sản nghiệp đời đời của họ.’
35 ‘Nếu người anh em của các con lâm vào cảnh nghèo khó, không thể tự nuôi sống mình, thì các con phải giúp đỡ người ấy, dù là ngoại kiều hay người tạm trú, để người ấy vẫn có thể sống chung với các con.
36 Không được lấy lãi hay trục lợi người ấy, nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời để anh em của các con có thể sống bên các con.
37 Không được cho người ấy vay tiền để lấy lãi, cũng đừng bán lương thực cho người ấy để kiếm lời.
38 Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập, để ban cho các con đất Ca-na-an và làm Đức Chúa Trời của các con.’
39 ‘Nếu người anh em ở gần các con lâm vào cảnh nghèo khó và phải bán mình cho các con thì đừng bắt người ấy làm việc như một nô lệ.
40 Người ấy sẽ ở với các con như người làm thuê, một khách trọ, và sẽ giúp việc trong nhà con cho đến năm hân hỉ.
41 Khi đó, người ấy được tự do, cùng con cái trở về với gia đình và nhận lại sản nghiệp của tổ phụ mình.
42 Vì họ là những đầy tớ của Ta đã được Ta đem ra khỏi Ai Cập nên không được bán họ như bán nô lệ.
43 Các con không được cai trị họ cách hà khắc nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời.
44 Còn các con muốn có tôi trai tớ gái thì có thể mua chúng từ các dân tộc chung quanh mình.
45 Các con cũng có thể mua nô lệ từ những người tha hương đang kiều ngụ giữa các con, và từ những gia đình có con cái sinh ra trên xứ sở của các con; chúng sẽ là sản nghiệp của các con.
46 Các con có thể giữ chúng lại làm cơ nghiệp cho con cháu mình, và để chúng làm nô lệ suốt đời. Nhưng với anh em mình là con dân Y-sơ-ra-ên thì không một ai được cai trị hà khắc với họ.
47 Nếu một ngoại kiều hay là một người tạm cư ở giữa các con trở nên giàu có, còn anh em các con ở cạnh họ lại lâm vào cảnh nghèo đói và phải bán mình cho ngoại kiều hay người tạm cư đó, hoặc cho một thành viên nào trong nhà của ngoại kiều ấy,
48 thì sau khi bán mình, người anh em đó vẫn có thể được chuộc lại: một trong các anh em của người ấy,
49 hoặc chú bác hay con của chú bác hoặc một người thân thích cũng có thể chuộc người ấy lại, hoặc nếu người ấy giàu lên và có thể tự chuộc mình.
50 Người ấy sẽ tính với chủ mua từ năm người ấy bán mình cho đến năm hân hỉ và giá tiền chuộc sẽ tùy thuộc vào số năm đó, và được tính theo lương công nhật của người làm thuê.
51 Nếu còn nhiều năm thì hãy căn cứ vào số năm đó mà khấu trừ vào giá đã bán để chuộc lại;
52 nếu còn ít năm trước khi đến năm hân hỉ thì hãy căn cứ vào số năm đó mà trả tiền chuộc.
53 Vì được xem như người làm công từ năm nầy sang năm khác nên người chủ không được cư xử hà khắc với người ấy.
54 Nếu người ấy không được chuộc bằng những phương cách trên thì người ấy và các con cái mình cũng sẽ được trả tự do vào năm hân hỉ.
55 Vì con dân Y-sơ-ra-ên là đầy tớ của Ta, những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
1 “‘Các con không được làm những hình tượng hoặc dựng tượng chạm hay trụ đá; cũng không được dựng lên trong xứ một hòn đá có hình dạng rồi sấp mình thờ lạy, vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các con.
2 Hãy giữ ngày sa-bát của Ta và tôn kính Nơi Thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
3 Nếu các con tuân theo luật lệ Ta, gìn giữ các điều răn của Ta và làm theo,
4 thì Ta sẽ ban mưa thuận gió hòa, đất sẽ sinh hoa màu và cây ngoài đồng sẽ kết bông trái.
5 Mùa đập lúa sẽ kéo dài đến mùa hái nho, mùa hái nho sẽ kéo dài đến mùa gieo mạ. Các con sẽ ăn bánh no nê và sống an lành trong xứ mình.
6 Ta sẽ ban hòa bình trong xứ, và các con sẽ ngủ mà không sợ ai đe dọa. Ta sẽ đuổi thú dữ khỏi xứ và gươm đao sẽ không đi qua lãnh thổ các con.
7 Các con sẽ truy đuổi quân thù và chúng sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm của các con.
8 Năm người trong các con sẽ truy đuổi một trăm; một trăm trong các con sẽ truy đuổi một vạn, và quân thù sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm của các con.
9 Ta sẽ quan tâm đến các con, làm cho các con sinh sôi nẩy nở thật nhiều, và xác lập giao ước với các con.
10 Các con đang còn ăn thóc lúa cũ của mùa trước đã phải dọn chỗ cho thóc lúa mùa sau.
11 Ta sẽ lập nơi ngự của Ta giữa các con, tâm hồn Ta không hề ghét bỏ các con.
12 Ta sẽ đi giữa các con, làm Đức Chúa Trời của các con và các con sẽ làm dân Ta.
13 Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để không làm nô lệ nữa. Ta đã bẻ gãy ách cho các con để các con ngẩng cao đầu mà bước đi.’
14 ‘Nhưng nếu các con không nghe Ta, không làm theo các điều răn nầy,
15 khước từ mệnh lệnh Ta và tâm hồn các con chán ghét luật lệ Ta để không làm theo những điều răn và phá vỡ giao ước của Ta,
16 thì Ta sẽ làm những điều nầy cho các con: Ta sẽ giáng trên các con nỗi kinh hoàng, bệnh lao phổi và bệnh sốt làm cho mắt các con mờ đi và tâm hồn héo hon. Các con sẽ hoài công gieo giống vì quân thù sẽ ăn hết.
17 Ta sẽ nổi giận cùng các con, các con sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ thù ghét các con sẽ thống trị các con và các con sẽ chạy trốn dù không ai đuổi theo cả.
18 Nếu đến vậy mà các con vẫn không chịu nghe Ta, thì Ta sẽ vì tội lỗi các con mà trừng phạt các con gấp bảy lần
19 và bẻ gãy tính kiêu hãnh về sức lực của các con. Ta sẽ làm cho trời của các con cứng như sắt và đất trơ như đồng;
20 năng lực của các con sẽ tiêu hao vô ích, đất không sinh sản hoa màu, cây cối không ra trái.
21 Nếu các con vẫn chống lại Ta và không muốn nghe Ta thì Ta sẽ vì tội lỗi các con mà giáng tai ương gấp bảy lần nữa.
22 Ta sẽ sai thú dữ đến và bắt con cái của các con đi, tiêu diệt gia súc và làm cho dân số giảm xuống để đường sá trở nên hoang vắng.
23 Sau những việc như thế mà các con vẫn không trở lại với Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta,
24 thì Ta cũng sẽ chống lại các con, chính Ta sẽ vì tội lỗi các con mà giáng tai ương trên các con gấp bảy lần nữa.
25 Ta sẽ đem gươm giáo đến trên các con để báo trả tội bội ước của các con. Khi các con hội họp trong thành thì Ta sẽ giáng dịch bệnh trên các con và các con sẽ rơi vào tay kẻ thù.
26 Khi Ta cắt nguồn cung cấp lương thực thì mười phụ nữ sẽ nướng bánh chung một cái lò và cân bánh chia phần; các con sẽ ăn mà không no.
27 Nếu đến mức đó mà các con vẫn không chịu nghe Ta, cứ chống lại Ta,
28 thì Ta sẽ phẫn nộ mà chống lại các con, và vì tội lỗi các con Ta sẽ trừng phạt gấp bảy lần.
29 Các con sẽ ăn thịt con trai con gái mình;
30 Ta sẽ phá hủy những nơi cao của các con, triệt hạ các bàn thờ xông hương và chất thây của các con trên thây của thần tượng mình. Tâm hồn Ta sẽ ghê tởm các con.
31 Ta sẽ làm cho thành của các con trở nên hoang vu, các nơi thánh quạnh quẽ và Ta sẽ không hưởng mùi thơm từ tế lễ của các con nữa.
32 Ta sẽ làm cho xứ sở điêu tàn đến nỗi kẻ thù của các con vào sống ở đó cũng phải sững sờ.
33 Ta sẽ phân tán các con khắp các dân và rút gươm ra truy đuổi các con. Đất đai sẽ hoang vu, thành trì sẽ vắng vẻ.
34 Bấy giờ đất sẽ được hưởng những năm sa-bát bù lại thời gian đất bị hoang vu khi các con phải ở trong đất của kẻ thù; như vậy, đất sẽ được nghỉ và hưởng những năm sa-bát.
35 Theo thời gian đã bị bỏ hoang mà đất sẽ được nghỉ vì đất đó đã không được nghỉ suốt những năm sa-bát mà các con sống trên đó.
36 Những người trong các con còn sống sót, Ta sẽ làm cho chúng sờn lòng trên đất kẻ thù. Tiếng của chiếc lá rơi cũng đủ làm cho chúng chạy trốn như chạy trốn lưỡi gươm, và ngã gục dù không ai truy đuổi cả.
37 Người nầy vấp ngã trên người kia như chạy trốn lưỡi gươm dù chẳng ai rượt đuổi theo họ. Các con không thể đương đầu với quân thù.
38 Các con sẽ bị diệt vong giữa các dân tộc, và đất của kẻ thù sẽ nuốt chửng các con.
39 Ai trong các con còn sống sót sẽ héo hon trên đất của kẻ thù vì sự gian ác của mình. Chúng cũng vì sự gian ác của tổ phụ mà héo hon trên đất kẻ thù như tổ phụ mình.
40 Nhưng nếu chúng xưng nhận tội ác của mình và tội ác của tổ phụ mình làm, tức là tội bội bạc với Ta và chống lại Ta,
41 khiến Ta phải chống trả và đẩy chúng vào xứ của kẻ thù; nếu tấm lòng không chịu cắt bì của chúng biết hạ xuống và thuận phục sự sửa phạt về tội ác mình,
42 thì Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với Gia-cốp, Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với Y-sác, cũng như giao ước với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ lại xứ nầy.
43 Đất đai bị chúng bỏ hoang sẽ được hưởng những năm sa-bát bù lại thời gian đất bị chúng bỏ hoang không người ở. Chúng phải chịu hình phạt vì chúng khinh bỉ mệnh lệnh Ta và tâm hồn chúng đã chán ghét các luật lệ Ta.
44 Tuy nhiên, dù khi chúng đang ở trong xứ kẻ thù, Ta cũng không bỏ chúng, không ghê tởm chúng đến nỗi phải tận diệt chúng và hủy bỏ giao ước giữa Ta với chúng đâu, vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng.
45 Nhưng vì chúng, Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với tổ phụ chúng là những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập trước mắt các dân để làm Đức Chúa Trời của chúng. Ta là Đức Giê-hô-va.’”
46 Đó là các luật lệ, mệnh lệnh và luật pháp mà Đức Giê-hô-va thiết lập giữa Ngài với con dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-na-i qua Môi-se.
1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
2 “Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu người nào có lời khấn nguyện đặc biệt liên quan đến việc dâng con người lên Đức Giê-hô-va, thì con phải tính theo giá trị tương đương mà dâng.
3 Nếu là nam giới từ hai mươi đến sáu mươi tuổi thì định giá gần sáu trăm gam bạc, theo siếc-lơ chuẩn của Nơi Thánh.
4 Nếu là nữ giới thì định giá khoảng ba trăm năm mươi gam bạc.
5 Nếu là thanh thiếu niên từ năm đến hai mươi tuổi thì định giá khoảng hai trăm ba mươi gam bạc cho một đứa con trai và một trăm mười lăm gam bạc cho một đứa con gái.
6 Trẻ con từ một tháng đến năm tuổi thì định giá gần sáu mươi gam cho một bé trai và gần ba mươi lăm gam bạc cho một bé gái.
7 Người già từ sáu mươi tuổi trở lên thì định giá khoảng một trăm bảy mươi gam bạc cho nam giới và một trăm mười lăm gam bạc cho nữ giới.
8 Nếu người khấn nguyện quá nghèo khó, không trả nổi số tiền quy định, thì hãy đem người ấy đến trước mặt thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ tùy theo khả năng của người khấn nguyện mà định giá.
9 Nếu một người hứa dùng con vật làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va thì con thú được dâng lên Đức Giê-hô-va sẽ trở thành vật thánh.
10 Không được đổi hay thay thế con vật tốt bằng một con xấu hay một con xấu bằng một con tốt. Nếu cứ thay thế con nầy bằng một con khác thì cả hai con vật đều trở thành vật thánh.
11 Nếu con vật hứa dâng thuộc loài ô uế, không được dùng làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va, thì phải đem con vật đó đến trước mặt thầy tế lễ,
12 rồi thầy tế lễ sẽ đánh giá tốt hay xấu; thầy tế lễ định giá nào thì theo giá nấy.
13 Còn nếu muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá đã định.
14 Nếu có người muốn hiến dâng ngôi nhà mình làm vật thánh cho Đức Giê-hô-va thì thầy tế lễ sẽ tùy theo nhà tốt hay xấu mà định giá; thầy tế lễ định giá nào phải theo giá nấy.
15 Còn nếu người đã hiến dâng ngôi nhà đó muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá đã định, và nhà sẽ thuộc về người ấy.
16 Nếu ai hiến dâng một phần đất của gia đình mình cho Đức Giê-hô-va thì việc định giá phải dựa vào lượng hạt giống cần cho đất đó: cứ khoảng sáu trăm gam bạc cho hai trăm hai mươi lít lúa mạch giống.
17 Nếu cánh đồng được hiến dâng từ năm hân hỉ thì vẫn theo giá đã định.
18 Nhưng nếu dâng sau năm hân hỉ thì thầy tế lễ căn cứ theo số năm còn lại đến năm hân hỉ mà định giá và trừ lại giá đã định.
19 Nếu người đã hiến dâng cánh đồng muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá đã định, rồi cánh đồng sẽ thuộc về người ấy.
20 Còn nếu người ấy không muốn chuộc lại hoặc đã bán cánh đồng cho người khác thì không được chuộc lại nữa.
21 Đến năm hân hỉ, cánh đồng ra khỏi tay chủ mua sẽ trở nên đất thánh vì đã được hiến dâng lên Đức Giê-hô-va; thầy tế lễ sẽ sở hữu cánh đồng đó.
22 Nếu ai dâng cho Đức Giê-hô-va một cánh đồng mà mình đã mua chứ không phải là đất của gia đình,
23 thì thầy tế lễ sẽ định giá cánh đồng cho đến năm hân hỉ rồi ngay trong ngày đó, người ấy phải trả theo giá đã định; đó là vật thánh dâng lên Đức Giê-hô-va.
24 Đến năm hân hỉ, cánh đồng đó sẽ trở về chủ bán tức là trở về nguyên chủ.
25 Việc định giá phải căn cứ vào siếc-lơ chuẩn của Nơi Thánh. Một siếc-lơ giá hai chục ghê-ra.
26 Tuy nhiên, không ai được hiến dâng con đầu lòng của đàn súc vật mình như bò hay chiên, vì các con đầu lòng vốn đã thuộc về Đức Giê-hô-va rồi.
27 Còn nếu con vật thuộc loài thú không thanh sạch thì có thể mua lại theo giá đã định cộng thêm một phần năm; nếu con thú không được chuộc lại thì phải đem bán theo giá đã định.
28 Ngoài ra, bất cứ lễ vật gì mà một người đã biệt hiến cho Đức Giê-hô-va như người, thú vật hay đất đai của gia đình, đều không được phép bán hay chuộc lại. Mọi vật đã được biệt hiến đều trở nên rất thánh cho Đức Giê-hô-va.
29 Một người đã bị phó cho sự hủy diệt thì không được phép chuộc lại; người đó phải bị giết.’
30 ‘Tất cả một phần mười thổ sản, từ ngũ cốc ngoài đồng đến hoa quả của cây cối đều thuộc về Đức Giê-hô-va; đó là vật thánh dâng lên Đức Giê-hô-va.
31 Nếu ai muốn chuộc lại vật gì trong một phần mười đó thì phải trả thêm một phần năm của một phần mười đó.
32 Còn về một phần mười của đàn bò hay chiên, tức là con thứ mười đi qua dưới cây gậy của người chăn, đều là vật thánh dâng lên Đức Giê-hô-va.
33 Không nên phân biệt con tốt hay con xấu và cũng không nên đổi. Nếu đổi thì cả con thú bị đổi và con đổi đều là vật thánh, không được chuộc lại.’”
34 Đó là các mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va bảo Môi-se truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên tại trên núi Si-na-i.