1

1 Đây là tên các con trai của Y-sơ-ra-ên đã theo Gia-cốp đến Ai Cập cùng với gia đình mình:

2 Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, và Giu-đa;

3 Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Bên-gia-min;

4 Đan, Nép-ta-li, Gát, và A-se.

5 Tất cả con cháu của Gia-cốp là bảy mươi người, còn Giô-sép thì đã ở tại Ai Cập rồi.

6 Rồi Giô-sép, các anh em của ông và những người cùng thế hệ lần lượt qua đời.

7 Con cháu Y-sơ-ra-ên sinh sôi nẩy nở rất nhanh; dân số gia tăng, lan tràn khắp xứ và trở nên vô cùng hùng mạnh.

8 Bấy giờ có một vị vua mới lên ngôi cai trị Ai Cập, không biết đến Giô-sép.

9 Vua nói với dân mình rằng: “Kìa, dân Y-sơ-ra-ên đông và mạnh hơn chúng ta.

10 Nào! Chúng ta hãy đối xử khôn ngoan với họ; nếu không, dân số họ cứ gia tăng và một khi chiến tranh xảy đến, họ sẽ bắt tay với quân thù đánh lại chúng ta, rồi trốn ra khỏi xứ.”

11 Vì vậy, người Ai Cập đặt các đốc công để hành hạ dân Y-sơ-ra-ên bằng những công việc nặng nề, bắt họ xây thành Phi-thom và Ram-se để làm kho tàng cho Pha-ra-ôn.

12 Nhưng người Ai Cập càng hành hạ chừng nào, dân số Y-sơ-ra-ên càng gia tăng và lan rộng chừng nấy. Người Ai Cập lo sợ về dân Y-sơ-ra-ên

13 nên bắt họ làm việc cực nhọc,

14 khiến cuộc đời họ thêm đắng cay với bao công việc nặng nề như nhồi đất, làm gạch và đủ thứ việc đồng áng khác. Bất cứ việc gì người Ai Cập cũng bắt dân Y-sơ-ra-ên lao dịch nhọc nhằn.

15 Vua Ai Cập truyền cho các cô đỡ người Hê-bơ-rơ, một người tên Siếp-ra và một người tên Phu-a,

16 rằng: “Khi đỡ đẻ cho các sản phụ Hê-bơ-rơ, hễ các ngươi thấy trên bàn sinh là con trai thì phải giết đi, còn con gái thì để cho sống.”

17 Nhưng các cô đỡ kính sợ Đức Chúa Trời, không làm theo lệnh của vua Ai Cập, vẫn cứ để cho các bé trai sống.

18 Vua Ai Cập gọi các cô đỡ đến và hỏi: “Sao các ngươi làm thế? Tại sao lại để cho các bé trai sống?”

19 Các cô đỡ tâu rằng: “Vì đàn bà Hê-bơ-rơ không giống như đàn bà Ai Cập. Họ khỏe lắm, đã sinh trước khi cô đỡ đến.”

20 Đức Chúa Trời ban ơn cho các cô đỡ; dân số Y-sơ-ra-ên gia tăng và họ trở nên rất hùng mạnh.

21 Vì các cô đỡ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, nên Ngài làm cho nhà họ được thịnh vượng.

22 Pha-ra-ôn truyền lệnh cho toàn thể dân chúng rằng: “Hãy ném tất cả con trai sơ sinh của người Hê-bơ-rơ xuống sông, còn con gái thì để cho sống.”

2

1 Bấy giờ có một người thuộc dòng họ Lê-vi cưới một cô gái Lê-vi làm vợ.

2 Nàng thụ thai và sinh một con trai. Thấy đứa bé kháu khỉnh, nàng đem đi giấu trong ba tháng.

3 Khi không thể giấu lâu hơn được, nàng lấy một cái thúng bằng cói, trét chai và nhựa thông, đặt đứa bé vào đó rồi đem thả giữa đám sậy ven sông.

4 Chị đứa bé đứng xa xa để trông chừng em mình.

5 Công chúa Pha-ra-ôn xuống sông tắm, còn các nữ tì đi dạo dọc bờ sông. Công chúa phát hiện một cái thúng bằng cói giữa đám sậy, liền sai nữ tì vớt lên.

6 Khi mở thúng ra, công chúa thấy đứa trẻ, một bé trai đang khóc. Cảm thương cho đứa bé, nàng nói: “Bé nầy chắc là một trong những đứa con của người Hê-bơ-rơ.”

7 Chị đứa bé nói với công chúa: “Tôi có thể đi tìm một người vú trong số những người đàn bà Hê-bơ-rơ để nuôi đứa trẻ cho bà không?”

8 Công chúa Pha-ra-ôn đáp: “Hãy đi đi.” Cô gái đi gọi mẹ của đứa bé đến.

9 Công chúa nói: “Hãy đem đứa trẻ nầy về nuôi cho ta, rồi ta sẽ trả tiền công cho.” Người đàn bà ẵm đứa trẻ về nuôi dưỡng.

10 Khi đứa trẻ đã lớn khôn, người mẹ đem nó vào cho công chúa. Nàng nhận làm con và đặt tên là Môi-se, vì nàng nói: “Ta đã vớt nó ra khỏi nước.”

11 Một hôm, khi Môi-se đã trưởng thành, ông đi ra ngoài, tìm đến đồng bào mình và thấy công việc nhọc nhằn của họ. Ông cũng thấy một người Ai Cập đánh một người Hê-bơ-rơ là anh em mình.

12 Nhìn quanh không thấy ai, Môi-se liền giết người Ai Cập đó rồi vùi xác trong cát.

13 Ngày hôm sau, Môi-se lại ra ngoài và thấy hai người Hê-bơ-rơ đang đánh nhau, ông nói với người có lỗi rằng: “Sao anh đánh đồng bào mình?”

14 Người đó trả lời: “Ai đã lập ông làm người cai trị và thẩm phán trên chúng tôi? Có phải ông cũng muốn giết tôi như đã giết tên Ai Cập kia chăng?” Môi-se sợ và nghĩ rằng: “Chắc chắn việc nầy đã bị lộ rồi.”

15 Nghe được chuyện nầy, Pha-ra-ôn tìm giết Môi-se. Nhưng Môi-se trốn khỏi Pha-ra-ôn. Ông dừng chân trong xứ Ma-đi-an và ngồi bên một giếng nước.

16 Thầy tế lễ Ma-đi-an có bảy cô con gái. Các cô ấy đến giếng múc nước đổ đầy máng cho bầy gia súc của cha mình uống.

17 Có một bọn chăn chiên đến đuổi các cô đi, nhưng Môi-se đứng ra bênh vực các cô và cho bầy gia súc uống nước.

18 Khi các cô trở về nhà cha mình là Rê-u-ên, thì người cha hỏi: “Sao hôm nay các con về sớm vậy?”

19 Họ thưa: “Có một người Ai Cập đã cứu chúng con khỏi tay bọn chăn chiên, lại còn múc nước cho bầy chiên uống nữa.”

20 Người cha hỏi tiếp: “Người đó bây giờ ở đâu? Sao các con lại bỏ người ta vậy? Hãy mời người đó về dùng bữa.”

21 Môi-se bằng lòng ở lại với Rê-u-ên, và ông gả Sê-phô-ra, con gái mình, cho Môi-se.

22 Nàng sinh một con trai và Môi-se đặt tên là Ghẹt-sôm, vì ông nói: “Tôi kiều ngụ trên đất khách.”

23 Sau một thời gian dài, vua Ai Cập qua đời. Dân Y-sơ-ra-ên than thở, kêu van dưới ách nô lệ, tiếng ta thán của họ thấu đến Đức Chúa Trời.

24 Ngài nghe tiếng than thở của họ và nhớ lại giao ước đã kết lập với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.

25 Đức Chúa Trời đoái đến dân Y-sơ-ra-ên và thấu hiểu cảnh ngộ của họ.

3

1 Bấy giờ Môi-se đang chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ xứ Ma-đi-an. Ông dẫn bầy chiên qua bên kia hoang mạc và đến Hô-rếp là núi của Đức Chúa Trời.

2 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông trong ngọn lửa, giữa một bụi gai. Ông nhìn thấy bụi gai cháy nhưng không hề tàn.

3 Môi-se tự nhủ: “Ta phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ nầy, tại sao bụi gai không hề bị thiêu rụi.”

4 Đức Giê-hô-va thấy ông đến gần để xem, Đức Chúa Trời từ giữa bụi gai gọi: “Hỡi Môi-se, Môi-se!” Ông thưa rằng: “Có con đây!”

5 Đức Chúa Trời phán: “Đừng đến gần! Hãy cởi dép khỏi chân con vì chỗ con đang đứng là đất thánh.”

6 Rồi Ngài lại phán: “Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ con, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.” Môi-se liền che mặt vì sợ nhìn thấy Đức Chúa Trời.

7 Đức Giê-hô-va phán: “Ta đã thấy rõ nỗi khốn khổ của dân Ta tại Ai Cập và đã nghe thấu tiếng họ kêu than vì các đốc công. Phải, Ta biết được nỗi đau đớn của họ.

8 Ta ngự xuống để giải cứu dân nầy khỏi tay người Ai Cập, đem họ ra khỏi xứ ấy, đưa đến một vùng đất tốt đẹp và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi ở của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.

9 Nầy, tiếng kêu than của dân Y-sơ-ra-ên đã thấu đến Ta; Ta đã thấy người Ai Cập áp bức họ như thế nào.

10 Vậy bây giờ, hãy lại đây, Ta sẽ sai con đến Pha-ra-ôn để con đem dân Ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi Ai Cập.”

11 Nhưng Môi-se thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Con là ai mà dám đến với Pha-ra-ôn và đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập?”

12 Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ ở với con. Đây là dấu hiệu để con biết rằng Ta đã sai con đi: Khi con đã đem dân chúng ra khỏi Ai Cập rồi thì các con sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời trên núi nầy.”

13 Môi-se thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu con đi đến với dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ: ‘Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em sai tôi đến với anh em;’ và họ hỏi con: ‘Tên Ngài là gì?’ thì con sẽ nói với họ thế nào?”

14 Đức Chúa Trời phán: “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU.” Ngài lại phán: “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘ĐẤNG TỰ HỮU đã sai tôi đến với anh em.’”

15 Đức Chúa Trời lại phán với Môi-se: “Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên thế nầy: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, sai tôi đến với anh em’: Đây là danh đời đời của Ta, Là danh ghi nhớ qua mọi thế hệ.

16 Hãy đi triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên lại và nói với họ rằng: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ông, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với tôi và phán: Ta đã thật sự quan tâm đến các con và thấy những điều người ta đối xử với các con tại Ai Cập.

17 Ta hứa rằng Ta sẽ đưa các con ra khỏi cảnh khổ đau tại Ai Cập và đem các con vào đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, là vùng đất đượm sữa và mật.’

18 Họ sẽ vâng theo lời con. Vậy con và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy đi yết kiến vua Ai Cập và nói rằng: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra với chúng tôi. Bây giờ, xin bệ hạ cho chúng tôi đi ba ngày đường vào hoang mạc để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.’

19 Tuy nhiên, Ta biết rằng vua Ai Cập sẽ chẳng bao giờ cho các con đi, nếu không có bàn tay quyền năng can thiệp.

20 Vì vậy, Ta sẽ ra tay trừng phạt Ai Cập bằng các phép lạ mà Ta sẽ làm giữa xứ đó, và rồi họ sẽ cho các con đi.

21 Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn dưới mắt người Ai Cập để khi ra đi, các con sẽ chẳng ra đi tay không.

22 Nhưng mỗi phụ nữ sẽ xin người lân cận và người nữ tạm trú trong nhà mình các món đồ bằng vàng, bằng bạc và quần áo, rồi mặc vào cho con trai con gái mình. Như thế, các con sẽ tước đoạt của cải người Ai Cập.”

4

1 Môi-se thưa rằng: “Nhưng họ sẽ không tin và không nghe lời con, vì họ sẽ nói: ‘Đức Giê-hô-va nào có hiện ra với ông đâu.’”

2 Đức Giê-hô-va hỏi: “Con đang cầm vật gì trong tay?” Môi-se thưa: “Một cây gậy.”

3 Chúa phán: “Hãy ném nó xuống đất đi”. Ông ném gậy xuống đất và cây gậy biến thành một con rắn. Môi-se chạy trốn con rắn.

4 Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đưa tay nắm lấy đuôi nó.” Ông đưa tay bắt con rắn và nó lại biến thành cây gậy trong tay ông.

5 Đức Giê-hô-va phán: “Việc nầy là để họ tin rằng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với con.”

6 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy đặt tay con vào ngực.” Ông đặt tay vào ngực, và khi lấy tay ra, kìa, tay ông nổi phong hủi trắng như tuyết.

7 Rồi Ngài phán: “Hãy đặt tay con vào ngực một lần nữa.” Ông lại đặt tay vào ngực, và khi lấy tay ra, kìa, da thịt tay ông trở lại bình thường.

8 Ngài lại phán: “Nếu họ không tin con mà cũng không nghe tiếng phán qua dấu lạ thứ nhất, thì sẽ tin dấu lạ thứ hai.

9 Nhưng nếu họ chẳng tin cả hai dấu lạ ấy và cũng không vâng theo lời con, thì hãy lấy nước dưới sông mà đổ tràn trên đất khô; nước mà con đã lấy từ dưới sông đó sẽ biến thành máu trên mặt đất.”

10 Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Ôi! Lạy Chúa, từ trước đến nay và ngay cả lúc Chúa phán bảo đầy tớ Ngài, con vốn không có tài ăn nói, miệng lưỡi con hay ngập ngừng.”

11 Đức Giê-hô-va phán với ông: “Ai tạo ra môi miệng loài người? Ai đã làm cho con người thành câm, thành điếc, thành sáng, thành mù? Chẳng phải bởi Ta, là Đức Giê-hô-va đó sao?

12 Vậy bây giờ hãy đi đi, Ta sẽ ở với miệng con và dạy con những lời phải nói.”

13 Môi-se thưa: “Ôi! Lạy Chúa, xin Chúa sai người khác.”

14 Đức Giê-hô-va nổi giận với Môi-se, Ngài phán: “Chẳng phải A-rôn, người Lê-vi, là anh con đó sao? Ta biết người ấy có tài ăn nói. Kìa, anh ta đang đến gặp con đó; gặp được con, lòng anh ta sẽ vui lắm.

15 Con hãy nói với anh con, và sắp đặt lời lẽ vào miệng anh ta. Chính Ta sẽ ở với miệng con cũng như miệng anh con và dạy các con những gì phải làm.

16 Chính anh con sẽ là người phát ngôn cho con trước dân chúng, là cái miệng cho con, còn con sẽ như là Đức Chúa Trời cho anh ta vậy.

17 Con hãy cầm gậy nầy trên tay để dùng làm các dấu lạ.”

18 Môi-se trở về với Giê-trô, ông gia mình và thưa: “Xin cha cho con trở lại với anh em con tại Ai Cập để xem họ sống chết ra sao.” Giê-trô nói với Môi-se: “Con hãy đi bình an.”

19 Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se tại Ma-đi-an rằng: “Hãy trở về Ai Cập vì tất cả những người tìm hại mạng sống con đã chết hết rồi.”

20 Môi-se đỡ vợ và các con trai mình lên lưng lừa và lên đường trở về Ai Cập. Ông cũng cầm trong tay cây gậy của Đức Chúa Trời.

21 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Khi trở về Ai Cập, con hãy thi thố các dấu lạ Ta đã giao vào tay con để thực hiện trước mặt Pha-ra-ôn. Nhưng Ta sẽ khiến vua Ai Cập cứng lòng, không cho dân chúng ra đi.

22 Vậy con phải nói với Pha-ra-ôn rằng Đức Giê-hô-va có phán: ‘Y-sơ-ra-ên là con Ta, là con trưởng nam của Ta,

23 nên Ta phán với ngươi rằng: Hãy cho con Ta đi, để nó phụng sự Ta. Nếu ngươi từ chối không chịu cho nó đi, nầy, Ta sẽ giết con trưởng nam của ngươi.’”

24 Dọc đường, tại một quán trọ, Đức Giê-hô-va hiện ra với Môi-se và tìm cách giết ông.

25 Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt dương bì của con mình, rồi lấy nó chạm vào chân Môi-se, và nói: “Thật, chàng là người chồng huyết cho tôi!”

26 Đức Giê-hô-va tha cho Môi-se. Do việc cắt bì nầy mà Sê-phô-ra nói: “Chàng là người chồng huyết”.

27 Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Hãy vào trong hoang mạc để đón Môi-se.” A-rôn đi gặp Môi-se trên núi của Đức Chúa Trời và hôn ông.

28 Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời Đức Giê-hô-va sai ông nói và mọi dấu lạ Ngài truyền ông làm.

29 Môi-se và A-rôn đi triệu tập tất cả các trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên.

30 A-rôn thuật lại tất cả những lời Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se, và làm những dấu lạ trước mặt dân chúng.

31 Dân chúng tin. Khi nghe rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên cũng như đã thấy cảnh khổ đau của họ, thì họ cúi đầu thờ lạy.

5

1 Sau đó, Môi-se và A-rôn đến trình với Pha-ra-ôn rằng: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên, có phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để họ cử hành lễ thờ phượng Ta tại hoang mạc.’”

2 Nhưng Pha-ra-ôn nói: “Giê-hô-va là ai mà ta phải vâng lời để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi? Ta không biết Giê-hô-va nào hết và cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi đâu cả.”

3 Môi-se và A-rôn nói: “Đức Chúa Trời của người Hê-bơ-rơ đã hiện đến với chúng tôi. Xin bệ hạ cho phép chúng tôi đi ba ngày đường vào hoang mạc để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi; nếu không, Ngài sẽ giáng dịch hạch hoặc gươm đao xuống chúng tôi.”

4 Vua Ai Cập nói: “Hỡi Môi-se và A-rôn, sao các ngươi xúi dân chúng bỏ việc? Hãy đi làm công việc của mình đi!”

5 Pha-ra-ôn lại nói: “Kìa, dân cư trong xứ bây giờ đông đúc quá mà hai ngươi lại muốn cho chúng nghỉ làm việc sao!”

6 Ngay trong ngày đó, Pha-ra-ôn truyền lệnh cho các đốc công và các trưởng toán:

7 “Các ngươi đừng phát rơm cho dân chúng làm gạch như trước nữa. Hãy để cho chúng tự đi kiếm rơm lấy mà làm.

8 Nhưng số lượng gạch thì các ngươi phải buộc chúng giữ như cũ, không được giảm bớt. Vì rảnh tay nên chúng mới rủ nhau: ‘Hãy đi dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời chúng ta!’

9 Hãy giao thêm việc nặng nhọc cho chúng để vì bận rộn công việc, chúng chẳng còn quan tâm đến những lời dối trá đó nữa.”

10 Các đốc công và trưởng toán đi ra nói với dân chúng: “Pha-ra-ôn đã bảo thế nầy: ‘Ta chẳng cấp rơm cho các ngươi nữa.

11 Hãy tự đi kiếm rơm ở đâu đó thì kiếm; nhưng công việc của các ngươi thì không được giảm tí nào cả.’”

12 Dân chúng phải tản mác khắp đất Ai Cập để gom góp gốc rạ thế cho rơm.

13 Các đốc công lại thúc hối: “Hãy làm cho xong việc đi, mỗi ngày phải làm đủ số quy định như khi còn phát rơm vậy.”

14 Những trưởng toán người Y-sơ-ra-ên do các đốc công của Pha-ra-ôn chỉ định để theo dõi những người Y-sơ-ra-ên khác đã bị đánh và tra hỏi: “Tại sao hôm qua và hôm nay các ngươi không làm đủ số gạch đã định như trước kia?”

15 Các trưởng toán người Y-sơ-ra-ên đến kêu van với Pha-ra-ôn: “Sao bệ hạ nỡ đối xử với các đầy tớ bệ hạ như thế?

16 Đầy tớ bệ hạ không được phát rơm, nhưng họ lại cứ buộc: ‘Hãy làm gạch đi!’ Nầy, đầy tớ của bệ hạ bị đánh đập; nhưng lỗi là do chính dân của bệ hạ.”

17 Vua đáp: “Các ngươi là quân lười biếng, quân lười biếng! Vì vậy mà các ngươi nói với nhau: ‘Hãy đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va!’

18 Bây giờ hãy đi làm việc đi, chẳng ai phát rơm cho đâu; nhưng các ngươi vẫn phải nộp đủ số gạch.”

19 Các trưởng toán Y-sơ-ra-ên thấy mình đang lâm vào cảnh rắc rối khi người ta bảo: “Các ngươi không được giảm số gạch đã ấn định mỗi ngày.”

20 Ra khỏi cung điện Pha-ra-ôn, họ gặp Môi-se và A-rôn đang đợi tại đó.

21 Các trưởng toán nói: “Hai ông đã làm cho chúng tôi thành vật đáng tởm trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, đã trao gươm vào tay họ để giết chúng tôi. Cầu xin Đức Giê-hô-va xem xét và xử đoán các ông!”

22 Môi-se trở về và thưa với Đức Giê-hô-va: “Lạy Chúa! Tại sao Chúa ngược đãi dân nầy? Sao Chúa lại sai con đến đây?

23 Từ khi con yết kiến Pha-ra-ôn và nhân danh Chúa mà nói thì vua ấy lại ngược đãi dân nầy, và Chúa chẳng giải cứu dân Ngài.”

6

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Bây giờ con sẽ thấy những gì Ta làm cho Pha-ra-ôn. Thật, bởi bàn tay quyền năng của Ta, vua ấy sẽ để cho Y-sơ-ra-ên ra đi; bởi bàn tay quyền năng của Ta, vua ấy sẽ đuổi họ ra khỏi xứ.”

2 Đức Chúa Trời lại phán với Môi-se: “Ta là Đức Giê-hô-va.

3 Ta đã hiện ra với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp với tư cách là Đức Chúa Trời Toàn Năng; nhưng Ta chưa hề tỏ cho họ biết danh Ta là Giê-hô-va.

4 Ta cũng đã lập giao ước với họ để ban đất Ca-na-an, là đất họ đã cư ngụ như những khách lạ.

5 Ta cũng đã nghe lời thở than của dân Y-sơ-ra-ên bị người Ai Cập bắt làm nô lệ và nhớ lại giao ước của Ta.

6 Vì vậy, con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ta là Đức Giê-hô-va, Ta sẽ đem các con ra khỏi gánh nặng của người Ai Cập và giải phóng các con khỏi ách nô lệ. Ta sẽ giơ thẳng tay, dùng sự đoán phạt nặng nề mà chuộc các con.

7 Ta sẽ nhận các con làm dân Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của các con. Các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi gánh nặng của người Ai Cập.

8 Ta sẽ đem các con vào miền đất Ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, và ban đất ấy cho các con làm sản nghiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.’”

9 Môi-se nói tất cả điều đó với dân Y-sơ-ra-ên nhưng họ không nghe Môi-se vì tinh thần họ sa sút và ách nô lệ quá nặng nề.

10 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

11 “Hãy đi nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, để vua ấy cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.”

12 Nhưng Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Thưa Chúa, con là người không có tài ăn nói; dân Y-sơ-ra-ên đã chẳng nghe con, làm sao Pha-ra-ôn nghe con được?”

13 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn, truyền cho hai ông phải đến với dân Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, để đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.

14 Đây là trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên. Các con trai của Ru-bên, trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, là: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn và Cạt-mi. Đó là gia tộc nhà Ru-bên.

15 Các con trai của Si-mê-ôn là: Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ là con của người vợ Ca-na-an. Đó là gia tộc nhà Si-mê-ôn.

16 Đây là tên các con trai của Lê-vi, theo bảng phả hệ của họ, là: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri. Lê-vi hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi.

17 Các con trai của Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc là: Líp-ni, và Si-mê-i.

18 Các con trai của Kê-hát là: Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. Kê-hát hưởng thọ một trăm ba mươi ba tuổi.

19 Các con trai của Mê-ra-ri là: Mách-li và Mu-si. Đó là gia tộc nhà Lê-vi, theo phả hệ của họ.

20 Am-ram cưới Giô-kê-bết, cô mình; bà sinh cho ông hai người con là A-rôn và Môi-se. Am-ram hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi.

21 Các con trai của Dít-sê-ha là: Cô-ra, Nê-phết và Xiếc-ri.

22 Các con trai của U-xi-ên là: Mi-sa-ên, Ên-sa-phan và Sít-ri.

23 A-rôn cưới Ê-li-sê-ba, con gái của A-mi-na-đáp, em của Na-ha-sôn; nàng sinh cho ông mấy người con là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.

24 Các con trai của Cô-ra là: Át-si, Ên-ca-na và A-bi-a-sáp. Đó là gia tộc của Cô-ra.

25 Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, cưới một trong các con gái của Phu-ti-ên; bà sinh Phi-nê-a cho ông. Đây là các trưởng gia tộc của bộ tộc Lê-vi, theo gia tộc nhà Lê-vi.

26 Chính A-rôn và Môi-se là những người mà Đức Giê-hô-va đã phán dạy: “Hãy theo từng đội ngũ mà đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.”

27 Cũng chính Môi-se và A-rôn là hai người đã nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, về việc đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.

28 Trong ngày Đức Giê-hô-va phán với Môi-se tại Ai Cập,

29 Ngài đã nói với Môi-se rằng: “Ta là Đức Giê-hô-va. Hãy thuật lại với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, tất cả những gì Ta đã phán với con.”

30 Môi-se thưa: “Thưa, con là người không có tài ăn nói thì làm sao Pha-ra-ôn chịu nghe con?”

7

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nầy, Ta lập con như là Đức Chúa Trời đối với Pha-ra-ôn; còn A-rôn, anh con, sẽ là người phát ngôn của con.

2 Con hãy thuật lại mọi điều Ta đã truyền dạy con; rồi A-rôn, anh con, sẽ trình với Pha-ra-ôn để vua ấy cho phép dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.

3 Nhưng Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và dù Ta có gia tăng các dấu lạ phép mầu trong Ai Cập

4 thì Pha-ra-ôn cũng sẽ chẳng nghe các con đâu. Ta sẽ ra tay đoán phạt Ai Cập một cách nặng nề để đem đạo quân Ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ đó.

5 Khi Ta giang tay chống lại Ai Cập để đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi đó thì người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”

6 Môi-se và A-rôn làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền.

7 Lúc yết kiến Pha-ra-ôn, Môi-se đã được tám mươi tuổi, còn A-rôn tám mươi ba.

8 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:

9 “Khi nào Pha-ra-ôn bảo các con: ‘Hãy làm phép lạ đi,’ thì con nói với A-rôn rằng: ‘Lấy cây gậy của anh ra và ném xuống trước mặt Pha-ra-ôn thì nó sẽ biến thành con rắn.’”

10 Vậy Môi-se và A-rôn đến với Pha-ra-ôn và làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền. A-rôn ném cây gậy xuống trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, gậy liền biến thành con rắn.

11 Pha-ra-ôn triệu tập các pháp sư và thầy phù thủy là những thuật sĩ Ai Cập đến, họ cũng dùng ma thuật mà làm y như vậy.

12 Mỗi người ném gậy mình xuống; chúng cũng biến thành rắn. Nhưng cây gậy của A-rôn nuốt các gậy của họ.

13 Lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi, không chịu nghe Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

14 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Lòng Pha-ra-ôn đã chai cứng; vua ấy từ chối, không chịu để dân chúng ra đi.

15 Hãy đến gặp Pha-ra-ôn vào buổi sáng, lúc vua đi ra bờ sông. Hãy đợi vua bên bờ sông và cầm trong tay cây gậy đã từng biến thành con rắn.

16 Con hãy tâu với vua rằng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ đã sai tôi đến gặp bệ hạ và thưa với bệ hạ: ‘Hãy để cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta trong hoang mạc; nhưng đến bây giờ bệ hạ vẫn không vâng lời.’

17 Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: ‘Bởi việc nầy ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’ Nầy, tôi sẽ lấy cây gậy trong tay tôi mà đập xuống nước sông, và nước sẽ biến thành máu;

18 cá dưới sông sẽ chết; dòng sông sẽ hôi thối; người Ai Cập sẽ kinh tởm khi uống phải nước sông ấy.”

19 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bảo A-rôn: ‘Cầm lấy cây gậy của anh và đưa tay trên các nguồn nước của Ai Cập, tức là các sông, rạch, ao, và các hồ chứa nước, để nước đó biến thành máu. Máu sẽ có khắp nơi trong xứ Ai Cập, cả trong những bình chứa bằng gỗ, bằng đá.’”

20 Môi-se và A-rôn làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền. Trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, A-rôn giơ gậy lên, đập nước sông, và tất cả nước sông đều biến thành máu.

21 Cá dưới sông chết, dòng sông trở nên hôi thối, người Ai Cập không thể nào uống nước sông được. Cả Ai Cập chỗ nào cũng có máu.

22 Nhưng các thuật sĩ Ai Cập cũng dùng ma thuật làm giống như vậy nên lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi, không nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

23 Pha-ra-ôn trở về cung điện, không chút bận tâm về điều đó.

24 Còn cả dân Ai Cập phải đào dọc theo sông để tìm nước vì họ không thể uống nước sông được.

25 Việc này kéo dài bảy ngày kể từ khi Đức Giê-hô-va giáng tai vạ trên sông.

8

1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy đi gặp Pha-ra-ôn, và nói với vua ấy rằng: Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.

2 Nếu ngươi từ chối không chịu cho đi, nầy, Ta sẽ giáng tai vạ ếch nhái trên khắp bờ cõi ngươi.

3 Sông sẽ lúc nhúc ếch nhái; chúng sẽ bò vào cung điện, phòng ngủ, và lên cả giường ngươi, vào nhà quần thần và dân chúng ngươi, vào trong lò bếp và thùng nhồi bột của ngươi.

4 Ếch nhái sẽ bò lên mình ngươi, lên mình dân chúng và tất cả quần thần ngươi.’”

5 Rồi Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bảo A-rôn rằng: ‘Hãy cầm gậy đưa tay trên các nguồn nước, sông, rạch, ao, và khiến ếch nhái tràn lên đất Ai Cập.’”

6 A-rôn đưa tay trên các nguồn nước của Ai Cập và ếch nhái bò lên bao phủ khắp đất.

7 Các thuật sĩ cũng dùng ma thuật làm giống như vậy, và khiến ếch nhái bò lên đất Ai Cập.

8 Pha-ra-ôn gọi Môi-se và A-rôn đến và bảo: “Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va khiến ếch nhái tránh xa ta và dân ta thì ta sẽ để cho dân Hê-bơ-rơ đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.”

9 Môi-se thưa với Pha-ra-ôn rằng: “Xin vui lòng ấn định thì giờ để tôi vì bệ hạ, vì quần thần và dân chúng của bệ hạ mà cầu khẩn Đức Giê-hô-va, để ếch nhái bị tiêu diệt khỏi bệ hạ và cung điện, chỉ còn lại dưới sông mà thôi.”

10 Vua đáp: “Ngày mai.” Môi-se nói: “Sẽ đúng như lời bệ hạ nói để bệ hạ biết rằng chẳng có ai giống như Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.

11 Ếch nhái sẽ đi khỏi bệ hạ, cung điện, quần thần, và dân chúng của bệ hạ; chỉ còn lại dưới sông mà thôi.”

12 Sau khi Môi-se và A-rôn rời khỏi Pha-ra-ôn, Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va về nạn ếch nhái mà Ngài đã đưa đến cho Pha-ra-ôn.

13 Đức Giê-hô-va làm theo lời Môi-se cầu xin. Ếch nhái trong nhà, trong làng, ngoài đồng đều chết hết.

14 Người ta dồn ếch nhái lại thành từng đống, khắp xứ bị hôi thối.

15 Nhưng khi Pha-ra-ôn thấy mình được thoát nạn thì lại cứng lòng, không chịu nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

16 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bảo A-rôn rằng: ‘Hãy giơ gậy ra, đập bụi trên đất, bụi sẽ biến thành muỗi tràn khắp đất Ai Cập.’”

17 Hai ông làm đúng như vậy. A-rôn tay cầm gậy giơ ra, đập bụi trên đất, bụi biến thành muỗi bám trên người và súc vật; tất cả bụi đều biến thành muỗi tràn khắp đất Ai Cập.

18 Các thuật sĩ cũng cố gắng dùng ma thuật để hóa muỗi nhưng họ không thể làm được. Muỗi cứ thế bám trên người và súc vật.

19 Các thuật sĩ tâu với Pha-ra-ôn: “Đây là ngón tay của Đức Chúa Trời.” Nhưng lòng Pha-ra-ôn vẫn chai lì, không chịu nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

20 Sau đó, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy dậy thật sớm và ra mắt Pha-ra-ôn khi vua đi ra bờ sông và nói với vua rằng Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.

21 Vì nếu ngươi không cho dân Ta đi, nầy, Ta sẽ sai ruồi nhặng đến trên ngươi, quần thần, dân chúng và cung điện ngươi. Nhà cửa người Ai Cập và khắp các vùng đất họ sinh sống đều sẽ nhung nhúc ruồi nhặng.

22 Nhưng ngày đó, Ta sẽ để riêng đất Gô-sen là nơi dân Ta cư trú; nơi đó sẽ không có ruồi nhặng để ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va đang ngự giữa xứ nầy.

23 Ta sẽ phân biệt giữa dân Ta với dân ngươi. Dấu lạ nầy sẽ xảy ra vào ngày mai.’”

24 Đức Giê-hô-va làm đúng như vậy. Những đàn ruồi nhặng nhung nhúc kéo vào cung điện Pha-ra-ôn và nhà cửa của quần thần. Khắp đất Ai Cập đều bị ruồi nhặng tàn phá.

25 Pha-ra-ôn gọi Môi-se và A-rôn vào và bảo: “Hãy đi và dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời các ngươi ngay trong xứ nầy.”

26 Nhưng Môi-se thưa: “Làm như thế không tiện vì người Ai Cập rất ghê tởm các sinh tế mà chúng tôi dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Nếu chúng tôi dâng những sinh tế mà người Ai Cập xem là ghê tởm, liệu họ không ném đá chúng tôi sao?

27 Chúng tôi phải đi vào trong hoang mạc ba ngày đường để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi như Ngài đã dạy bảo chúng tôi.”

28 Pha-ra-ôn nói: “Ta sẽ để các ngươi đi dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi trong hoang mạc, nhưng không được đi quá xa. Bây giờ hãy cầu nguyện cho ta.”

29 Môi-se thưa: “Vâng, tôi sẽ rời khỏi bệ hạ và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va; ngày mai ruồi nhặng sẽ bay khỏi bệ hạ, quần thần và dân chúng. Nhưng xin bệ hạ đừng lừa gạt mà không cho dân chúng đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.”

30 Môi-se rời khỏi Pha-ra-ôn, và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va.

31 Ngài làm đúng như lời Môi-se cầu xin, đuổi hết ruồi nhặng khỏi Pha-ra-ôn, quần thần, và dân chúng, không còn lại một con nào.

32 Nhưng lần nầy, Pha-ra-ôn cũng lại cứng lòng, không cho dân chúng ra đi.

9

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn và nói rằng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ phán: ‘Hãy để cho dân Ta đi, để chúng phụng sự Ta.

2 Vì nếu ngươi không chịu cho chúng đi mà cứ cầm giữ lại

3 thì nầy, tay của Đức Giê-hô-va sẽ giáng ôn dịch nặng nề trên các súc vật của ngươi ngoài đồng, trên ngựa, lừa, lạc đà, bò, và chiên.

4 Đức Giê-hô-va sẽ phân biệt giữa súc vật của dân Y-sơ-ra-ên và súc vật của người Ai Cập; không một con vật nào thuộc về dân Y-sơ-ra-ên bị chết cả.’”

5 Đức Giê-hô-va ấn định thời hạn và phán: “Ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ làm việc đó tại Ai Cập.”

6 Ngay hôm sau, Đức Giê-hô-va thực hiện việc ấy; tất cả súc vật của người Ai Cập đều chết, nhưng không một con vật nào của dân Y-sơ-ra-ên phải chết cả.

7 Pha-ra-ôn sai người đi xem xét; thật, chẳng có một con vật nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết cả. Nhưng lòng Pha-ra-ôn vẫn chai cứng, không cho dân chúng ra đi.

8 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Hãy hốt tro trong lò đầy tay các con, rồi Môi-se tung tro đó lên không trước sự chứng kiến của Pha-ra-ôn.

9 Tro ấy sẽ biến thành bụi khắp đất Ai Cập, sinh ra ung nhọt và cương mủ trên thân thể người và súc vật trong cả xứ.”

10 Vậy hai ông hốt tro trong lò và đứng trước mặt Pha-ra-ôn; Môi-se tung tro lên không, tro ấy sinh ra ung nhọt và cương mủ trên thân thể người và súc vật.

11 Vì bị ung nhọt, các thuật sĩ không thể đứng trước mặt Môi-se. Ung nhọt đã nổi trên thân thể họ cũng như trên tất cả người Ai Cập.

12 Đức Giê-hô-va làm cho lòng Pha-ra-ôn chai cứng, không nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se.

13 Sau đó, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Sáng mai hãy thức dậy sớm, đứng trước mặt Pha-ra-ôn và nói rằng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.

14 Vì lần nầy Ta sẽ giáng các tai ương trên lòng ngươi, quần thần, và dân ngươi, để ngươi biết rằng khắp thế gian không có ai bằng Ta.

15 Bây giờ, Ta có thể đưa tay ra trừng phạt ngươi và dân ngươi bằng dịch hạch để tiêu diệt ngươi và dân ngươi khỏi đất rồi.

16 Nhưng sở dĩ Ta để ngươi sống là để ngươi thấy quyền năng của Ta, và để danh Ta được truyền rao khắp đất.

17 Nếu ngươi còn cản trở, không để cho dân Ta đi,

18 thì ngày mai, vào giờ nầy, Ta sẽ giáng một trận mưa đá lớn chưa từng có ở Ai Cập từ ngày dựng nước cho đến ngày nay.

19 Vậy bây giờ, hãy cho dẫn súc vật và những gì thuộc về ngươi ở ngoài đồng vào chỗ an toàn hơn. Mọi người và vật còn ở ngoài đồng, chưa được đem vào nhà, sẽ chết hết khi mưa đá trút xuống.’”

20 Trong số các bề tôi Pha-ra-ôn, người nào kính sợ lời Đức Giê-hô-va thì rút nô lệ và súc vật mình về nhà;

21 còn kẻ nào thờ ơ với lời Đức Giê-hô-va thì để nô lệ và súc vật mình ở ngoài đồng.

22 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy đưa tay lên trời để mưa đá rơi xuống khắp đất Ai Cập, trên người, súc vật, và mọi cây cỏ ngoài đồng.”

23 Môi-se giơ gậy lên trời, Đức Giê-hô-va khiến sấm sét vang động, mưa đá trút xuống, và tia chớp sáng lòe trên mặt đất. Vậy là Đức Giê-hô-va đã khiến mưa đá trút xuống Ai Cập.

24 Mưa đá trút xuống, pha trộn với lửa chớp nhoáng tạo nên một trận mưa đá khủng khiếp chưa từng có kể từ ngày Ai Cập dựng nước cho đến bây giờ.

25 Khắp Ai Cập, mưa đá tàn phá mọi vật ở ngoài đồng, cả người lẫn súc vật; rau cỏ ngoài đồng bị giập, tất cả cây cối đều bị gãy đổ.

26 Chỉ có đất Gô-sen, nơi cư trú của dân Y-sơ-ra-ên, là không bị mưa đá mà thôi.

27 Pha-ra-ôn triệu tập Môi-se và A-rôn vào và bảo: “Lần nầy trẫm đã phạm tội. Đức Giê-hô-va là công chính, còn trẫm và dân của trẫm đều lầm lỗi.

28 Hãy khẩn cầu Đức Giê-hô-va cho sấm sét và mưa đá chấm dứt, rồi trẫm sẽ để cho các ngươi ra đi, không phải ở lại nữa đâu!”

29 Môi-se đáp: “Ngay khi ra khỏi thành, tôi sẽ giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va; sấm sét sẽ ngừng, mưa đá sẽ dứt để bệ hạ biết rằng đất nầy thuộc về Đức Giê-hô-va.

30 Nhưng tôi biết rằng bệ hạ và quần thần chưa kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời.”

31 (Bấy giờ đang là lúc lúa mạch trổ bông, cây gai sợi ra hoa, nên lúa mạch và gai sợi bị giập nát;

32 lúa mì và tiểu mạch trổ muộn, nên không bị hư hại.)

33 Môi-se rời Pha-ra-ôn, đi ra ngoài thành, giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va; sấm sét và mưa đá ngưng lại; mưa cũng không rơi trên mặt đất nữa.

34 Khi thấy mưa, mưa đá và sấm sét đã tạnh rồi, Pha-ra-ôn và quần thần lại phạm tội, lại cứng lòng như cũ.

35 Lòng Pha-ra-ôn lại chai cứng, không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua Môi-se.

10

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đến gặp Pha-ra-ôn, vì Ta đã làm cứng lòng vua ấy và quần thần để Ta bày tỏ các dấu lạ ra giữa họ,

2 và để con thuật lại cho con cháu mình những việc Ta đã làm cho dân Ai Cập, cũng như các dấu lạ Ta đã thực hiện giữa họ như thế nào, nhờ đó các con biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.”

3 Môi-se và A-rôn đi đến Pha-ra-ôn và tâu: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ phán: ‘Ngươi không chịu hạ mình trước mặt Ta cho đến bao giờ? Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.

4 Nếu ngươi không chịu để dân Ta ra đi, nầy, ngày mai Ta sẽ sai châu chấu tràn vào xứ sở ngươi.

5 Chúng sẽ phủ kín mặt đất đến nỗi người ta không còn thấy đất nữa. Chúng sẽ cắn phá những gì còn lại, tức là những gì mà trận mưa đá chưa tàn phá. Chúng cũng cắn phá cây cối của các ngươi ngoài đồng ruộng,

6 vào đầy cung điện ngươi, dinh thất của tất cả quần thần ngươi, và nhà cửa của mọi người Ai Cập. Đây là điều mà cha ông ngươi và cả tổ phụ ngươi cũng chưa từng thấy, từ ngày họ có mặt trên đất nầy cho đến ngày nay.’” Nói xong, Môi-se quay đi và rời khỏi Pha-ra-ôn.

7 Quần thần Pha-ra-ôn tâu: “Người nầy cứ là cái bẫy cho chúng ta cho đến bao giờ? Hãy cho dân ấy đi để chúng phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng! Bệ hạ chưa biết rằng Ai Cập đang bị nguy vong sao?”

8 Môi-se và A-rôn lại được gọi đến gặp Pha-ra-ôn. Nhà vua nói: “Hãy đi phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đi. Nhưng ai là người sẽ phải đi?”

9 Môi-se đáp: “Chúng tôi sẽ đi với cả nam phụ lão ấu và bầy chiên bầy bò, vì chúng tôi phải cử hành một kỳ lễ cho Đức Giê-hô-va.”

10 Pha-ra-ôn nói: “Thế thì Đức Giê-hô-va cứ ở với các ngươi đi để xem ta có cho các ngươi và con cái các ngươi cùng ra đi chăng! Rõ ràng là các ngươi có âm mưu độc ác!

11 Không được! Chỉ có đàn ông các ngươi đi và phụng sự Đức Giê-hô-va thôi, vì đó là điều các ngươi đã yêu cầu.” Rồi họ đuổi Môi-se và A-rôn khỏi Pha-ra-ôn.

12 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy giơ tay trên Ai Cập để khiến châu chấu tràn lên xứ đó, cắn phá cây cỏ và mọi vật trên đất mà mưa đá còn chừa lại.”

13 Vậy Môi-se giơ gậy ra trên Ai Cập. Đức Giê-hô-va dẫn luồng gió đông thổi trên xứ ấy suốt cả ngày lẫn đêm hôm đó; sáng hôm sau, gió đông đem châu chấu đến.

14 Châu chấu tràn lên khắp đất Ai Cập và đáp xuống toàn lãnh thổ. Châu chấu nhiều vô kể; trước kia chưa từng có và sau nầy cũng chẳng bao giờ có như vậy.

15 Chúng bao phủ khắp mặt đất làm cho cả xứ đen kịt, cắn phá tất cả cây cỏ ngoài đồng và các thứ trái cây mà mưa đá còn chừa lại. Khắp lãnh thổ Ai Cập chẳng còn chút cây cối hay là rau cỏ xanh ngoài đồng ruộng.

16 Pha-ra-ôn vội vàng gọi Môi-se và A-rôn đến và nói: “Ta đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và với các ngươi nữa.

17 Vậy bây giờ, xin tha tội cho ta, chỉ lần nầy thôi! Hãy cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; ít ra Ngài cũng lấy đi khỏi ta cái tai vạ chết người nầy.”

18 Môi-se lui ra khỏi Pha-ra-ôn và khẩn nguyện với Đức Giê-hô-va.

19 Đức Giê-hô-va dẫn một luồng gió tây rất mạnh đến cuốn châu chấu đi và đùa chúng xuống Biển Đỏ. Khắp lãnh thổ Ai Cập không còn một con châu chấu nào.

20 Nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng; vua ấy không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.

21 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy giơ tay lên trời để bóng tối bao trùm Ai Cập, thứ bóng tối như sờ được.”

22 Vậy Môi-se giơ tay lên trời, bóng tối dày đặc bao trùm cả Ai Cập trong ba ngày.

23 Trong ba ngày đó, người ta không nhìn thấy nhau, không ai rời khỏi chỗ mình được. Nhưng chỗ nào dân Y-sơ-ra-ên ở thì có ánh sáng.

24 Pha-ra-ôn gọi Môi-se đến và bảo: “Hãy đi phục vụ Đức Giê-hô-va. Con cái các ngươi cũng đi với các ngươi, chỉ để bầy chiên và bò ở lại thôi.”

25 Nhưng Môi-se thưa: “Bệ hạ phải để cho chúng tôi có các sinh tế và lễ vật để làm tế lễ thiêu dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.

26 Các bầy gia súc cũng phải theo chúng tôi, không để lại một móng chân nào. Chúng tôi sẽ dùng chúng để phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi; chỉ khi nào đến nơi đó chúng tôi mới biết phải dùng thứ gì để thờ phượng Đức Giê-hô-va.”

27 Nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, không chịu cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.

28 Pha-ra-ôn nói: “Hãy lui đi cho khuất mắt ta! Hãy giữ mình, đừng bao giờ nhìn mặt ta nữa, vì ngày nào ngươi thấy mặt ta thì ngươi sẽ chết!”

29 Môi-se nói: “Đúng như bệ hạ nói, tôi sẽ chẳng còn thấy mặt bệ hạ nữa đâu.”

11

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Ta sẽ giáng cho Pha-ra-ôn và Ai Cập một tai vạ nữa. Sau đó, vua ấy sẽ để cho các con ra đi. Không những vua ấy để cho các con ra đi mà còn đuổi sạch các con khỏi đây nữa.

2 Vậy hãy dặn bảo dân chúng rằng mỗi người, cả nam lẫn nữ, phải xin người láng giềng mình những món đồ bằng bạc và vàng.”

3 Đức Giê-hô-va làm cho dân chúng được ơn dưới mắt người Ai Cập. Đặc biệt, dưới mắt quần thần của Pha-ra-ôn cũng như dưới mắt dân Ai Cập, Môi-se là một nhân vật rất quan trọng.

4 Môi-se nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Khoảng nửa đêm Ta sẽ tuần hành khắp Ai Cập.

5 Tất cả các con trưởng nam trong xứ Ai Cập sẽ chết, từ thái tử của Pha-ra-ôn đang trị vì cho đến con cả của người hầu gái đang xay cối, và cả đến con đầu lòng của súc vật nữa.’

6 Khắp Ai Cập sẽ có tiếng kêu khóc inh ỏi như chưa từng có và cũng sẽ chẳng bao giờ có như vậy.

7 Trái lại, trong dân Y-sơ-ra-ên, ngay đến chó cũng sẽ chẳng sủa người hoặc súc vật, để các người biết rằng Đức Giê-hô-va phân biệt dân Y-sơ-ra-ên với dân Ai Cập như thế nào.

8 Bấy giờ, quần thần của bệ hạ sẽ xuống gặp tôi, cúi mình trước mặt tôi và nói: ‘Ông và cả dân chúng theo ông hãy đi đi!’ Sau đó tôi sẽ ra đi.” Nói xong, Môi-se rời Pha-ra-ôn trong cơn nóng giận.

9 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Pha-ra-ôn không chịu nghe con là để Ta gia tăng các dấu lạ trong xứ Ai Cập.”

10 Môi-se và A-rôn thực hiện các dấu lạ đó trước mặt Pha-ra-ôn; nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, nên vua ấy không chịu để cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.

12

1 Tại Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn rằng:

2 “Tháng nầy sẽ là tháng thứ nhất cho các con, tức là tháng giêng trong năm.

3 Hãy nói với toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng vào ngày mùng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng phải bắt một con chiên con, mỗi nhà một con.

4 Nếu nhà nào ít người quá, không ăn hết một con, thì tùy theo số người mà chung với người hàng xóm gần mình nhất; và tùy theo sức ăn của mỗi người mà tính số chiên con.

5 Hãy bắt trong bầy chiên hoặc trong bầy dê của các con, một chiên con đực hay là dê con đực một năm tuổi, không tì vết;

6 giữ đó cho đến ngày mười bốn tháng nầy; đó là ngày cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ giết con vật vào lúc chiều tối.

7 Họ sẽ lấy máu bôi lên hai thanh dọc và thanh ngang cửa ra vào của nhà nào ăn thịt chiên con đó.

8 Đêm ấy họ sẽ ăn thịt quay trên lửa với bánh không men và rau đắng.

9 Các con chớ ăn thịt chưa chín hay là thịt luộc mà phải quay trên lửa cả đầu, giò, và bộ lòng.

10 Đừng để vật gì thừa đến sáng mai; nếu còn lại thứ gì, hãy thiêu đi.

11 Các con phải ăn bữa ấy theo cách nầy: Lưng thắt lại, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả. Đó là lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va.

12 Đêm ấy, Ta sẽ đi khắp đất Ai Cập, hành hại tất cả các con đầu lòng của Ai Cập, cả người lẫn súc vật. Ta sẽ phán xét tất cả các thần của Ai Cập vì Ta là Đức Giê-hô-va.

13 Máu bôi trên nhà các con đang ở sẽ là dấu hiệu cho các con. Khi Ta hành hại Ai Cập, thấy máu đó thì Ta sẽ lướt qua và sẽ không có tai nạn nào giáng xuống tiêu diệt các con.

14 Ngày ấy sẽ là một kỷ niệm cho các con. Qua mọi thế hệ các con hãy giữ nó như một ngày lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một luật phải tuân giữ đời đời.

15 Trong bảy ngày các con phải ăn bánh không men. Ngay trong ngày thứ nhất, các con phải loại bỏ men khỏi nhà mình; vì nếu ai ăn bánh có men từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy thì sẽ bị loại trừ khỏi Y-sơ-ra-ên.

16 Ngày thứ nhất, các con sẽ có cuộc nhóm họp thánh; đến ngày thứ bảy các con cũng sẽ có cuộc nhóm họp thánh nữa. Trong những ngày ấy, các con không nên làm việc gì cả, chỉ lo chuẩn bị thức ăn cần thiết cho mỗi người mà thôi.

17 Vậy các con hãy giữ lễ Bánh Không Men vì trong chính ngày đó Ta đã đem đạo quân các con ra khỏi Ai Cập. Vì vậy, qua mọi thế hệ các con phải giữ ngày nầy như một luật đời đời.

18 Từ buổi chiều ngày mười bốn tháng giêng các con sẽ ăn bánh không men cho đến chiều ngày hai mươi mốt tháng đó.

19 Trong bảy ngày, không nên để men trong nhà; vì dù là người ngoại bang hay là người bản xứ, nếu ai ăn bánh có men sẽ bị loại trừ khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên.

20 Chớ nên ăn thức ăn gì có men. Dù ở đâu các con cũng phải ăn bánh không men.”

21 Vậy Môi-se mời tất cả trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến và nói: “Hãy đi bắt một chiên con tùy theo gia đình mình và giết nó làm lễ Vượt Qua.

22 Rồi lấy một bó bài hương nhúng vào máu trong chậu, bôi lên thanh ngang và hai thanh dọc cửa ra vào. Từ đó cho đến sáng, không ai trong anh em được ra khỏi cửa nhà mình.

23 Đức Giê-hô-va sẽ đi qua để hành hại người Ai Cập; khi thấy máu nơi khung cửa ra vào, Ngài sẽ đi lướt qua và không cho thiên sứ hủy diệt vào nhà anh em để hành hại.

24 Hãy giữ lễ nầy như một luật đời đời cho anh em và con cháu anh em.

25 Khi nào anh em vào đất mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho, như lời Ngài đã hứa, thì hãy giữ lễ nầy.

26 Khi con cháu anh em hỏi: ‘Lễ nầy nghĩa là gì?’

27 Hãy trả lời: ‘Ấy là lễ dâng sinh tế Vượt Qua của Đức Giê-hô-va. Vì khi hành hại người Ai Cập, Ngài đã vượt qua các nhà của dân Y-sơ-ra-ên và dung tha nhà chúng ta.’”

28 Nghe xong, dân Y-sơ-ra-ên cúi đầu thờ phượng, rồi họ đi và làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền Môi-se và A-rôn.

29 Vào nửa đêm, Đức Giê-hô-va hành hại tất cả các con đầu lòng tại Ai Cập, từ thái tử của Pha-ra-ôn đang trị vì cho đến con cả của các tù nhân đang bị giam trong ngục, và tất cả con đầu lòng của súc vật.

30 Đang đêm, Pha-ra-ôn và quần thần cùng tất cả người Ai Cập đều thức dậy. Có tiếng kêu khóc inh ỏi trong Ai Cập vì chẳng một nhà nào là không có người chết.

31 Trong đêm đó, Pha-ra-ôn gọi Môi-se và A-rôn đến và nói: “Hai ngươi và dân Y-sơ-ra-ên hãy trỗi dậy, ra khỏi dân ta và đi phục vụ Đức Giê-hô-va như các ngươi đã nói.

32 Cũng hãy dẫn bầy chiên và đàn gia súc đi như lời các ngươi đã nói, và cầu phước cho ta nữa.”

33 Người Ai Cập thúc giục dân Y-sơ-ra-ên mau ra khỏi bờ cõi vì họ nói: “Chúng ta sẽ chết cả thôi!”

34 Vậy dân chúng đem bột nhồi chưa lên men đi và gói luôn cả những thùng nhồi bột vào trong áo tơi rồi vác lên vai.

35 Dân Y-sơ-ra-ên cũng đã làm theo lời Môi-se dặn, họ xin người Ai Cập các thứ châu báu bằng bạc, bằng vàng và quần áo.

36 Đức Giê-hô-va làm cho dân chúng được ơn dưới mắt người Ai Cập, nên họ sẵn lòng cho những gì dân Y-sơ-ra-ên xin. Như thế, dân Y-sơ-ra-ên đã tước đoạt của cải người Ai Cập.

37 Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt; có khoảng sáu trăm nghìn đàn ông đi bộ, không tính trẻ con.

38 Cũng có một số đông người ngoại bang cùng đi, mang theo rất nhiều đàn chiên và gia súc.

39 Họ nướng bánh không men bằng bột đã đem theo từ Ai Cập. Bột không có men vì họ bị đuổi khỏi Ai Cập một cách gấp rút nên không kịp chuẩn bị lương thực.

40 Thời gian dân Y-sơ-ra-ên cư ngụ tại Ai Cập là bốn trăm ba mươi năm.

41 Đúng vào ngày cuối cùng của bốn trăm ba mươi năm, tất cả các đạo quân của Đức Giê-hô-va ra khỏi Ai Cập.

42 Ấy là đêm Đức Giê-hô-va canh giữ, vì trong đêm đó Ngài đã đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập. Vì thế, qua mọi thế hệ, dân Y-sơ-ra-ên phải giữ đêm đó để tôn kính Đức Giê-hô-va.

43 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Đây là luật về lễ Vượt Qua: Người ngoại bang không được ăn lễ đó.

44 Còn với nô lệ đã được mua bằng tiền thì chỉ sau khi chịu cắt bì, họ mới được ăn.

45 Khách vãng lai và người làm thuê cũng không được ăn.

46 Lễ đó chỉ được ăn trong nhà; đừng đem thịt ra ngoài và cũng đừng làm gãy một cái xương nào.

47 Toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua.

48 Khi có ngoại kiều tạm trú trong nhà các con muốn giữ lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải chịu cắt bì rồi mới được đến gần và giữ lễ nầy; người ấy được coi như người bản xứ. Nhưng ai không chịu cắt bì thì sẽ không được ăn.

49 Đó là một luật chung cho người bản xứ cũng như cho ngoại kiều cư ngụ giữa các con.”

50 Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều làm như lời Đức Giê-hô-va đã truyền bảo Môi-se và A-rôn.

51 Chính trong ngày đó, Đức Giê-hô-va đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập theo đội ngũ.

13

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

2 “Hãy cung hiến cho Ta tất cả các con đầu lòng được sinh ra trong dân Y-sơ-ra-ên, cả người lẫn súc vật, vì mọi con đầu lòng đều thuộc về Ta.”

3 Môi-se nói với dân chúng rằng: “Hãy kỷ niệm ngày nầy vì đây là ngày Đức Giê-hô-va dùng cánh tay quyền năng đem anh em ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi nhà nô lệ; chớ ăn bánh có men.

4 Hôm nay, anh em ra đi nhằm vào tháng A-bíp

5 Vậy, khi nào Đức Giê-hô-va đưa anh em vào đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, là miền đất đượm sữa và mật mà Ngài đã thề với tổ phụ là sẽ ban cho anh em, thì cứ đến tháng nầy anh em nhớ cử hành nghi lễ đó.

6 Trong bảy ngày, anh em sẽ ăn bánh không men; đến ngày thứ bảy, phải tổ chức ngày lễ cho Đức Giê-hô-va.

7 Phải ăn bánh không men trong bảy ngày; bánh có men, hoặc men sẽ không được xuất hiện ở bất cứ nơi nào trên khắp lãnh thổ.

8 Trong ngày đó, hãy giải thích cho con trai anh em rằng: ‘Cha làm vậy vì những gì Đức Giê-hô-va làm cho cha khi ra khỏi Ai Cập.’

9 Và đối với anh em, đó sẽ như một dấu ấn trên tay, một kỷ niệm giữa hai mắt để cho luật pháp của Đức Giê-hô-va ở trên miệng anh em; vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem anh em ra khỏi Ai Cập.

10 Vậy nên hằng năm, anh em phải giữ lễ nầy đúng kỳ ấn định.”

11 “Khi Đức Giê-hô-va đã đưa anh em vào đất Ca-na-an, như Ngài đã thề với anh em và tổ phụ anh em, và khi Ngài đã ban xứ đó cho anh em rồi,

12 thì hãy đem dâng cho Đức Giê-hô-va con trưởng nam cùng những con đực đầu lòng của bầy súc vật anh em, vì chúng nó thuộc về Đức Giê-hô-va.

13 Nhưng với con lừa đầu lòng, anh em phải dùng chiên con hay là dê con mà chuộc; nếu không, anh em hãy bẻ cổ nó. Anh em cũng phải chuộc mọi trưởng nam trong số các con trai mình.

14 Một ngày kia con trai anh em có hỏi: ‘Điều nầy có ý nghĩa gì?’ anh em hãy nói: ‘Vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem chúng ta ra khỏi Ai Cập, thoát khỏi nhà nô lệ.

15 Khi Pha-ra-ôn cứng lòng không chịu để chúng ta ra đi, Ngài đã giết hết các con đầu lòng trong xứ Ai Cập, từ con trưởng nam của người ta cho đến con đầu lòng của súc vật. Vì thế mà cha dâng lên Đức Giê-hô-va mọi con đực đầu lòng để làm sinh tế, và chuộc lại con trưởng nam trong số các con trai của cha.’

16 Đó sẽ là một dấu hiệu nơi tay và biểu tượng trên trán giữa hai mắt của anh em, để nhắc rằng Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem chúng ta ra khỏi Ai Cập.”

17 Khi Pha-ra-ôn để dân Y-sơ-ra-ên ra đi, Đức Chúa Trời không dẫn họ đi bằng con đường xuyên qua đất Phi-li-tin, dù đường ấy gần hơn, vì Ngài nói: “E khi dân chúng thấy chiến trận, họ sẽ đổi ý và quay lại Ai Cập chăng.”

18 Cho nên Đức Chúa Trời dẫn dân chúng đi vòng theo đường trong hoang mạc, về hướng Biển Đỏ. Khi ra khỏi Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên được trang bị khí giới để chiến đấu.

19 Môi-se đem theo hài cốt của Giô-sép, vì trước đây Giô-sép đã bắt dân Y-sơ-ra-ên thề khi ông nói: “Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ thăm viếng các con; hãy đem hài cốt ta theo các con ra khỏi đây.”

20 Sau khi rời Su-cốt, họ đóng trại tại Ê-tam, ven hoang mạc.

21 Đức Giê-hô-va đi trước dân chúng; ban ngày thì ở trong một trụ mây để dẫn đường, ban đêm trong một trụ lửa để soi sáng; nhờ vậy họ đi được cả ngày lẫn đêm.

22 Trụ mây ban ngày, trụ lửa ban đêm chẳng bao giờ cách xa dân chúng.

14

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

2 “Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên quay lại đóng trại trước Phi Ha-hi-rốt, giữa Mít-đôn và biển, đối diện Ba-anh Sê-phôn. Các con hãy đóng trại ngang đó, trên bờ biển.

3 Vì Pha-ra-ôn sẽ nói về dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Dân đó đang luẩn quẩn trong xứ; hoang mạc đã vây kín chúng rồi.’

4 Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và sẽ đuổi theo dân đó. Nhưng Ta sẽ được tôn vinh vì Pha-ra-ôn và cả quân đội của vua ấy; người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.” Dân Y-sơ-ra-ên đã làm đúng như vậy.

5 Khi vua Ai Cập được báo tin rằng dân Hê-bơ-rơ đã trốn đi rồi, lòng Pha-ra-ôn và quần thần đối với dân đó liền thay đổi, họ nói: “Chúng ta đã làm gì vậy, tha cho dân Y-sơ-ra-ên đi để chúng không còn phục dịch chúng ta nữa sao?”

6 Pha-ra-ôn chuẩn bị chiến xa và dẫn quân đi.

7 Vua đem sáu trăm chiến xa tốt nhất và tất cả các chiến xa khác trong Ai Cập; trên mỗi xe đều có các sĩ quan chỉ huy.

8 Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, cứng lòng và đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên, trong khi dân nầy cứ hiên ngang ra đi.

9 Người Ai Cập với ngựa, chiến xa, kỵ binh, cùng quân đội của Pha-ra-ôn đuổi theo và bắt kịp dân Y-sơ-ra-ên khi họ đang đóng trại trên bờ biển, gần Phi Ha-hi-rốt, đối diện với Ba-anh Sê-phôn.

10 Khi Pha-ra-ôn đến gần, dân Y-sơ-ra-ên nhìn lên thấy quân Ai Cập đang đuổi theo. Họ vô cùng kinh hãi, kêu van Đức Giê-hô-va.

11 Họ nói với Môi-se: “Ở Ai Cập không đủ mồ chôn hay sao mà ông đem chúng tôi vào chết trong hoang mạc nầy? Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì chứ?

12 Chẳng phải chúng tôi đã nói với ông tại Ai Cập rằng: ‘Mặc kệ chúng tôi, cứ để chúng tôi phục dịch dân Ai Cập’ đó sao? Vì thà phục dịch họ còn hơn phải chết trong hoang mạc!”

13 Môi-se nói với dân chúng: “Đừng sợ, cứ đứng vững mà xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho anh em hôm nay. Những người Ai Cập mà anh em nhìn thấy hôm nay sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy nữa.

14 Đức Giê-hô-va sẽ chiến đấu cho anh em, còn anh em cứ yên lặng.”

15 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Sao con kêu van Ta? Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ tiến bước.

16 Còn con, hãy cầm gậy lên, đưa tay trên mặt biển và rẽ nước ra để dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô mà qua biển.

17 Ta sẽ làm cho dân Ai Cập cứng lòng để chúng theo dân Y-sơ-ra-ên xuống biển; Ta sẽ được tôn vinh vì Pha-ra-ôn, vì cả quân đội, chiến xa, và kỵ binh của ông ta.

18 Khi Ta được tôn vinh vì Pha-ra-ôn, chiến xa, và kỵ binh của ông ta, thì người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”

19 Thiên sứ Đức Chúa Trời vốn đi trước trại quân của dân Y-sơ-ra-ên, đã di chuyển và đi phía sau; còn trụ mây cũng chuyển từ phía trước mặt họ ra phía sau,

20 đứng giữa trại quân Ai Cập và trại quân Y-sơ-ra-ên. Áng mây làm cho bên nầy bị tối tăm nhưng bên kia được soi sáng nên suốt đêm hai bên không tiến gần nhau được.

21 Môi-se giơ tay trên biển; suốt đêm đó, Đức Giê-hô-va khiến một trận gió đông thổi mạnh để dồn biển lại. Ngài làm cho nước rẽ ra, biển thành đất khô.

22 Dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô mà qua biển; còn nước làm thành một bức tường ngăn bên phải và bên trái của họ.

23 Người Ai Cập đuổi theo. Tất cả ngựa, chiến xa và kỵ binh của Pha-ra-ôn đều theo họ xuống biển.

24 Vào sáng sớm, Đức Giê-hô-va từ trong trụ mây và lửa nhìn xuống quân đội Ai Cập và làm cho họ bị rối loạn.

25 Ngài tháo bánh xe của họ, khiến họ điều khiển xe một cách nặng nhọc. Người Ai Cập nói với nhau: “Chúng ta hãy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên, vì Đức Giê-hô-va thay dân đó mà chiến đấu với người Ai Cập.”

26 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy giơ tay trên biển để nước trở lại phủ lấp người Ai Cập, các chiến xa và kỵ binh của chúng.”

27 Rạng sáng, Môi-se giơ tay trên biển thì biển trở lại mực nước cũ. Người Ai Cập chạy trốn nhưng Đức Giê-hô-va ném họ xuống biển.

28 Nước trở lại phủ lấp chiến xa, kỵ binh, cả đoàn quân của Pha-ra-ôn và những kẻ đã theo dân Y-sơ-ra-ên xuống biển chẳng một ai sống sót.

29 Còn dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô mà vượt qua biển, nước làm thành bức tường ngăn bên phải và bên trái của họ.

30 Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ai Cập; họ thấy người Ai Cập phơi xác trên bãi biển.

31 Dân Y-sơ-ra-ên chứng kiến công việc kinh khiếp mà Đức Giê-hô-va đã làm cho người Ai Cập nên họ kính sợ Ngài, tin Ngài và tin Môi-se, đầy tớ Ngài.

15

1 Bấy giờ, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát lên bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va: “Tôi ca tụng Đức Giê-hô-va, Vì Ngài rất cao cả uy nghiêm. Ngài đã ném xuống biển Ngựa và người cưỡi ngựa.

2 Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là bài ca của tôi: Ngài là Đấng cứu rỗi tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi tôn ngợi Ngài; Là Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài.

3 Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va.

4 Ngài đã ném xuống biển chiến xa và cả quân lực Pha-ra-ôn; Quan tướng ưu tú của người bị nhận chìm trong Biển Đỏ,

5 Vực thẳm đã vùi lấp họ; Họ chìm xuống đáy biển sâu như một hòn đá.

6 Lạy Đức Giê-hô-va! Tay phải Ngài rạng ngời quyền uy. Lạy Đức Giê-hô-va! Tay phải Ngài nghiền nát quân thù.

7 Bằng sự uy nghiêm cao cả, Ngài đánh đổ kẻ thù nghịch. Ngài nổi giận phừng phừng, Thiêu đốt họ như rơm rạ.

8 Hơi thở từ lỗ mũi Ngài khiến nước dồn lại, Các dòng nước dựng đứng như một bức tường; Nước sâu đóng băng trong lòng biển.

9 Địch quân nói rằng: ‘Ta đuổi theo; ta sẽ bắt kịp; Ta sẽ chia nhau chiến lợi phẩm. Thèm muốn của ta sẽ được thỏa mãn. Ta rút gươm ra; tay ta sẽ tiêu diệt họ.’

10 Ngài đã thở hơi ra, biển vùi lấp chúng lại; Chúng chìm xuống như cục chì trong dòng nước cuồn cuộn.

11 Lạy Đức Giê-hô-va! Trong số các thần, có ai giống như Ngài? Ai so được với Ngài, rạng ngời trong thánh khiết, Đáng kính sợ và tôn vinh, Làm những việc nhiệm mầu?

12 Ngài đã đưa tay phải ra, Đất đã nuốt lấy chúng.

13 Ngài lấy tình yêu thương dìu dắt dân mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng quyền năng đưa họ về nơi ngự thánh của Ngài.

14 Các dân tộc nghe đến đều run sợ, Nỗi hãi hùng xâm chiếm dân Phi-li-tin.

15 Các thủ lĩnh Ê-đôm bối rối; Những dũng sĩ Mô-áp run rẩy; Cả dân Ca-na-an đều hoảng kinh.

16 Nỗi khiếp sợ và kinh hoàng giáng xuống chúng; Lạy Đức Giê-hô-va! Vì quyền năng của cánh tay Ngài, Chúng bị câm như đá, cho đến khi dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài cứu chuộc vượt qua rồi.

17 Đức Giê-hô-va ôi! Ngài đem dân ấy vào, và cho họ cư ngụ trên núi cơ nghiệp Ngài, Tức là chỗ Ngài đã sắm sẵn để làm nơi ngự Ngài, Lạy Chúa! Đó là Đền Thánh mà tay Ngài đã lập.

18 Đức Giê-hô-va sẽ trị vì đời đời, mãi mãi.”

19 Khi ngựa, chiến xa, và kỵ binh của Pha-ra-ôn đã xuống biển thì Đức Giê-hô-va đem nước biển phủ lấp họ. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô giữa lòng biển cả.

20 Bấy giờ, nữ tiên tri Mi-ri-am, chị của A-rôn, tay cầm trống cơm, và tất cả phụ nữ đi theo bà đều cầm trống cơm nhảy múa.

21 Mi-ri-am cất tiếng ca rằng: “Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va Vì Ngài rất cao cả uy nghiêm. Ngài đã ném xuống biển Ngựa và người cưỡi ngựa.”

22 Sau đó, Môi-se đem dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Biển Đỏ, đi vào hoang mạc Su-rơ. Họ đi trọn ba ngày trong hoang mạc nhưng không tìm thấy nước.

23 Khi đến đất Ma-ra, vì nước ở Ma-ra đắng nên họ không thể uống được; do đó nơi nầy có tên là Ma-ra.

24 Dân chúng phàn nàn với Môi-se rằng: “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống đây?”

25 Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va. Ngài chỉ cho ông một khúc gỗ, ông ném xuống nước thì nước trở nên ngọt. Tại đây Đức Giê-hô-va lập luật lệ và quy tắc cho dân chúng, và cũng tại đây Ngài thử lòng họ.

26 Ngài phán: “Nếu các con chăm chú nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, làm điều ngay thẳng trước mặt Ta, lắng tai nghe các điều răn và gìn giữ mọi luật lệ Ta thì Ta sẽ không giáng trên các con một bệnh nào trong các bệnh mà Ta đã giáng trên dân Ai Cập. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho các con.”

27 Kế đó, dân chúng đến Ê-lim nơi có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là. Dân chúng đóng trại bên cạnh các suối nước.

16

1 Vào ngày mười lăm tháng thứ hai sau khi ra khỏi Ai Cập, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rời Ê-lim để đi vào hoang mạc Sin, nằm giữa Ê-lim và Si-na-i.

2 Trong hoang mạc, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn.

3 Dân Y-sơ-ra-ên nói với hai ông: “Ước gì chúng tôi chết bởi tay Đức Giê-hô-va trong đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê! Nhưng hai ông lại dẫn chúng tôi vào trong hoang mạc nầy để cả đoàn dân phải chết đói.”

4 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nầy, để thử xem họ có đi theo luật lệ của Ta không. Ta sẽ ban mưa bánh từ trời cho các con và mỗi ngày dân chúng sẽ đi ra lượm phần bánh trong ngày.

5 Vào ngày thứ sáu, phần họ chuẩn bị đem về sẽ gấp đôi phần họ lượm hằng ngày.”

6 Môi-se và A-rôn nói với tất cả dân Y-sơ-ra-ên: “Chiều nay, anh em sẽ nhận biết rằng chính Đức Giê-hô-va đã đem anh em ra khỏi Ai Cập;

7 và sáng mai, anh em sẽ thấy vinh quang của Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi có là ai đâu mà anh em oán trách chúng tôi?”

8 Môi-se nói: “Buổi chiều Đức Giê-hô-va sẽ ban phát thịt cho anh em ăn, và buổi sáng bánh sẽ dư dật vì Ngài đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi có là ai? Không phải anh em oán trách chúng tôi đâu, mà là oán trách Đức Giê-hô-va đó.”

9 Môi-se bảo A-rôn: “Hãy nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Anh em hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời oán trách của anh em rồi.’”

10 Trong lúc A-rôn đang nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, họ nhìn về phía hoang mạc và chợt thấy hào quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trong đám mây.

11 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

12 “Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, con hãy nói lại với họ rằng: ‘Buổi chiều các con sẽ ăn thịt, buổi sáng sẽ ăn bánh no nê, rồi các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”

13 Chiều hôm ấy, chim cút bay đến và bao phủ trại quân; còn buổi sáng thì có một lớp sương đọng quanh trại quân.

14 Khi lớp sương đó tan đi, trên mặt hoang mạc hiện ra thứ gì nho nhỏ, tròn mịn như hạt sương đọng trên mặt đất.

15 Thấy vậy, dân Y-sơ-ra-ên hỏi nhau: “Cái gì vậy?” Vì họ chẳng biết vật đó là gì. Môi-se nói với dân chúng: “Đó là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em để làm thức ăn.”

16 “Đây là điều Đức Giê-hô-va đã phán truyền: ‘Mỗi người hãy ra lượm theo sức ăn của mình, mỗi nhân khẩu một ô-me tùy theo số người trong mỗi trại của mình.’”

17 Dân Y-sơ-ra-ên làm như vậy, kẻ lượm nhiều, người lượm ít.

18 Nhưng khi đong thì theo từng hai lít, ai lượm nhiều chẳng được hơn, ai lượm ít cũng chẳng thiếu. Mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn.

19 Môi-se nói với dân chúng: “Đừng ai để dành đến sáng mai.”

20 Nhưng dân chúng chẳng nghe lời Môi-se; một vài người đã để lại đến sáng mai thì bánh sinh ra sâu và có mùi hôi thối. Môi-se nổi giận với họ.

21 Như thế, mỗi buổi sáng họ ra lượm bánh, mỗi người lượm theo sức mình ăn. Khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra.

22 Vào ngày thứ sáu, dân chúng lượm gấp đôi số bánh, mỗi người bốn lít. Các người lãnh đạo hội chúng đến trình cho Môi-se rõ.

23 Ông nói: “Đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán: ‘Ngày mai là ngày nghỉ, là ngày sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va, hãy nướng món gì anh em muốn nướng, hãy nấu món gì anh em muốn nấu, và những gì còn thừa, hãy để dành đến sáng mai.’”

24 Vậy họ để dành đến sáng mai, như lời Môi-se đã truyền dạy, vật đó chẳng có mùi hôi thối và cũng không sinh sâu bọ.

25 Môi-se nói: “Hôm nay, hãy ăn thức ăn đó vì là ngày sa-bát cho Đức Giê-hô-va. Hôm nay, anh em sẽ chẳng tìm thấy thức ăn ấy ngoài đồng đâu.

26 Anh em lượm trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày sa-bát, sẽ chẳng có gì cả.”

27 Tuy vậy, vào ngày thứ bảy cũng có một vài người trong dân chúng đi ra lượm và họ chẳng tìm được gì hết.

28 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Các con không chịu vâng giữ điều răn và luật pháp Ta cho đến bao giờ?

29 Hãy nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các con ngày sa-bát, vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà.”

30 Như vậy, vào ngày thứ bảy dân chúng được nghỉ ngơi.

31 Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên thức ăn nầy là ma-na. Nó giống như hột ngò, màu trắng, vị như bánh ngọt pha mật ong.

32 Môi-se nói: “Đây là điều Đức Giê-hô-va đã phán truyền: ‘Hãy đong đầy hai lít ma-na, và lưu giữ qua các thế hệ để họ thấy thứ bánh Ta đã cho các con ăn nơi hoang mạc khi Ta đem các con ra khỏi đất Ai Cập.’”

33 Môi-se nói với A-rôn: “Hãy lấy một cái bình và đựng đầy hai lít ma-na, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va để lưu truyền qua các thế hệ.”

34 A-rôn đặt bình đó trước Bảng Chứng Ước để được lưu giữ như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

35 Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na suốt bốn mươi năm, cho đến khi vào vùng đất định cư. Họ đã ăn ma-na cho đến khi vào bờ cõi đất Ca-na-an.

36 Một ô-me là một phần mười của ê-pha.

17

1 Từ hoang mạc Sin, theo lệnh của Đức Giê-hô-va, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên di chuyển từng chặng, đến đóng trại tại Rê-phi-đim. Ở đây không có nước cho dân chúng uống.

2 Dân chúng gây chuyện với Môi-se rồi nói: “Hãy cho chúng tôi nước uống.” Môi-se đáp rằng: “Tại sao anh em gây chuyện với tôi? Tại sao anh em dám thử Đức Giê-hô-va?”

3 Nhưng ở đó dân chúng khát nước và họ oán trách Môi-se: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi để cho chúng tôi, con cái và đàn súc vật của chúng tôi phải chịu chết khát thế nầy?”

4 Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va: “Con phải làm gì với dân nầy? Thiếu điều họ ném đá con!”

5 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đi trước dân chúng, dẫn theo một số trưởng lão Y-sơ-ra-ên và cầm trong tay cây gậy mà con đã đập dưới sông, rồi đi.

6 Nầy, Ta sẽ đứng trước mặt con, trên tảng đá tại Hô-rếp kia. Con hãy đập tảng đá thì nước từ đó sẽ chảy ra cho dân chúng uống.” Môi-se làm như vậy trước mặt các trưởng lão Y-sơ-ra-ên.

7 Môi-se đặt tên nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện với ông và dám thử Đức Giê-hô-va khi nói: “Đức Giê-hô-va có ở giữa chúng ta không?”

8 Bấy giờ quân A-ma-léc đến khiêu chiến với Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim.

9 Môi-se nói với Giô-suê: “Hãy chọn cho chúng ta những tráng sĩ đi chiến đấu với quân A-ma-léc. Ngày mai tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi với cây gậy của Đức Chúa Trời trong tay.”

10 Giô-suê đã chiến đấu với quân A-ma-léc theo lệnh Môi-se truyền; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ đi lên đỉnh đồi.

11 Mỗi khi Môi-se giơ tay lên thì quân Y-sơ-ra-ên thắng thế; nhưng khi ông hạ tay xuống thì quân A-ma-léc lại thắng thế.

12 Khi đôi tay Môi-se đã mỏi, họ lấy một hòn đá kê cho ông ngồi lên; rồi A-rôn và Hu-rơ đứng hai bên, mỗi người một phía, đỡ tay ông lên; nhờ vậy tay ông chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn.

13 Giô-suê dùng gươm đánh bại vua và dân A-ma-léc.

14 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy chép điều nầy vào một cuốn sách để lưu niệm và nói cho Giô-suê biết rằng Ta sẽ xóa sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ.”

15 Môi-se lập một bàn thờ và đặt tên là “Giê-hô-va là ngọn cờ của tôi”.

16 Ông nói: “Vì một bàn tay của A-ma-léc đã giơ lên chống lại ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va sẽ chinh chiến với chúng từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.”

18

1 Giê-trô, thầy tế lễ Ma-đi-an và là ông gia của Môi-se, nghe được tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài cũng như Ngài đã dẫn Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập như thế nào.

2 Lúc trước, khi Môi-se gửi vợ là Sê-phô-ra về nhà Giê-trô là ông gia của Môi-se; Giê-trô đã nhận Sê-phô-ra

3 cùng hai con trai, một đứa tên là Ghẹt-sôm, vì Môi-se nói rằng: “Tôi kiều ngụ trên đất khách”;

4 và một đứa tên là Ê-li-ê-se, vì ông nói: “Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi là sự cứu giúp của tôi, đã giải cứu tôi khỏi gươm Pha-ra-ôn.”

5 Bây giờ Giê-trô, ông gia của Môi-se, đem hai con trai và vợ Môi-se đến thăm ông trong hoang mạc, nơi ông đóng trại gần bên núi Đức Chúa Trời.

6 Giê-trô sai người báo với Môi-se: “Ta là Giê-trô, ông gia của con, ta cùng vợ của con và hai con trai con đến thăm con.”

7 Môi-se ra đón rước ông gia mình, cúi chào và hôn người. Họ hỏi thăm nhau, rồi vào trại.

8 Môi-se thuật lại cho ông gia mình tất cả những gì mà Đức Giê-hô-va đã vì Y-sơ-ra-ên làm cho Pha-ra-ôn và người Ai Cập, mọi gian khổ mà dân Y-sơ-ra-ên gặp phải trên đường đi, và Đức Giê-hô-va đã giải cứu họ như thế nào.

9 Giê-trô vui mừng về các ơn lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Y-sơ-ra-ên khi giải cứu họ khỏi tay người Ai Cập.

10 Giê-trô nói: “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va, là Đấng đã giải cứu anh em khỏi tay người Ai Cập và tay Pha-ra-ôn, và cũng giải cứu dân chúng khỏi quyền lực của người Ai Cập.

11 Bây giờ ta biết rằng Đức Giê-hô-va vĩ đại hơn tất cả các thần, vì khi người Ai Cập đối xử ngạo mạn với dân Ngài thì Ngài đánh bại chúng nó.”

12 Giê-trô, ông gia của Môi-se, dâng tế lễ thiêu và các sinh tế lên Đức Chúa Trời. A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến dùng bữa với ông gia của Môi-se, trước mặt Đức Chúa Trời.

13 Qua ngày sau, Môi-se ngồi xét xử dân chúng. Họ đứng quanh ông từ sáng sớm đến chiều tối.

14 Quan sát những gì Môi-se đang làm cho dân chúng, ông gia Môi-se hỏi: “Con đang làm gì cho dân chúng vậy? Tại sao chỉ một mình con ngồi, còn tất cả dân chúng đứng quanh con từ sáng sớm cho đến chiều tối?”

15 Môi-se thưa: “Dân chúng đến với con để tìm cầu ý muốn Đức Chúa Trời.

16 Mỗi khi có vấn đề gì thì họ đến với con và con xét xử giữa người nầy với kẻ kia, và cho họ biết những mệnh lệnh và luật pháp của Đức Chúa Trời.”

17 Ông gia Môi-se nói: “Con làm như thế không tiện đâu.

18 Cả con và những người dân đến với con chắc chắn sẽ bị đuối sức vì việc đó quá nặng nề đối với con, một mình con không sao làm nổi.

19 Bây giờ, cha có lời khuyên con, hãy nghe lời cha. Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với con! Con phải là người đại diện cho dân chúng trước mặt Đức Chúa Trời, và trình dâng mọi vấn đề của họ lên Đức Chúa Trời.

20 Hãy dạy họ các mệnh lệnh và luật pháp, chỉ cho họ biết con đường họ phải đi, và công việc họ phải làm.

21 Hơn nữa, hãy chọn trong dân chúng những người tài năng, kính sợ Đức Chúa Trời, chân thật, ghét lợi bất chính, và lập họ đứng đầu để cai quản hàng nghìn người, hàng trăm người, hàng năm mươi người, hoặc mười người.

22 Hãy để họ túc trực xét xử dân chúng và sẽ trình cho con những vấn đề lớn; còn những việc nhỏ, chính họ sẽ tự xét xử. Như vậy sẽ dễ dàng hơn cho con, và họ sẽ san sẻ gánh nặng với con.

23 Nếu con làm việc nầy, và nếu Đức Chúa Trời cũng truyền cho con như vậy, thì chắc con sẽ chịu đựng nổi, và cả dân tộc nầy sẽ đến nơi đến chốn bình an.”

24 Môi-se nghe theo lời ông gia mình và làm theo mọi điều ông khuyên bảo.

25 Từ trong Y-sơ-ra-ên, Môi-se chọn ra những người tài năng, lập họ đứng đầu để cai quản hàng nghìn người, hàng trăm người, hàng năm mươi người, hoặc mười người.

26 Họ túc trực để xét xử dân chúng và trình cho Môi-se những việc lớn, còn chính họ xét xử các việc nhỏ.

27 Sau đó, Môi-se tiễn ông gia mình lên đường trở về quê hương.

19

1 Vào tháng thứ ba kể từ khi ra khỏi Ai Cập, chính ngày đó dân Y-sơ-ra-ên đến hoang mạc Si-na-i.

2 Khởi hành từ Rê-phi-đim, họ đến hoang mạc Si-na-i, và đóng trại trong hoang mạc. Tại đó, dân Y-sơ-ra-ên đóng trại đối diện với núi.

3 Môi-se lên gặp Đức Chúa Trời. Từ trên núi, Đức Giê-hô-va gọi ông và phán: “Con hãy nói với nhà Gia-cốp, và bảo với con dân Y-sơ-ra-ên thế nầy:

4 ‘Các con đã thấy điều Ta làm cho người Ai Cập, Ta đã chở các con trên cánh đại bàng, và dẫn các con đến với Ta như thế nào.

5 Vậy bây giờ, nếu các con thật lòng vâng lời Ta và giữ giao ước Ta thì trong tất cả các dân tộc, các con sẽ là tài sản riêng của Ta; dù cả thế gian đều thuộc về Ta.

6 Các con sẽ trở thành một vương quốc thầy tế lễ và một dân tộc thánh cho Ta.’ Đó là những lời con phải nói lại với con dân Y-sơ-ra-ên.”

7 Vậy Môi-se đến và gọi các trưởng lão trong dân chúng lại, thuật cho họ mọi lời Đức Giê-hô-va đã truyền dặn mình.

8 Toàn dân đồng thanh trả lời: “Chúng tôi sẽ làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền phán.” Môi-se trình lại lời của dân chúng lên Đức Giê-hô-va.

9 Ngài phán: “Nầy, Ta sẽ đến với con trong một đám mây dày đặc để khi Ta truyền bảo con thì dân chúng có thể nghe và tin tưởng con suốt đời.” Khi Môi-se đem lời của dân chúng thưa lại với Đức Giê-hô-va,

10 thì Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đến với dân chúng, biệt riêng họ ra thánh hôm nay và ngày mai. Bảo họ phải giặt y phục mình;

11 đến ngày thứ ba, họ phải sẵn sàng vì vào ngày đó Đức Giê-hô-va sẽ giáng lâm trước mắt toàn thể dân chúng tại núi Si-na-i.

12 Con cũng phải phân định giới hạn cho dân chúng ở chung quanh núi, và dặn họ: ‘Hãy cẩn thận đừng leo lên núi hoặc chạm đến chân núi. Ai chạm đến núi sẽ bị xử tử.

13 Kẻ đó phải bị ném đá hoặc bị bắn bằng tên; đừng chạm tay vào kẻ đó. Dù là người hay súc vật cũng không được để cho sống.’ Khi nào kèn thổi lên, dân chúng mới được lên núi.”

14 Từ trên núi xuống, Môi-se đến với dân chúng và biệt riêng dân chúng ra thánh. Họ phải giặt y phục mình.

15 Ông dặn dân chúng: “Hãy sẵn sàng cho đến ngày thứ ba. Không được đến gần đàn bà.”

16 Vào sáng ngày thứ ba, có sấm chớp và một đám mây dày đặc ở trên núi cùng tiếng kèn vang dội. Tất cả dân chúng ở trong trại đều run sợ.

17 Môi-se dẫn dân chúng ra khỏi trại để nghênh đón Đức Chúa Trời; dân chúng dừng lại dưới chân núi.

18 Cả núi Si-na-i nghi ngút khói, vì Đức Giê-hô-va ngự trong lửa mà giáng lâm tại đó. Khói bốc lên như khói của một lò lửa hực, và cả hòn núi đều rúng động mãnh liệt.

19 Tiếng kèn càng lúc càng vang dội. Môi-se nói và Đức Chúa Trời đáp lại trong tiếng sấm rền.

20 Đức Giê-hô-va giáng lâm trên đỉnh núi Si-na-i. Đức Giê-hô-va gọi Môi-se lên đỉnh núi và Môi-se đi lên.

21 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy xuống và cảnh cáo dân chúng đừng cố vượt giới hạn để nhìn Đức Giê-hô-va; nếu không nhiều người trong họ phải chết.

22 Ngay cả những thầy tế lễ khi đến gần Đức Giê-hô-va cũng phải thanh tẩy chính mình; nếu không họ cũng bị Đức Giê-hô-va đánh phạt.”

23 Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Dân chúng không thể lên núi Si-na-i được, vì Ngài đã cảnh cáo chúng con rằng: ‘Hãy phân định giới hạn chung quanh núi, và biệt riêng núi ấy ra thánh.’”

24 Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy đi xuống và đưa A-rôn cùng lên với con. Nhưng những thầy tế lễ và dân chúng thì chớ vượt giới hạn để đến gần Đức Giê-hô-va, nếu không Ngài sẽ đánh phạt họ.”

25 Vậy Môi-se trở xuống với dân chúng và căn dặn họ.

20

1 Bấy giờ, Đức Chúa Trời phán tất cả những lời nầy:

2 “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Đấng đã đem con ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ.

3 Trước mặt Ta con không được có các thần nào khác.

4 Con không được làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao, hoặc nơi đất thấp, hoặc trong nước dưới mặt đất.

5 Con không được cúi lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng; vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến thế hệ thứ ba, thứ tư.

6 Nhưng Ta sẽ ban ơn đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ta và vâng giữ các điều răn của Ta.

7 Con không được lạm dụng danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vì Đức Giê-hô-va sẽ chẳng dung tha kẻ nào lạm dụng danh Ngài.

8 Hãy nhớ ngày nghỉ để giữ làm ngày thánh.

9 Con phải làm tất cả công việc mình trong sáu ngày,

10 nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của con, cả đến khách lạ trong nhà con, đều không được làm bất cứ công việc gì cả.

11 Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã tạo dựng trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, nhưng Ngài nghỉ ngày thứ bảy. Vì vậy, Đức Giê-hô-va ban phước cho ngày nghỉ và thánh hóa ngày ấy.

12 Hãy hiếu kính cha mẹ của con, để con được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho con.

13 Con không được giết người.

14 Con không được phạm tội tà dâm.

15 Con không được trộm cắp.

16 Con không được làm chứng dối hại người lân cận mình.

17 Con không được tham muốn nhà người lân cận con, cũng không được tham muốn vợ, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa hay bất cứ vật gì thuộc về người lân cận con.”

18 Khi chứng kiến cảnh sấm chớp, tiếng kèn thổi và núi bốc khói thì dân chúng run sợ và đứng xa ra.

19 Họ nói với Môi-se: “Xin chính ông nói thẳng với chúng tôi, và chúng tôi sẽ nghe; nhưng xin Đức Chúa Trời đừng phán với chúng tôi, e chúng tôi chết mất.”

20 Môi-se nói với dân chúng: “Đừng sợ, vì Đức Chúa Trời giáng lâm để thử lòng anh em, để anh em luôn kính sợ Ngài mà không phạm tội.”

21 Dân chúng đứng xa xa, còn Môi-se đến gần đám mây dày đặc, nơi Đức Chúa Trời đang ngự.

22 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy nói với con dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Chính các con đã thấy Ta từ trên trời tuyên phán.

23 Vậy các con không được làm bất cứ tượng thần nào bên cạnh Ta; cũng đừng tự tạo các tượng thần bằng bạc hay bằng vàng nào cả.’

24 Con hãy lập cho Ta một bàn thờ bằng đất và trên đó dâng tế lễ thiêu, tế lễ bình an, hoặc chiên hay bò của mình. Bất cứ nơi nào Ta tỏ danh Ta để ghi nhớ, Ta sẽ đến và ban phước cho con.

25 Nếu con lập cho Ta một bàn thờ bằng đá thì không được dùng đá đẽo, vì nếu con dùng dụng cụ để đẽo thì con đã làm cho đá đó ra ô uế.

26 Con không được đi lên bàn thờ Ta bằng các bậc thang để thân thể con không hở hang trước bàn thờ.”

21

1 Đây là những luật lệ con phải truyền cho dân chúng:

2 Khi con mua một người nô lệ Hê-bơ-rơ, người đó sẽ phục vụ sáu năm; đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền.

3 Nếu người đó vào ở một mình thì sẽ ra đi một mình; nếu có vợ thì sẽ ra đi với vợ.

4 Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sinh được con trai hay gái thì người đó sẽ ra đi một mình; vợ và các con thuộc về chủ.

5 Nếu người nô lệ nói: “Tôi thương chủ, vợ và con cái tôi; tôi không muốn ra đi tự do,”

6 thì người chủ sẽ dẫn người đó đến trước mặt Đức Chúa Trời, đem lại gần cửa hay trụ cửa, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; người đó sẽ phục vụ người chủ ấy trọn đời.

7 Nếu ai bán con gái mình làm nữ tì thì cô gái đó sẽ không được ra đi như các nam nô lệ.

8 Nếu nàng không làm hài lòng chủ là người đã lấy nàng làm hầu thiếp, thì chủ phải để cho nàng được chuộc ra chứ không có quyền bán nàng cho người ngoại bang.

9 Còn nếu chủ muốn dành nàng cho con trai mình thì phải cư xử với nàng như với con gái mình.

10 Nếu người chủ cưới một người vợ khác thì không được cắt giảm phần thức ăn, quần áo và tình nghĩa vợ chồng với người vợ trước.

11 Nếu người chủ không thực hiện ba điều nầy, nàng được tự do ra đi mà không phải trả tiền lại.

12 Kẻ nào đánh chết một người sẽ bị tử hình.

13 Tuy nhiên, nếu người đó không cố sát nhưng Đức Chúa Trời đã trao kẻ bị giết vào tay người đó thì Ta sẽ định cho con một chỗ để người đó ẩn náu.

14 Nếu người nào chủ ý tấn công và cố ý giết người lân cận mình thì hãy lôi nó ra khỏi bàn thờ Ta mà giết đi.

15 Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình sẽ bị tử hình.

16 Kẻ nào bắt cóc người, hoặc đã bán đi hay còn đang giữ trong tay mình, sẽ bị tử hình.

17 Kẻ nào nguyền rủa cha hay mẹ mình sẽ bị xử tử.

18 Khi hai người cãi nhau, người nầy đánh người kia bằng một viên đá hay bằng nắm đấm, người kia không đến nỗi chết, nhưng phải nằm liệt giường;

19 nếu sau đó người ấy đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được thì kẻ đánh người đó sẽ được tha, chỉ phải đền bù thiệt hại trong thời gian nghỉ việc, và chăm lo cho đến khi hoàn toàn bình phục.

20 Khi người chủ nô lấy gậy đánh chết ngay tại chỗ nam hay nữ nô lệ của mình thì người chủ ấy phải bị phạt.

21 Nhưng nếu người nô lệ ấy còn sống một hai ngày thì người chủ khỏi tội, vì nô lệ đó vốn là tài sản của chủ.

22 Nếu người ta đánh nhau và gây thương tích cho một phụ nữ có thai, làm hư thai nhưng không gây thương tổn gì khác, thì kẻ gây thương tích phải bồi thường theo yêu cầu của người chồng và trả tiền trước mặt các thẩm phán.

23 Nhưng nếu có gây thương tổn thì con phải lấy mạng đền mạng,

24 lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng, lấy tay đền tay, lấy chân đền chân,

25 lấy phỏng đền phỏng, lấy vết bầm đền vết bầm, lấy thương tích đền thương tích.

26 Nếu chủ nô đánh vào mắt của nam hay nữ nô lệ mình và làm hỏng mắt đó thì người chủ phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền lại con mắt.

27 Nếu người chủ đánh gãy răng của một nam hay nữ nô lệ mình thì người chủ phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền lại chiếc răng.

28 Khi có một con bò húc chết một người đàn ông hay đàn bà thì con bò ấy phải bị ném đá chết; người ta không được ăn thịt nó; người chủ bò sẽ vô can.

29 Nhưng nếu trước đó con bò vốn có tật hay húc người và chủ bò đã từng được cảnh cáo nhưng vẫn không canh giữ, để nó húc chết một người đàn ông hay đàn bà thì bò phải bị ném đá và chủ bò sẽ bị tử hình.

30 Tuy nhiên, nếu người ta ra giá cho chủ bò chuộc mạng thì chủ phải trả theo giá đã định để chuộc mạng sống mình.

31 Nếu bò húc phải một người con trai hay con gái thì chủ bò cũng sẽ bị xử theo luật nầy.

32 Còn nếu bò húc nhằm một nam hay nữ nô lệ thì chủ bò phải trả cho chủ nô lệ đó ba trăm gam bạc; còn con bò phải bị ném đá chết.

33 Nếu người nào mở nắp miệng hầm hay đào hầm mà không đậy lại, và nếu có một con bò hay lừa té xuống đó

34 thì chủ hầm sẽ phải bồi thường cho chủ của con vật, nhưng con vật chết đó sẽ thuộc về chủ hầm.

35 Nếu bò của người nầy húc chết bò của người kia thì hai người hãy bán con bò còn sống rồi chia đôi tiền và thịt của con bò chết.

36 Tuy nhiên, nếu người chủ biết rõ con bò mình từ lâu đã có tật hay húc nhau mà không chịu canh giữ thì chủ ấy phải lấy bò thường bò, nhưng con bò chết sẽ thuộc về mình.

22

1 Nếu ai bắt trộm một con bò hay một con chiên rồi giết hoặc bán đi, thì phải đền gấp năm lần cho mỗi con bò và gấp bốn lần cho mỗi con chiên.

2 Nếu kẻ trộm bị bắt quả tang đang lúc cạy cửa và bị đánh chết thì kẻ đánh chết không mắc tội làm đổ máu;

3 nhưng nếu việc xảy ra sau khi mặt trời mọc thì kẻ đánh chết người sẽ mắc tội làm đổ máu. Kẻ trộm phải bồi thường; nếu kẻ trộm không có gì để bồi thường thì sẽ bị bán vì tội trộm cắp.

4 Nếu tìm thấy trong tay kẻ trộm vật mà nó đã lấy, hoặc bò, lừa hay chiên còn sống thì kẻ trộm đó phải bồi thường gấp đôi.

5 Nếu ai gây hư hại cho ruộng hay vườn nho, hoặc thả súc vật mình vào cắn phá ruộng người khác thì người ấy phải lấy hoa lợi tốt nhất của ruộng hay là vườn nho mình mà bồi thường.

6 Nếu lửa bùng phát và bắt sang bụi gai rồi thiêu hủy các bó lúa, lúa chưa gặt, hay là đồng ruộng thì kẻ gây hỏa hoạn đó phải bồi thường toàn bộ mọi vật đã bị cháy.

7 Khi ai giao tiền bạc hay đồ vật cho người lân cận mình giữ, chẳng may bị mất trộm trong nhà người đó; nếu tên trộm bị bắt thì nó phải đền gấp đôi.

8 Còn nếu tên trộm không bị bắt thì chủ nhà sẽ bị đem đến trước mặt Đức Chúa Trời để xác định là mình có lấy tài vật của người lân cận mình hay không.

9 Trong mọi việc tranh tụng liên quan đến tài sản, hoặc bò, lừa, chiên, áo xống hay bất cứ vật gì bị mất, mà có người nói: “vật nầy là của tôi” thì cả hai bên phải đến trước mặt Đức Chúa Trời. Bên nào bị kết án sẽ phải bồi thường gấp đôi cho người lân cận mình.

10 Nếu người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào khác cho người lân cận mình giữ, và nó bị chết, bị thương hay bị bắt mất mà không ai thấy

11 thì hai bên phải nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề để xác định rằng người giữ súc vật không hề lấy tài vật của người lân cận mình. Người chủ phải chấp nhận lời thề, và người kia không phải bồi thường gì hết.

12 Nhưng nếu con vật bị người đó bắt trộm thì phải bồi thường cho chủ nó.

13 Nếu con vật bị thú rừng xé ra từng mảnh, người giữ con vật đưa ra được bằng chứng thì sẽ không phải bồi thường con vật bị xé đó.

14 Nếu ai mượn người lân cận mình một con vật, rồi nó bị thương hay bị chết trong lúc chủ không có mặt, thì người đó phải bồi thường.

15 Nhưng, nếu chủ có mặt tại đó thì không phải bồi thường. Nếu con vật đã cho thuê thì giá thuê thế cho tiền bồi thường.

16 Khi một người dụ dỗ một trinh nữ chưa đính hôn và nằm với nàng, thì kẻ đó phải nộp sính lễ và cưới nàng làm vợ.

17 Nếu cha nàng cương quyết không gả thì kẻ đó phải nộp một số tiền tương đương với sính lễ dành cho các trinh nữ.

18 Không được tha mạng cho các mụ phù thủy.

19 Kẻ nào nằm với một con vật sẽ bị tử hình.

20 Kẻ nào dâng sinh tế cho các thần khác ngoài Đức Giê-hô-va sẽ bị tận diệt.

21 Con chớ nên bạc đãi hay áp bức người tha hương vì các con đã từng là kẻ tha hương trên đất Ai Cập.

22 Các con chớ ức hiếp bất cứ một bà góa hay một trẻ mồ côi nào.

23 Nếu cứ ức hiếp họ, và họ kêu van Ta, Ta chắc chắn sẽ nghe tiếng kêu của họ;

24 cơn giận của Ta sẽ bừng lên, Ta sẽ dùng gươm giết các con; vợ các con sẽ trở nên góa bụa và con các con sẽ mồ côi.

25 Nếu con cho bất cứ ai trong dân Ta, là những người nghèo khó ở giữa con, mượn tiền thì đừng đối xử với họ như chủ nợ, và cũng đừng bắt họ chịu lời.

26 Nếu con giữ áo choàng của người lân cận mình làm vật thế chấp thì phải trả cho họ trước khi mặt trời lặn;

27 vì đó là tấm đắp duy nhất của họ, là chiếc áo khoác che thân; lấy đi người ấy lấy gì mà ngủ? Nếu nó kêu van với Ta, thì Ta sẽ lắng nghe, vì Ta là Đấng nhân từ.

28 Con không được phạm thượng với Đức Chúa Trời, cũng đừng rủa sả người lãnh đạo dân tộc mình.

29 Con đừng chậm trễ trong việc dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và rượu của con. Con cũng phải dâng cho Ta các con trai đầu lòng của con.

30 Con cũng phải làm như thế với chiên và bò của con. Hãy để con đầu lòng ở với mẹ nó trong bảy ngày, đến ngày thứ tám con hãy dâng nó cho Ta.

31 Các con là người thánh của Ta, vì vậy không được ăn thịt của con vật bị thú rừng cắn xé ở ngoài đồng; hãy ném nó cho chó ăn.

23

1 “Con chớ tung tin đồn thất thiệt. Con cũng không được tiếp tay với kẻ ác để làm chứng dối.

2 Con chớ theo số đông để làm điều gian ác. Khi làm nhân chứng trong một vụ kiện tụng, con đừng đứng về phía số đông mà bẻ cong công lý.

3 Con cũng chớ thiên vị người nghèo trong việc kiện tụng.

4 Nếu con gặp bò hay lừa của kẻ thù mình đi lạc thì phải dẫn về cho chủ nó.

5 Nếu con thấy lừa của kẻ ghét mình bị ngã quỵ vì chở nặng thì không được làm ngơ mà phải giúp người ấy đỡ con lừa dậy.

6 Con chớ bẻ cong công lý trong các vụ kiện của người nghèo.

7 Con phải tránh xa các lời giả dối và chớ giết kẻ vô tội hay người công chính, vì Ta sẽ không xưng công chính cho kẻ gian ác đâu.

8 Con chớ nhận của hối lộ vì của hối lộ làm mờ mắt người sáng suốt và xuyên tạc lời nói của người công chính.

9 Con chớ áp bức người tha hương, chính các con đã hiểu thấu lòng người tha hương là thế nào, vì các con đã từng là kẻ tha hương trên đất Ai Cập.”

10 “Trong sáu năm con hãy gieo trồng và thu hoa lợi trong đất mình.

11 Nhưng sang năm thứ bảy hãy cho đất nghỉ, không canh tác để kẻ nghèo khổ trong dân tộc con tìm được thức ăn từ đó; những gì còn lại thì thú vật ngoài đồng sẽ ăn. Con cũng hãy làm như thế với vườn nho và vườn ô-liu của mình nữa.

12 Con hãy làm công việc của mình trong sáu ngày, sang ngày thứ bảy con hãy nghỉ để cho bò và lừa của con được nghỉ, con trai của nữ nô lệ và người ngoại bang lấy lại sức.

13 Hãy cẩn thận về mọi lời Ta phán với con. Không được nhắc đến danh của các thần khác, cũng đừng để người ta nghe miệng con thốt ra các danh ấy.”

14 “Mỗi năm ba lần con phải giữ lễ kính Ta.

15 Con hãy giữ lễ Bánh Không Men. Trong bảy ngày, phải ăn bánh không men vào thời gian đã định trong tháng A-bíp, như Ta đã truyền dạy con, vì trong tháng đó con đã ra khỏi Ai Cập. Không ai được đi tay không đến trước mặt Ta.

16 Con hãy giữ lễ Mùa Gặt tức là lễ dâng hoa quả đầu tiên do công lao con đã gieo trồng ngoài đồng. Con cũng hãy giữ lễ Thu Hoạch vào cuối năm, sau khi con đã đem kết quả của công sức mình từ ngoài đồng về.

17 Mỗi năm ba lần, tất cả các người nam phải đến trước mặt Chúa, là Đức Giê-hô-va.

18 Con chớ dâng cho Ta máu của sinh tế chung với bánh có men, cũng đừng để mỡ sinh tế dâng trong ngày lễ kính Ta đến sáng hôm sau.

19 Hãy đem những hoa quả đầu mùa tốt nhất của đất đai con vào đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Con chớ nấu dê con trong sữa mẹ nó.”

20 “Nầy, Ta sai một thiên sứ đi trước con để gìn giữ con trên đường đi và đưa con vào nơi Ta đã chuẩn bị.

21 Trước mặt thiên sứ, hãy cẩn thận và vâng lời người. Chớ nổi loạn chống lại người, vì người sẽ chẳng tha sự phản bội của các con đâu, vì danh Ta ở trong người.

22 Nhưng nếu con chăm chú vâng lời người và làm theo mọi lời Ta truyền phán thì Ta sẽ là kẻ thù của những kẻ thù con, đối thủ của những đối thủ con.

23 Vì thiên sứ Ta sẽ đi trước con, dẫn con vào đất của dân A-mô-rít, Hê-tít, Phê-rê-sít, Ca-na-an, Hê-vít, và Giê-bu-sít; rồi Ta sẽ xóa sạch chúng.

24 Con chớ quỳ lạy và phục vụ các thần của chúng; đừng bắt chước công việc chúng làm. Con phải phá hủy hoàn toàn các thần và đập vụn các trụ thờ của chúng.

25 Hãy phụng thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con; Ngài sẽ ban phước trên bánh con ăn, trên nước con uống, và đem tật bệnh tránh xa con.

26 Sẽ chẳng có đàn bà sẩy thai hoặc hiếm muộn trong xứ sở con. Ta sẽ cho con được trường thọ.

27 Ta sẽ gieo kinh hoàng và rối loạn trên bất cứ dân tộc nào mà con sắp đến. Ta sẽ làm cho kẻ thù con quay lưng bỏ chạy trước mặt con.

28 Ta sẽ sai ong lỗ đi trước con, chúng sẽ đánh đuổi dân Hê-vít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít trước mặt con.

29 Ta sẽ không đuổi chúng đi hết trong một năm đâu, vì nếu vậy thì xứ sở sẽ trở nên hoang vu, và thú rừng sẽ sinh sôi nẩy nở, tác hại đến ngươi.

30 Nhưng Ta sẽ đuổi chúng từ từ khỏi con, cho đến khi con trở nên đông đúc và có thể thừa hưởng đất nầy.

31 Ta sẽ ấn định lãnh thổ con từ Biển Đỏ đến biển Phi-li-tin, từ hoang mạc đến sông cái; vì Ta sẽ trao các cư dân trong đất đó vào tay con, và con sẽ đuổi chúng khuất mắt con.

32 Con đừng kết ước với chúng hoặc với các thần của chúng.

33 Chúng sẽ không được cư ngụ trong xứ sở con vì chúng có thể khiến con phạm tội với Ta mà phục vụ các thần của chúng; điều đó chắc chắn là một cạm bẫy cho con.”

24

1 Đức Chúa Trời phán với Môi-se: “Con và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy lên với Đức Giê-hô-va, và đứng đằng xa mà thờ phượng.

2 Chỉ một mình con là Môi-se được đến gần Đức Giê-hô-va; những người khác không được đến gần. Dân chúng không được theo con lên núi.”

3 Khi Môi-se đến và thuật lại cho dân chúng mọi lời phán và các luật lệ của Đức Giê-hô-va, dân chúng đồng thanh đáp rằng: “Chúng tôi sẽ thi hành mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền.”

4 Môi-se ghi lại mọi lời của Đức Giê-hô-va. Ông dậy sớm, xây một bàn thờ ở chân núi và dựng mười hai trụ đá tượng trưng cho mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên.

5 Ông sai các thanh niên Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ thiêu và sinh tế bằng bò tơ, tức là tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va.

6 Môi-se lấy một nửa máu đựng trong các chậu, còn nửa kia thì rảy trên bàn thờ.

7 Ông cầm quyển sách giao ước và đọc cho dân chúng nghe. Họ nói: “Chúng tôi sẽ làm theo và tuân giữ mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền.”

8 Môi-se lấy máu rảy trên dân chúng và nói: “Đây là máu của giao ước mà Đức Giê-hô-va đã lập với anh em dựa trên mọi lời nầy.”

9 Sau đó, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên lên núi;

10 họ trông thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Dưới chân Ngài có một vật gì giống như cái bệ bằng bích ngọc trong suốt như bầu trời xanh.

11 Ngài không đưa tay hành hại các nhà lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên; họ đã nhìn thấy Đức Chúa Trời rồi sau đó ăn uống.

12 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy lên núi, đến với Ta và đợi Ta tại đó. Ta sẽ ban cho con các bảng đá mà trên đó Ta đã viết luật pháp và điều răn để dạy dỗ dân chúng.”

13 Môi-se cùng với Giô-suê, người trợ lý của mình, đứng dậy rồi Môi-se đi lên núi Đức Chúa Trời.

14 Ông nói với các trưởng lão: “Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến khi chúng tôi trở lại. Nầy, A-rôn và Hu-rơ sẽ ở lại với các ông; ai cần việc gì có thể đến với họ.”

15 Môi-se lên núi, và mây bao phủ núi.

16 Vinh quang của Đức Giê-hô-va ngự trên núi Si-na-i. Trong sáu ngày, mây bao phủ núi; sang ngày thứ bảy Đức Giê-hô-va gọi Môi-se từ giữa đám mây.

17 Vinh quang của Đức Giê-hô-va tỏa ra như một đám lửa đang bừng cháy trên đỉnh núi trước mắt dân Y-sơ-ra-ên.

18 Môi-se bước vào giữa đám mây và đi lên núi. Môi-se ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm.

25

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên dâng lễ vật cho Ta. Các con hãy nhận lễ vật của tất cả những ai thành tâm dâng hiến.

3 Đây là lễ vật các con sẽ nhận từ họ: vàng, bạc, và đồng;

4 chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm; vải gai mịn, lông dê;

5 da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược, gỗ si-tim;

6 dầu thắp đèn, các hương liệu để làm dầu xức và hương thơm;

7 mã não và các thứ ngọc khác để gắn vào ê-phót và bảng đeo ngực.

8 Họ sẽ làm cho Ta một Đền Thánh để Ta ngự giữa họ.

9 Các con hãy làm đền đó đúng như kiểu mẫu Đền Tạm và các vật dụng trang trí mà Ta chỉ cho con.”

10 “Vậy, hãy bảo chúng đóng một cái hòm bằng gỗ si-tim, dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét, và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét.

11 Con hãy lấy vàng ròng bọc hòm, bọc cả trong lẫn ngoài và chạy đường viền bằng vàng chung quanh hòm.

12 Con cũng đúc bốn khoen bằng vàng gắn vào bốn góc hòm, hai khoen bên nầy và hai khoen bên kia;

13 và làm mấy cây đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng;

14 xỏ đòn vào các khoen hai bên để khiêng hòm.

15 Cứ giữ đòn ở luôn trong khoen, không nên rút ra.

16 Con hãy đặt vào trong hòm Bảng Chứng Ước mà Ta sẽ ban cho con.”

17 “Con hãy làm một nắp thi ân bằng vàng ròng, dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét.

18 Rồi làm hai chê-ru-bim bằng vàng dát mỏng, đặt ở hai đầu nắp thi ân.

19 Hãy làm một chê-rúp ở đầu nầy, một chê-rúp ở đầu kia và gắn liền với hai đầu nắp.

20 Hai chê-ru-bim sẽ xòe rộng đôi cánh che phủ nắp thi ân. Các chê-ru-bim mặt đối mặt, cùng hướng vào nắp thi ân.

21 Con hãy để nắp thi ân trên hòm và đặt vào trong đó Bảng Chứng Ước mà Ta sẽ ban cho con.

22 Ta sẽ gặp con tại đó; từ bên trên nắp thi ân, giữa hai chê-ru-bim nằm trên Hòm Chứng Ước, Ta sẽ truyền cho con mọi mệnh lệnh về dân Y-sơ-ra-ên.”

23 “Con cũng hãy đóng một cái bàn bằng gỗ si-tim dài tám mươi tám cen-ti-mét, rộng bốn mươi bốn cen-ti-mét và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét,

24 bọc bằng vàng ròng, và chạy một đường viền bằng vàng chung quanh.

25 Con cũng làm một bờ khung chung quanh bàn, cao khoảng bốn ngón tay, và chạy một đường viền vàng quanh khung ấy.

26 Rồi đúc bốn khoen vàng gắn vào bốn góc, chỗ có bốn chân bàn.

27 Khoen sẽ gắn gần khung để xỏ các đòn khiêng.

28 Con hãy làm các đòn bằng gỗ si-tim, bọc vàng để khiêng bàn đó.

29 Cũng hãy dùng vàng ròng mà làm khay, đĩa dâng hương, và lọ, bát để làm lễ quán.

30 Trên bàn con phải luôn luôn đặt bánh cung hiến trước mặt Ta.”

31 “Con cũng hãy làm chân đèn bằng vàng ròng; đế và thân của chân đèn được làm bằng vàng dát; đài đèn, nụ đèn và cánh hoa đèn đều được gắn vào chân đèn.

32 Có sáu nhánh nứt ra hai bên chân đèn, ba nhánh bên nầy và ba nhánh bên kia.

33 Trong sáu nhánh nứt ra từ chân đèn, trên mỗi nhánh đều có ba cái đài đèn tạo thành hình hoa hạnh nhân với nụ đèn và cánh hoa đèn.

34 Ngay trên chân đèn cũng có bốn đài đèn hình hoa hạnh nhân với nụ đèn và cánh hoa đèn.

35 Trong sáu nhánh từ chân đèn nứt ra, cứ dưới mỗi hai nhánh thì gắn một nụ đèn.

36 Các nụ đèn và các nhánh của chân đèn được gắn kết với chân đèn; tất cả đều được làm bằng vàng ròng dát mỏng.

37 Con cũng hãy làm bảy ngọn đèn cho chân đèn; đặt những ngọn đèn đó thế nào để khi thắp lên thì ánh sáng tỏa ra phía trước chân đèn.

38 Kéo cắt tim đèn và khay đựng tàn đèn cũng sẽ bằng vàng ròng.

39 Một ta-lâng vàng ròng sẽ được dùng làm chân đèn và các dụng cụ khác.

40 Vậy, con hãy xem xét và làm đúng như kiểu mẫu đã chỉ cho con trên núi.”

26

1 “Con hãy dùng mười bức màn để làm Đền Tạm. Màn dệt bằng sợi gai mịn, màu xanh, đỏ tía và đỏ thắm, có thêu các hình chê-ru-bim thật mỹ thuật.

2 Tất cả các bức màn đều cùng kích cỡ như nhau: dài khoảng mười hai mét, rộng hai mét.

3 Cứ năm bức màn kết lại thành một bộ, năm bức kia cũng vậy.

4 Con hãy thắt các vòng bằng chỉ xanh trên biên của bức màn ngoài cùng của bộ màn thứ nhất; và cũng làm như vậy trên biên của bức màn ngoài cùng của bộ màn thứ hai.

5 Rồi cũng thắt năm mươi cái vòng trên bức màn thứ nhất và năm mươi cái vòng trên biên bức màn cuối của bộ màn thứ hai; các vòng hai bên phải đối nhau.

6 Cũng hãy làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi móc các bức màn lại với nhau để Đền Tạm kết thành một.

7 Con cũng hãy kết mười một bức màn bằng lông dê để làm tấm bạt phủ trên Đền Tạm.

8 Cả mười một bức màn đều có cùng kích cỡ như nhau: dài khoảng mười ba mét, rộng khoảng hai mét.

9 Con hãy kết các bức màn nầy thành hai bộ: một bộ năm bức và một bộ sáu bức; nhưng phải gấp làm đôi bức màn thứ sáu trước Đền Tạm.

10 Rồi cũng thắt năm mươi cái vòng trên biên của bức màn cuối của bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên biên màn đầu của bộ màn phủ hai.

11 Con cũng làm năm mươi cái móc bằng đồng cài vào vòng rồi nối hai bộ màn lại để Đền Tạm kết thành một.

12 Phần còn dư, tức là một nửa bức màn dư của tấm bạt, sẽ phủ phía sau Đền Tạm;

13 phần chiều dài mỗi bên dư khoảng nửa mét của tấm bạt sẽ phủ xuống để che hai bên hông Đền Tạm.

14 Con cũng làm một tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ và một tấm bạt bằng da cá nược che lên trên.

15 Con hãy dựng những tấm ván bằng gỗ si-tim để làm vách Đền Tạm.

16 Mỗi tấm ván dài khoảng bốn mét, rộng khoảng sáu mươi sáu cen-ti-mét.

17 Mỗi tấm có hai cái mộng để ghép các tấm ván lại với nhau. Tất cả các vách của Đền Tạm con đều làm như thế.

18 Con hãy làm hai mươi tấm ván cho phía nam Đền Tạm;

19 dưới hai mươi tấm ván ấy, hãy làm bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm ván có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng, và hai lỗ mộng dưới tấm kế tiếp sẽ khớp với hai mộng của tấm tiếp theo.

20 Cũng hãy làm hai mươi tấm ván cho phía bắc Đền Tạm,

21 và bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, mỗi tấm ván có hai lỗ mộng, và tấm kế tiếp cũng có hai lỗ mộng.

22 Con cũng hãy làm sáu tấm ván về phía tây Đền Tạm.

23 Và làm hai tấm ván cho hai góc phía sau Đền Tạm;

24 chúng sẽ được ghép lại với nhau từ dưới lên trên bởi một cái khoen trên cùng. Cả hai góc đều phải làm như vậy.

25 Như thế, có tám tấm ván và mười sáu lỗ mộng bằng bạc, dưới mỗi tấm ván có hai lỗ mộng và tấm kế tiếp cũng vậy.

26 Con cũng làm những thanh ngang bằng gỗ si-tim: năm thanh cho các tấm ván ở bên nầy của Đền Tạm;

27 năm thanh cho các tấm ván ở phía bên kia Đền Tạm, và năm thanh khác nữa ở phía sau của Đền Tạm, tức là phía tây.

28 Thanh ngang giữa, nằm khoảng nửa trên của các tấm ván, sẽ cài suốt từ đầu nầy đến đầu kia.

29 Cũng hãy lấy vàng bọc ván và làm những khoen bằng vàng để giữ các thanh ngang. Con cũng bọc vàng các thanh ngang.

30 Con phải dựng Đền Tạm theo đúng như kiểu mẫu đã chỉ dẫn cho con trên núi.

31 Con hãy làm một bức màn bằng sợi gai mịn, màu xanh, đỏ tía, đỏ thắm, có thêu những hình chê-ru-bim thật mỹ thuật;

32 treo màn đó trên bốn trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng, dựng trên bốn lỗ trụ bằng bạc; các móc trụ đều bằng vàng.

33 Con hãy treo màn đó vào các móc rồi đem Hòm Chứng Ước vào bên trong màn. Bức màn nầy sẽ giúp các con phân biệt Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh.

34 Con hãy để nắp thi ân trên Hòm Chứng Ước trong Nơi Chí Thánh.

35 Con cũng đặt cái bàn bên ngoài bức màn về phía bắc Đền Tạm, và đặt chân đèn đối diện với cái bàn về phía nam Đền Tạm.

36 Tại cửa Đền Tạm con hãy làm một bức màn bằng chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, sợi gai mịn, được thêu thật mỹ thuật;

37 rồi con làm cho bức màn nầy năm cây trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng; các móc của nó cũng bằng vàng và đúc cho nó năm lỗ trụ bằng đồng.”

27

1 “Con hãy đóng một bàn thờ bằng gỗ si-tim hình vuông, mỗi cạnh hai mét hai, và cao khoảng một mét ba.

2 Con làm sừng gắn ở bốn góc bàn thờ; các sừng ấy phải thành một khối với bàn thờ. Con cũng dùng đồng bọc bàn thờ.

3 Những dụng cụ của bàn thờ như bình đựng tro, xẻng, chậu, nĩa và lư hương đều phải làm bằng đồng.

4 Con cũng làm cho bàn thờ một cái rá bằng lưới đồng có bốn khoen đồng ở bốn góc,

5 và để rá đó dưới thành bàn thờ, khoảng nửa chiều cao của bàn thờ.

6 Con cũng làm các đòn khiêng bàn thờ bằng gỗ si-tim bọc đồng,

7 rồi xỏ đòn vào các khoen, để khi khiêng đi thì đòn sẽ ở hai bên bàn thờ.

8 Bàn thờ sẽ ghép bằng ván, rỗng bên trong. Hãy làm đúng như Ta đã chỉ dẫn cho con trên núi vậy.”

9 “Con hãy làm hành lang cho Đền Tạm. Phía nam của hành lang có các tấm rèm bằng sợi gai mịn dài bốn mươi bốn mét;

10 hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; còn các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.

11 Cũng vậy, theo chiều dài của hành lang phía bắc có các tấm rèm dài bốn mươi bốn mét, hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; nhưng các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.

12 Theo chiều rộng của hành lang phía tây có các tấm rèm dài hai mươi hai mét với mười cây trụ và mười lỗ trụ.

13 Chiều rộng của hành lang phía đông là hai mươi hai mét.

14 Ở một bên cổng có các tấm rèm sáu mét sáu, với ba cây trụ và ba lỗ trụ;

15 ở bên kia cũng có các tấm rèm sáu mét sáu, với ba cây trụ và ba lỗ trụ.

16 Còn ở cửa hành lang sẽ có một bức màn dài tám mét tám bằng vải gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, được thêu mỹ thuật, cùng với bốn cây trụ và bốn lỗ trụ.

17 Tất cả các trụ chung quanh hành lang đều phải có các thanh bằng bạc, móc trụ bằng bạc, và lỗ trụ bằng đồng.

18 Chiều dài của hành lang phải là bốn mươi bốn mét, rộng hai mươi hai mét, cao hai mét hai với các rèm bằng vải gai mịn và lỗ trụ bằng đồng.

19 Tất cả các dụng cụ dùng vào việc tế lễ trong Đền Tạm, các cây cọc của Đền Tạm và cây cọc của hành lang, đều phải làm bằng đồng.”

20 “Con hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem đến cho con dầu nguyên chất ép từ trái ô-liu để thắp đèn và giữ cho đèn được thắp sáng liên tục.

21 Trong Lều Hội Kiến, bên ngoài bức màn trước Hòm Chứng Ước, A-rôn và các con trai người sẽ gìn giữ cho ngọn đèn luôn sáng trước mặt Đức Giê-hô-va từ tối cho đến sáng. Đây sẽ là một luật đời đời cho các thế hệ con dân Y-sơ-ra-ên.”

28

1 “Từ trong dân Y-sơ-ra-ên, con hãy chọn A-rôn, anh con, và các con trai người là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma, phong làm chức tế lễ cho Ta.

2 Con hãy may lễ phục thánh thật trang trọng và vinh dự cho A-rôn, anh con.

3 Hãy truyền cho tất cả những người có tài năng, những người mà Ta đã ban năng khiếu đặc biệt, may lễ phục cho A-rôn, để cung hiến người vào chức vụ tế lễ cho Ta.

4 Đây là bộ lễ phục mà họ phải may: Bảng đeo ngực, ê-phót, áo dài, áo lót có thêu, mũ và thắt lưng. Vậy, họ sẽ may lễ phục thánh cho A-rôn và các con trai người để những người nầy thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.

5 Họ sẽ dùng vải gai mịn, dây kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm mà làm.”

6 “Họ sẽ may ê-phót một cách mỹ thuật với sợi gai mịn, dây kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.

7 Có hai cầu vai gắn vào hai bên ê-phót; như vậy ê-phót dính liền nhau.

8 Đai thắt trên ê-phót cũng được may cùng một cách và chất liệu như ê-phót, tức là sợi gai mịn, sợi kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.

9 Con cũng lấy hai viên ngọc mã não và khắc lên đó tên các con trai Y-sơ-ra-ên:

10 sáu tên trên viên ngọc nầy, sáu tên trên viên ngọc kia, theo thứ tự ngày sinh của họ.

11 Phải khắc tên các con trai Y-sơ-ra-ên trên hai viên ngọc đó theo cách của thợ khắc con dấu, rồi khảm trong khuôn khảm bằng vàng.

12 Con sẽ gắn hai viên ngọc đó trên hai cầu vai ê-phót, như là những viên ngọc kỷ niệm về các con trai Y-sơ-ra-ên. A-rôn sẽ mang tên của họ trên hai vai mình trước mặt Đức Giê-hô-va như một kỷ niệm.

13 Con cũng hãy làm khuôn khảm bằng vàng

14 và hai dây chuyền bằng vàng ròng xoắn như dây thừng, rồi gắn hai dây chuyền đó vào khuôn khảm.”

15 “Con cũng phải làm một bảng đeo ngực về sự phán xét thật mỹ thuật. Con phải làm theo cách đã làm ê-phót, tức là với sợi gai mịn, dây kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.

16 Bảng đeo ngực có hình vuông và may hai lớp, dài một gang tay, rộng một gang tay.

17 Con hãy đính vào bảng đeo ngực bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất là ngọc mã não, ngọc hồng bích, và ngọc lục bửu;

18 hàng thứ nhì là ngọc phỉ túy, ngọc lam bửu và ngọc kim cương;

19 hàng thứ ba là ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã não, và ngọc tử tinh,

20 hàng thứ tư là ngọc hoàng bích, ngọc hồng mã não, và bích ngọc. Các viên ngọc nầy phải được khảm vào khuôn bằng vàng.

21 Tổng số ngọc đó là mười hai viên, tương ứng với tên các con trai Y-sơ-ra-ên; trên mỗi viên ngọc sẽ khắc tên của một trong mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu vậy.

22 Con hãy làm cho bảng đeo ngực các dây chuyền bằng vàng ròng xoắn như dây thừng,

23 làm hai khoen bằng vàng và đính hai khoen ấy vào hai góc trên của bảng đeo ngực.

24 Con hãy xâu hai dây chuyền vàng vào hai khoen ở góc trên của bảng đeo ngực,

25 còn đầu kia của hai dây chuyền thì gắn vào khuôn khảm, và gắn vào phía trước cầu vai của ê-phót.

26 Con cũng làm hai khoen bằng vàng khác và gắn chúng vào hai góc dưới của bảng đeo ngực, phía trong ê-phót.

27 Con lại làm hai khoen bằng vàng khác gắn trước phần phía dưới của hai cầu vai ê-phót, ngay chỗ mối giáp phía trên đai thắt của ê-phót.

28 Rồi người ta sẽ dùng một sợi dây màu xanh buộc các khoen của bảng đeo ngực với các khoen ê-phót; như thế bảng đeo ngực dính với đai thắt, không bị rời khỏi ê-phót.

29 Như vậy, khi vào Nơi Thánh A-rôn sẽ mang trên ngực tên các con trai Y-sơ-ra-ên nơi bảng đeo ngực về sự phán xét, như một kỷ niệm thường xuyên trước mặt Đức Giê-hô-va.

30 Con hãy gắn U-rim và Thu-mim trên bảng đeo ngực về sự phán xét, để chúng sẽ ở trên ngực A-rôn khi ông đến trước mặt Đức Giê-hô-va. Vì vậy, trước mặt Đức Giê-hô-va, A-rôn sẽ thường xuyên mang sự phán xét các con trai Y-sơ-ra-ên trên lòng mình.”

31 “Con cũng hãy may áo dài của ê-phót toàn bằng vải xanh.

32 Giữa áo phải khoét một lỗ tròng đầu, có viền chung quanh, như cổ áo giáp để khỏi bị tưa.

33 Trên lai áo hãy thắt những trái lựu màu xanh, đỏ tía, đỏ thắm, với các chuông vàng nhỏ đính vòng theo lai áo,

34 cứ một cái chuông vàng thì xen kẽ một trái lựu và vòng hết cả lai áo.

35 A-rôn sẽ mặc áo đó mỗi khi hành lễ; khi đi vào hay ra Nơi Thánh trước mặt Đức Giê-hô-va, tiếng chuông vàng sẽ khua lên; nhờ vậy A-rôn khỏi phải chết.

36 Con cũng hãy làm một thẻ bằng vàng ròng và khắc trên đó, như cách người ta khắc con dấu, những chữ: ‘THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.’

37 Con buộc thẻ đó trên mũ bằng một sợi dây màu xanh ở phía trước mũ.

38 Thẻ đó sẽ ở trên trán A-rôn và A-rôn sẽ gánh lấy bất cứ tội lỗi nào liên quan đến lễ vật thánh mà con dân Y-sơ-ra-ên đã cung hiến. Thẻ sẽ luôn ở trên trán A-rôn, để dân chúng được chấp nhận trước mặt Đức Giê-hô-va.

39 Con hãy đan một áo lót bằng vải gai mịn, một cái mũ cũng bằng vải gai mịn và một thắt lưng thêu.

40 Con cũng hãy đan cho các con trai A-rôn áo lót, thắt lưng và mũ; con hãy làm cho họ được trang trọng và vinh dự.

41 Con hãy lấy các bộ lễ phục đó mặc cho A-rôn, anh con, và các con trai người. Hãy xức dầu cho họ, phong chức và cung hiến họ để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.

42 Hãy may cho họ quần lót bằng vải gai, để che kín từ ngang lưng đến bắp đùi.

43 A-rôn và các con trai người sẽ mặc quần đó mỗi khi vào Lều Hội Kiến hay đến gần bàn thờ để phục vụ trong Nơi Thánh; nếu không họ sẽ mắc tội và phải chết. Ấy là một luật đời đời cho A-rôn và dòng dõi người.”

29

1 “Đây là việc con phải làm khi cung hiến A-rôn và các con trai người để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta. Hãy bắt một con bò tơ đực và hai con chiên đực không tì vết,

2 dùng bột mì mịn làm bánh mì không men, bánh ngọt không men pha dầu, và bánh xốp không men pha dầu.

3 Con hãy đặt những thứ bánh đó trong một cái giỏ rồi dâng giỏ bánh cùng với bò tơ đực và hai chiên đực.

4 Con sẽ đưa A-rôn và các con trai người đến cửa Lều Hội Kiến rồi lấy nước tẩy rửa họ.

5 Sau đó, lấy lễ phục mặc cho A-rôn tức là: áo lót, áo dài của ê-phót, ê-phót, và bảng đeo ngực; rồi thắt đai ê-phót cho người;

6 đội mũ lên đầu và đặt thẻ thánh trên mũ;

7 lấy dầu xức đổ trên đầu và xức cho người.

8 Con cũng đưa các con trai A-rôn đến gần và mặc áo lót cho họ

9 rồi thắt lưng và đội mũ cho A-rôn và các con trai người. Chức vụ tế lễ sẽ thuộc về họ bằng một luật đời đời. Như vậy con đã phong chức cho A-rôn và các con trai người.

10 Con hãy dẫn con bò tơ đực đến trước Lều Hội Kiến. A-rôn và các con trai người sẽ đặt tay trên đầu con bò

11 và con hãy giết con bò đực trước mặt Đức Giê-hô-va, tại cửa Lều Hội Kiến,

12 rồi lấy máu con bò, dùng ngón tay bôi lên các sừng của bàn thờ và đổ phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.

13 Con cũng hãy lấy tất cả lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, các phần phụ của gan, hai quả thận và mỡ trên đó, mà đốt trên bàn thờ.

14 Nhưng thịt, da, và phẩn của con bò đực đó thì hãy thiêu bên ngoài trại quân. Đó là một tế lễ chuộc tội.

15 Con cũng dắt một trong hai con chiên đực đến để A-rôn và các con trai người sẽ đặt tay trên đầu nó;

16 rồi con hãy giết chiên đực đó, lấy máu mà rảy khắp mọi phía của bàn thờ.

17 Tiếp đó, con hãy cắt con chiên ra từng miếng, rửa sạch bộ lòng và giò, để chung với các miếng thịt và đầu nó;

18 rồi thiêu toàn bộ con chiên đực trên bàn thờ. Đó là một tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va, tức là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm làm vừa lòng Đức Giê-hô-va.

19 Con cũng dắt con chiên đực thứ hai đến để A-rôn và các con trai người đặt tay trên đầu nó;

20 rồi con giết chiên đực đó, lấy máu bôi lên trái tai bên phải của A-rôn và các con trai người, bôi lên ngón cái bàn tay phải và ngón cái bàn chân phải của họ, và lấy máu còn lại rảy khắp mọi phía của bàn thờ.

21 Con cũng lấy một ít máu trên bàn thờ và ít dầu xức mà rảy trên mình A-rôn và lễ phục của người cũng như trên mình và trên lễ phục của các con trai người. Như vậy, A-rôn cùng các lễ phục mình, các con trai người cùng các lễ phục của họ đều sẽ được thánh hóa.

22 Vì đó là chiên đực dùng vào lễ tấn phong nên con hãy lấy mỡ, đuôi, lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, các phần phụ của gan, hai quả thận cùng lớp mỡ trên đó, và đùi phải;

23 và cũng lấy một ổ bánh mì, một cái bánh ngọt pha dầu, và một bánh xốp từ trong giỏ bánh không men ở trước mặt Đức Giê-hô-va;

24 rồi con đặt tất cả các món đó vào lòng bàn tay A-rôn và lòng bàn tay của các con trai người và con cử hành việc dâng tế lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.

25 Sau đó, con hãy lấy lại các thứ ấy từ tay họ và thiêu trên bàn thờ cùng với tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm làm vừa lòng Đức Giê-hô-va.

26 Con cũng lấy cái ức chiên đực dùng trong lễ tấn phong A-rôn và dâng lên như một tế lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; đó sẽ là phần của con.

27 Vậy, con phải cung hiến cái ức và đùi của chiên đực như một tế lễ đưa qua đưa lại trong lễ tấn phong A-rôn và các con trai người.

28 Những lễ vật từ con dân Y-sơ-ra-ên dâng thì sẽ thuộc về A-rôn và các con trai người theo luật đời đời, vì đây là phần lấy từ sinh tế trong tế lễ bình an mà con dân Y-sơ-ra-ên dâng lên Đức Giê-hô-va.

29 Những lễ phục thánh của A-rôn sẽ được chuyển sang các con trai nối nghiệp người để họ mặc khi được xức dầu và phong chức.

30 Người con trai được thay thế A-rôn để làm thầy tế lễ sẽ mặc lễ phục đó trong bảy ngày khi đến Lều Hội Kiến để phục vụ trong Nơi Thánh.

31 Con hãy bắt con chiên đực dùng trong lễ phong chức mà nấu thịt nó trong một chỗ thánh.

32 A-rôn và các con trai người sẽ ăn thịt chiên đực đó với bánh trong giỏ, tại cửa Lều Hội Kiến.

33 Như vậy, họ sẽ ăn các lễ vật chuộc tội đó để được tấn phong và thánh hóa. Nhưng người ngoài không được ăn vì là thức ăn thánh.

34 Nếu thịt hoặc bánh tế lễ tấn phong còn dư lại đến sáng hôm sau, con phải thiêu trong lửa, không được ăn vì là thức ăn thánh.

35 Vậy con hãy làm cho A-rôn và các con trai người đúng như mọi điều Ta đã truyền cho con, và con sẽ phong chức cho họ trong bảy ngày.

36 Mỗi ngày con hãy dâng một bò tơ đực để làm tế lễ chuộc tội. Con cũng dâng một tế lễ chuộc tội cho bàn thờ cũng như phải xức dầu và thánh hóa bàn thờ.

37 Trong bảy ngày, con hãy làm lễ chuộc tội và thanh tẩy bàn thờ. Như vậy bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, bất cứ vật gì chạm đến bàn thờ đều sẽ trở nên thánh.”

38 “Đây là những gì con phải dâng đều đặn trên bàn thờ: mỗi ngày con hãy dâng hai chiên con một tuổi:

39 một con vào buổi sáng và một con vào chiều tối.

40 Với con chiên thứ nhất, con hãy trộn khoảng một ký bột mì mịn với khoảng một lít dầu ép, và một lít rượu nho cho lễ quán.

41 Về con chiên thứ nhì, con hãy dâng vào chiều tối với một tế lễ chay và một lễ quán giống như tế lễ buổi sáng. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm làm vừa lòng Đức Giê-hô-va.

42 Tế lễ thiêu phải được dâng liên tục qua mọi thế hệ, tại cửa Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va, là nơi Ta sẽ gặp gỡ các con và phán dạy con.

43 Ta sẽ gặp gỡ con dân Y-sơ-ra-ên tại đó; nơi nầy sẽ được thánh hóa bởi vinh quang của Ta.

44 Ta sẽ thánh hóa Lều Hội Kiến và bàn thờ cũng như thánh hóa A-rôn và các con trai người để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.

45 Ta sẽ ngự giữa con dân Y-sơ-ra-ên và làm Đức Chúa Trời của họ.

46 Họ sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, đã đem họ ra khỏi đất Ai Cập để ngự giữa họ. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.”

30

1 “Con cũng hãy đóng một bàn thờ bằng gỗ si-tim để xông hương.

2 Mặt bàn vuông, mỗi cạnh bốn mươi bốn cen-ti-mét, chiều cao của bàn thờ khoảng tám mươi tám cen-ti-mét. Các sừng được gắn liền với bàn thờ.

3 Con cũng bọc mặt bàn thờ, bốn cạnh chung quanh và các sừng bằng vàng ròng; chung quanh bàn chạy một đường viền vàng.

4 Dưới đường viền đó, con gắn hai khoen bằng vàng ở hai bên bàn thờ để xỏ đòn khiêng.

5 Hãy làm các đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng.

6 Con hãy đặt bàn thờ đó trước bức màn che Hòm Chứng Ước, đối diện với nắp thi ân ở trên Chứng Ước, nơi Ta sẽ gặp con.

7 Mỗi buổi sáng, khi sửa soạn đèn, A-rôn sẽ đốt hương thơm trên bàn thờ.

8 Vào buổi tối, khi thắp đèn, A-rôn cũng sẽ đốt hương thơm; đó là một thứ hương phải thường xuyên dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va qua mọi thế hệ.

9 Trên bàn thờ nầy, các con không được xông thứ hương nào khác hoặc dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay hay là lễ quán nào cả.

10 Mỗi năm một lần, A-rôn sẽ cử hành lễ chuộc tội trên các sừng bàn thờ. Qua mọi thế hệ, máu của sinh tế chuộc tội phải được dùng trong lễ chuộc tội hằng năm. Đây là một lễ rất thánh cho Đức Giê-hô-va.”

11 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

12 “Khi con kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên, mỗi người dân đều phải nộp tiền chuộc mạng sống mình cho Đức Giê-hô-va để không ai mắc tai ương gì trong khi kiểm tra dân số.

13 Đây là thuế mà mỗi người được kiểm tra phải nộp: khoảng sáu gam theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh (tức là mỗi siếc-lơ cân nặng mười hai gam); sáu gam nầy là lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.

14 Những ai thuộc diện kiểm tra dân số, từ hai mươi tuổi trở lên, đều phải dâng lễ vật nầy lên Đức Giê-hô-va.

15 Khi dâng lễ vật nầy lên Đức Giê-hô-va để chuộc mạng sống mình, người giàu cũng như người nghèo không ai được nộp nhiều hơn hay ít hơn sáu gam.

16 Vậy con thu tiền chuộc mạng sống của con dân Y-sơ-ra-ên và dùng tiền đó vào công việc của Lều Hội Kiến. Đây sẽ là một kỷ niệm cho dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va để chuộc mạng sống mình.”

17 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:

18 “Con hãy làm một cái bồn bằng đồng để rửa; các chân bồn cũng bằng đồng. Con hãy đặt bồn đó ở giữa khoảng Lều Hội Kiến và bàn thờ rồi đổ nước vào.

19 A-rôn và các con trai người sẽ dùng nước đó rửa tay chân.

20 Khi vào Lều Hội Kiến hay khi đến gần bàn thờ để hành lễ như dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, họ sẽ lấy nước đó tẩy rửa mình để khỏi phải chết.

21 Họ phải rửa tay chân, nếu không, họ sẽ phải chết. Đó là một luật đời đời cho A-rôn và dòng dõi người qua mọi thế hệ.”

22 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:

23 “Con hãy thu thập các hương liệu tốt nhất gồm: sáu ký mộc dược nước, hương nhục quế bằng nửa số đó, tức ba ký, và ba ký hương xương bồ;

24 sáu ký quế bì, đều theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh, và bốn lít dầu ô-liu.

25 Con hãy dùng các hương liệu đó, pha chế theo nghệ thuật hòa hương thành một thứ dầu thánh. Đó là dầu xức thánh.

26 Rồi con lấy dầu đó xức cho Lều Hội Kiến và Hòm Chứng Ước,

27 bàn thờ và các dụng cụ, chân đèn và các dụng cụ, bàn thờ xông hương,

28 bàn thờ tế lễ thiêu và các dụng cụ, bồn rửa và chân bồn.

29 Con sẽ giữ các vật nầy trong sự thánh khiết để chúng trở nên rất thánh; bất cứ vật gì chạm đến đều sẽ được thánh.

30 Con cũng hãy xức dầu cho A-rôn và các con trai người, cung hiến họ để họ phục vụ Ta trong chức tế lễ.

31 Con cũng hãy nói với con dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Với Ta, đây là dầu xức thánh qua mọi thế hệ.

32 Không được đổ dầu nầy trên xác thịt loài người và cũng không được pha chế một thứ dầu nào khác theo công thức nầy. Dầu nầy là thánh và cũng sẽ thánh đối với các con.

33 Bất cứ ai pha chế một thứ dầu giống như vậy hoặc đem dầu ấy xức cho người ngoài đều sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.’”

34 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy dùng các hương liệu như tô hiệp hương, loa yểm hương, phong chi hương và thanh nhũ hương với cân lượng bằng nhau;

35 theo nghệ thuật hòa hương, pha chế thành một thứ hương đốt có vị mặn, thuần chất và thánh khiết.

36 Con lấy một ít và nghiền thành bột rồi để một phần trước Hòm Chứng Ước trong Lều Hội Kiến, tức là nơi Ta sẽ gặp con. Hương nầy sẽ trở nên rất thánh đối với các con.

37 Không được chế hương theo công thức nầy để dùng cho mình; phải xem đây là vật thánh cho Đức Giê-hô-va.

38 Kẻ nào pha chế giống như vậy để ngửi, sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.”

31

1 Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:

2 “Nầy, Ta đã gọi đích danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa.

3 Ta đã cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời cùng với sự khéo tay, thông minh và hiểu biết trong lãnh vực thủ công mỹ nghệ

4 để thiết kế và chế tạo các vật bằng vàng, bạc và đồng;

5 khắc đá khảm ngọc, chạm gỗ thuộc lãnh vực thủ công mỹ nghệ.

6 Nầy, Ta đã chọn cho người một phụ tá tên là Ô-hô-li-áp, con trai của A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan. Ta cũng đã ban sự khôn ngoan cho những người khéo tay để họ có thể làm được mọi việc Ta đã truyền dạy con,

7 như làm Lều Hội Kiến, Hòm Chứng Ước, nắp thi ân ở trên Hòm Chứng Ước và các vật dụng khác trong Lều Hội Kiến;

8 bàn thờ và các dụng cụ, chân đèn bằng vàng ròng và các dụng cụ, bàn thờ xông hương,

9 bàn thờ dâng tế lễ thiêu và các dụng cụ, bồn rửa và chân bồn,

10 lễ phục bằng hàng dệt, lễ phục thánh cho thầy tế lễ A-rôn và lễ phục cho các con trai người để thi hành chức vụ tế lễ,

11 dầu xức và hương thơm cho Nơi Thánh. Họ phải làm đúng theo tất cả những gì Ta đã truyền dạy con.”

12 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

13 “Con hãy nói với con dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Các con phải tuyệt đối giữ ngày sa-bát của Ta vì đây là một dấu hiệu giữa Ta và các con qua mọi thế hệ, để các con biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các con.

14 Vậy, các con phải giữ ngày sa-bát vì đó là ngày thánh đối với các con. Kẻ nào xúc phạm đến ngày đó, phải bị tử hình; kẻ nào làm bất cứ việc gì trong ngày đó sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.

15 Người ta sẽ làm việc trong sáu ngày; ngày thứ bảy là ngày sa-bát, tức là ngày yên nghỉ và ngày thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm bất cứ việc gì trong ngày sa-bát đều sẽ bị tử hình.

16 Vì vậy, con dân Y-sơ-ra-ên phải tuân giữ ngày sa-bát qua mọi thế hệ như một giao ước đời đời.

17 Đó là một dấu hiệu đời đời giữa Ta và con dân Y-sơ-ra-ên vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời và đất trong sáu ngày, sang ngày thứ bảy Ngài ngưng công việc và nghỉ ngơi.’”

18 Sau khi đã phán với Môi-se tại núi Si-na-i, Đức Giê-hô-va trao cho ông hai Bảng Chứng Ước bằng đá do chính ngón tay Đức Chúa Trời viết ra.

32

1 Khi thấy Môi-se ở trên núi mãi chưa xuống, dân chúng tụ họp chung quanh A-rôn và nói: “Nào! Ông hãy làm cho chúng tôi những vị thần đi trước chúng tôi, vì chúng tôi không biết việc gì đã xảy đến cho ông Môi-se, người đã dẫn chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập.”

2 A-rôn bảo họ: “Hãy lột những vòng vàng đeo trên tai vợ, con trai và con gái anh em, rồi đem đến cho tôi.”

3 Tất cả dân chúng đều lột vòng vàng trên tai mình và đem đến cho A-rôn.

4 Ông nhận vàng từ tay họ, dùng dụng cụ làm khuôn rồi đúc thành một bò con. Dân chúng nói: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là thần của ngươi, thần đã đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập.”

5 Thấy vậy, A-rôn lập một bàn thờ trước mặt tượng bò con đó rồi tuyên bố rằng: “Ngày mai sẽ là ngày lễ cho Đức Giê-hô-va!”

6 Sáng hôm sau dân chúng thức dậy sớm, dâng các tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Họ ngồi xuống ăn uống, rồi đứng dậy đùa bỡn.

7 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy xuống đi, vì dân mà con đưa ra khỏi đất Ai Cập đã hư hỏng rồi.

8 Chúng đã vội rời bỏ đường lối mà Ta truyền dạy, đúc cho mình một tượng bò con, thờ lạy tượng đó, dâng tế lễ cho nó và nói: ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là thần đã dẫn ngươi ra khỏi đất Ai Cập!’”

9 Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se: “Ta đã nhìn thấy dân nầy, thật là một dân cứng cổ.

10 Vậy bây giờ hãy để mặc Ta, để cơn thịnh nộ Ta nổi lên và tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn.”

11 Môi-se kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, tại sao cơn thịnh nộ Ngài lại nổi lên với dân Ngài, là dân mà Ngài đã dùng quyền uy lớn lao và cánh tay mạnh mẽ đem ra khỏi đất Ai Cập?

12 Tại sao lại để cho người Ai Cập nói: ‘Ngài cố ý đem họ ra khỏi đây để giết chết họ trong núi, và tiêu diệt họ khỏi mặt đất’? Cầu xin Chúa nguôi giận và từ bỏ ý định giáng họa cho dân Ngài.

13 Xin Chúa nhớ lại Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, là các đầy tớ Ngài, mà Ngài đã lấy chính mình ra và thề với họ rằng: ‘Ta sẽ làm cho dòng dõi các con đông như sao trên trời. Ta sẽ ban cho dòng dõi các con cả vùng đất nầy, là đất mà Ta đã phán hứa, và chúng sẽ thừa hưởng đất ấy đời đời.’”

14 Đức Giê-hô-va đổi ý không giáng tai họa mà Ngài định giáng xuống trên dân Ngài.

15 Môi-se từ trên núi đi xuống, tay cầm hai Bảng Chứng Ước. Các Bảng Chứng Ước được viết trên cả hai mặt, mặt trước và mặt sau.

16 Hai Bảng đó do Đức Chúa Trời làm ra, chữ là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên các bảng đá.

17 Khi Giô-suê nghe tiếng dân chúng la lên, thì nói với Môi-se: “Trong trại quân có tiếng giao chiến.”

18 Nhưng Môi-se nói: “Đây không phải là tiếng reo hò chiến thắng, Cũng chẳng phải là tiếng kêu van thất trận; Nhưng ta nghe tiếng ca hát.”

19 Khi đến gần trại quân, thấy tượng bò con và cảnh nhảy múa, Môi-se nổi giận, ném hai Bảng Chứng Ước khỏi tay mình, vỡ nát dưới chân núi.

20 Ông lấy tượng bò con mà chúng đã đúc đem đốt trong lửa, nghiền thành bột, rồi rải trên mặt nước và bắt con dân Y-sơ-ra-ên uống.

21 Môi-se nói với A-rôn: “Dân nầy đã làm gì anh mà anh đẩy họ vào một tội lỗi nặng nề như vậy?”

22 A-rôn đáp: “Xin chúa tôi đừng nổi giận, chúa biết dân nầy là dân chuyên làm điều ác!

23 Họ đã nói với tôi: ‘Ông hãy làm cho chúng tôi những vị thần đi trước chúng tôi, vì chúng tôi chẳng biết việc gì đã xảy đến cho ông Môi-se, người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ai Cập,’

24 Tôi nói với họ rằng: ‘Ai có vàng hãy lột ra!’ Họ đưa cho tôi, tôi ném vào lửa và thành ra bò con nầy.”

25 Khi Môi-se thấy dân chúng buông tuồng, vì A-rôn đã để họ buông tuồng, đến nỗi thành trò cười trước mặt kẻ thù,

26 thì ông đứng tại cổng trại quân và nói: “Ai thuộc về Đức Giê-hô-va, hãy đến với ta!” Tất cả các con trai Lê-vi đều tụ họp quanh ông.

27 Ông nói với họ: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã truyền rằng mỗi người trong anh em hãy đeo gươm bên mình, đi qua đi lại khắp trại quân, từ cửa nầy đến cửa kia, và mỗi người hãy giết anh em, bạn hữu, và kẻ lân cận mình.”

28 Các con trai Lê-vi làm đúng theo lời Môi-se; trong ngày đó có khoảng ba nghìn người trong dân chúng bị giết chết.

29 Môi-se nói: “Hôm nay chính anh em đã tự cung hiến cho Đức Giê-hô-va con trai hay anh em mình, nên ngày nay Ngài ban phước cho anh em.”

30 Ngày hôm sau, Môi-se nói với dân chúng: “Anh em đã phạm một trọng tội. Nhưng bây giờ ta sẽ lên gặp Đức Giê-hô-va, có lẽ ta sẽ chuộc được tội cho anh em.”

31 Vậy Môi-se trở lên gặp Đức Giê-hô-va và thưa với Ngài rằng: “Ôi! Dân nầy đã phạm một trọng tội, họ đã làm cho mình tượng thần bằng vàng.

32 Nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Nếu không, xin Ngài xóa tên con khỏi sách Ngài đã viết.”

33 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Kẻ nào phạm tội chống lại Ta, Ta sẽ xóa người ấy khỏi sách Ta.

34 Nhưng bây giờ, hãy đi, dẫn dân chúng đến nơi Ta đã chỉ cho con. Nầy, thiên sứ của Ta sẽ đi trước con. Tuy nhiên, đến ngày trừng phạt, Ta sẽ trừng phạt tội lỗi của chúng.”

35 Đức Giê-hô-va giáng tai họa trên dân chúng vì họ làm tượng bò con bằng vàng mà A-rôn đã đúc ra.

33

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con và dân chúng mà con đã dẫn ra khỏi đất Ai Cập hãy rời khỏi nơi nầy và đi lên đất mà Ta đã thề với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, rằng: ‘Ta sẽ ban đất nầy cho dòng dõi con.’

2 Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước con, và sẽ đuổi dân Ca-na-an, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít,

3 để đưa các con vào một vùng đất đượm sữa và mật; nhưng Ta sẽ không cùng lên với các con đâu, vì các con là một dân tộc cứng cổ, e rằng Ta sẽ tiêu diệt các con dọc đường chăng.”

4 Khi dân chúng nghe những lời chẳng lành nầy thì than khóc, không một ai đeo đồ trang sức cả.

5 Vì Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se: “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên: ‘Các con là một dân tộc cứng cổ, nếu Ta cùng lên với các con dù chỉ trong một lúc, thì Ta sẽ tiêu diệt các con! Vậy, bây giờ, hãy lột bỏ trang sức đi, rồi Ta xem sẽ phải làm gì với các con.’”

6 Thế nên, từ núi Hô-rếp trở đi, dân Y-sơ-ra-ên lột bỏ các đồ trang sức.

7 Bấy giờ, Môi-se đem lều ra dựng ở bên ngoài trại quân và gọi đó là Lều Hội Kiến. Ai muốn cầu khẩn Đức Giê-hô-va thì đến Lều Hội Kiến, ở bên ngoài trại quân.

8 Mỗi khi Môi-se ra đến Lều thì toàn dân đứng dậy; mỗi người đứng tại cửa trại mình, nhìn theo Môi-se cho đến khi ông vào hẳn trong Lều.

9 Ngay khi Môi-se vào trong Lều thì trụ mây giáng xuống, dừng tại cửa Lều; Đức Giê-hô-va nói chuyện với Môi-se.

10 Khi thấy trụ mây dừng tại cửa Lều, toàn thể dân chúng đều đứng dậy, rồi mỗi người phủ phục tại cửa trại mình.

11 Đức Giê-hô-va nói chuyện với Môi-se mặt đối mặt như một người nói chuyện với bạn mình. Rồi Môi-se trở về trại quân, nhưng người phụ tá trẻ của ông là Giô-suê, con trai của Nun, không ra khỏi Lều.

12 Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Thưa Chúa, Ngài đã phán với con rằng: ‘Hãy dẫn dân nầy lên’ nhưng Ngài lại không cho con biết Ngài sẽ sai ai đi với con, dù Ngài có phán: ‘Ta biết đích danh con, và con đã được ơn trước mặt Ta.’

13 Vậy bây giờ, nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin tỏ cho con biết đường lối của Ngài để con biết Ngài và được ơn trước mặt Ngài. Xin cũng nghĩ đến dân tộc nầy là dân của Ngài!”

14 Đức Giê-hô-va phán: “Chính Ta sẽ đi với con, và Ta sẽ cho con được an nghỉ.”

15 Môi-se thưa: “Nếu chính Ngài không cùng đi, xin đừng đem chúng con lên khỏi đây.

16 Nếu Ngài không cùng đi với chúng con thì làm sao người ta biết được rằng con và dân của Ngài được ơn trước mặt Ngài? Có Ngài đi cùng thì con và dân của Ngài sẽ được phân biệt với muôn dân trên mặt đất.”

17 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Ta sẽ làm điều con cầu xin Ta vì con được ơn trước mặt Ta, và Ta biết đích danh con.”

18 Môi-se thưa: “Xin cho con được chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài!”

19 Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ thể hiện sự toàn hảo của Ta trước mặt con; Ta sẽ công bố danh Giê-hô-va trước mặt con; Ta sẽ làm ơn cho ai Ta muốn làm ơn và thương xót ai Ta muốn thương xót.”

20 Ngài phán: “Nhưng con không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống.”

21 Đức Giê-hô-va lại phán: “Nầy, có một chỗ gần Ta, con hãy đứng trên tảng đá.

22 Khi vinh quang Ta đi ngang qua, Ta sẽ để con trong kẽ đá và lấy bàn tay Ta che con cho đến khi đi qua rồi

23 Ta mới rút tay lại. Con sẽ thấy phía sau Ta, nhưng không được thấy mặt Ta.”

34

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đẽo hai bảng đá như hai bảng trước, rồi Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng mà con đã làm vỡ.

2 Sáng mai, hãy chuẩn bị sẵn sàng. Vừa sáng, hãy lên núi Si-na-i và đứng trước mặt Ta tại đỉnh núi đó.

3 Không một ai được lên cùng con, không người nào được lảng vảng trên núi; ngay cả chiên, bò cũng không được ăn cỏ phía trước núi nầy.”

4 Môi-se đẽo hai bảng đá giống hai bảng trước. Ông dậy sớm, tay mang hai bảng đá lên núi Si-na-i, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy.

5 Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây, đứng bên Môi-se và xưng danh Ngài là Giê-hô-va.

6 Đức Giê-hô-va đi qua trước mặt ông và tuyên bố: “Giê-hô-va! Giê-hô-va! Là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, Chậm giận, Dư dật ân huệ và thành thực,

7 Giữ lòng yêu thương đến nghìn đời, Tha thứ điều gian ác, sự vi phạm và tội lỗi; Nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, Mà nhân tội tổ phụ phạt con cháu đến ba bốn đời.”

8 Môi-se vội vàng cúi đầu xuống đất và thờ phượng.

9 Ông thưa: “Lạy Chúa! Nếu con được ơn trước mặt Chúa, xin Chúa cùng đi với chúng con. Dù đây là một dân tộc cứng cổ, xin Chúa tha sự gian ác và tội lỗi của chúng con và nhận chúng con làm cơ nghiệp Ngài.”

10 Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta lập một giao ước. Trước mặt toàn thể dân chúng của con, Ta sẽ làm những việc kỳ diệu, những việc chưa bao giờ được thực hiện trên khắp trái đất hay giữa một quốc gia nào. Mọi dân tộc chung quanh con sẽ nhìn thấy công việc của Đức Giê-hô-va, vì việc Ta sắp làm với con là một điều đáng sợ.

11 Hãy cẩn trọng về điều Ta truyền cho con hôm nay. Nầy, Ta sẽ đuổi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít khỏi trước mặt con.

12 Hãy cẩn trọng, đừng lập giao ước với dân cư sinh sống trong đất mà con sẽ vào, kẻo họ sẽ trở thành một cái bẫy cho con.

13 Nhưng các con phải phá hủy các bàn thờ, đập bể các trụ thờ và đánh hạ các thần chúng nó.

14 Đừng thờ lạy một thần nào khác vì Đức Giê-hô-va, danh Ngài là Đấng kỵ tà; Ngài thật là một Đức Chúa Trời kỵ tà.

15 Không được lập giao ước với dân bản xứ, kẻo khi chúng hành dâm với các tà thần và cúng tế các thần của chúng rồi mời các con và các con sẽ ăn của cúng thần tượng.

16 Cũng đừng cưới con gái chúng nó cho con trai các con, kẻo con gái chúng hành dâm với các tà thần rồi quyến dụ con trai các con cũng hành dâm với các tà thần của chúng.

17 Con không được đúc tượng thần.”

18 “Con phải giữ lễ Bánh Không Men. Như Ta đã truyền dạy, các con hãy ăn bánh không men trong bảy ngày vào thời gian đã được ấn định trong tháng A-bíp, vì trong tháng A-bíp các con đã ra khỏi Ai Cập.

19 Tất cả các con đầu lòng đều thuộc về Ta; tất cả các con đực trong bầy súc vật của các con, hoặc bò hoặc chiên đầu lòng, cũng vậy.

20 Con phải chuộc con lừa đầu lòng bằng một chiên con hay là dê con. Nếu không chuộc thì con hãy bẻ cổ nó. Phải chuộc tất cả các con trưởng nam mình. Không ai được đi tay không khi đến trình diện Ta.

21 Con hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng vào ngày thứ bảy con phải nghỉ dù đang là mùa cày cấy hay mùa gặt con cũng phải nghỉ.

22 Con phải giữ lễ Các Tuần với sản vật đầu mùa gặt lúa mì, và lễ Thu Hoạch vào cuối năm.

23 Mỗi năm ba lần, tất cả nam giới đều phải trình diện Giê-hô-va Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

24 Vì Ta sẽ đuổi các dân khỏi trước mặt con và mở rộng bờ cõi con; sẽ chẳng một ai tham muốn xứ sở của con khi con lên trình diện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con mỗi năm ba lần.

25 Con không được dâng cho Ta máu sinh tế chung với bánh có men; cũng không được giữ sinh tế của lễ Vượt Qua đến sáng hôm sau.

26 Con phải dâng hoa quả đầu mùa tốt nhất của đất vào đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. Con chớ nấu dê con trong sữa mẹ nó.”

27 Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se: “Hãy chép các lời nầy vì dựa trên các lời nầy mà Ta lập giao ước với con và với Y-sơ-ra-ên.”

28 Môi-se ở đó với Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước. Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là Mười Điều Răn.

29 Khi mang trên tay hai Bảng Chứng Ước từ núi Si-na-i đi xuống, Môi-se không biết rằng da mặt mình rực sáng vì ông đã được hầu chuyện với Đức Giê-hô-va.

30 A-rôn cũng như tất cả con dân Y-sơ-ra-ên nhìn Môi-se, thấy da mặt ông sáng rực thì sợ và không dám lại gần.

31 Nhưng Môi-se gọi họ. A-rôn cùng tất cả các nhà lãnh đạo hội chúng đều quay lại; Môi-se nói chuyện với họ.

32 Sau đó, tất cả con dân Y-sơ-ra-ên đều đến gần; ông truyền cho họ các mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán với ông trên núi Si-na-i.

33 Khi đã ngưng nói chuyện với họ, Môi-se liền lấy lúp che mặt lại.

34 Nhưng mỗi khi Môi-se đến trước mặt Đức Giê-hô-va để hầu chuyện Ngài, thì ông giở lúp lên cho đến lúc đi ra ngoài và thuật lại với con dân Y-sơ-ra-ên những gì mà Ngài đã phán dặn mình.

35 Lúc ấy dân Y-sơ-ra-ên thấy gương mặt của Môi-se sáng rực nên ông phải lấy lúp che mặt lại cho đến khi vào hầu chuyện Đức Giê-hô-va.

35

1 Môi-se tập hợp toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên lại và nói: “Đây là những việc Đức Giê-hô-va đã truyền dạy anh em phải thi hành:

2 Người ta sẽ làm việc trong sáu ngày; nhưng anh em phải giữ thứ bảy làm ngày thánh, là ngày sa-bát tức là ngày yên nghỉ, dành cho Đức Giê-hô-va. Người nào làm bất cứ việc gì trong ngày đó đều sẽ bị tử hình.

3 Trong ngày sa-bát anh em không được đốt lửa tại những nơi mình cư ngụ.”

4 Môi-se nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: “Đây là lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy:

5 Hãy lấy từ của cải mình có mà dâng cho Đức Giê-hô-va. Ai có nhiệt tâm hãy đem lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va như vàng, bạc, và đồng;

6 chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, vải gai mịn, lông dê;

7 da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược; gỗ si-tim;

8 dầu thắp, các hương liệu để pha chế dầu xức và hương thơm,

9 bích ngọc và các thứ ngọc khác để khảm vào ê-phót và bảng đeo ngực.”

10 “Trong anh em ai là người khéo tay hãy đến làm tất cả những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy:

11 lều và tấm bạt, móc, ván, thanh ngang, trụ và lỗ trụ;

12 Hòm Chứng Ước và các đòn khiêng; nắp thi ân và bức màn che;

13 cái bàn với các đòn khiêng và tất cả dụng cụ cùng bánh cung hiến;

14 chân đèn, đồ dụng cụ, đèn và dầu thắp đèn;

15 bàn thờ xông hương và các đòn khiêng; dầu xức, hương thơm, và bức màn cửa Đền Tạm;

16 bàn thờ dâng tế lễ thiêu và rá đồng; đòn khiêng và các dụng cụ của bàn thờ; bồn rửa và chân bồn;

17 các tấm rèm che hành lang, trụ, lỗ trụ, và bức màn của cửa hành lang;

18 các cọc của Đền Tạm, các cọc và dây của hành lang;

19 bộ lễ phục bằng hàng dệt để phục vụ trong Nơi Thánh; bộ lễ phục thánh cho thầy tế lễ A-rôn và lễ phục cho các con trai người để thi hành chức vụ tế lễ.”

20 Nghe xong, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đều rút lui khỏi Môi-se.

21 Những người được thúc giục trong lòng, và có tinh thần tự nguyện đều đã đến, đem lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va để dùng vào việc cất Đền Tạm, trang bị các vật dụng trong Đền và may các lễ phục thánh.

22 Vậy cả nam lẫn nữ, tất cả những ai có lòng tự nguyện đều đến. Họ đem trâm, bông tai, nhẫn, kiềng, các thứ trang sức bằng vàng và dâng lễ vật bằng vàng lên Đức Giê-hô-va.

23 Người nào có chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, vải gai mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ, và da cá nược cũng đã đem đến.

24 Ai có vật gì bằng bạc hay đồng đều có thể làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va; ai có gỗ si-tim dùng được vào việc gì đều đem đến.

25 Tất cả những phụ nữ khéo tay đều đem đến những thứ mà tự mình đã kéo như vải gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.

26 Còn những phụ nữ được thúc giục và có năng khiếu thì kéo chỉ lông dê.

27 Các nhà lãnh đạo thì đem bích ngọc và các thứ ngọc khác để khảm vào ê-phót và bảng đeo ngực.

28 Họ cũng đem dầu thắp đèn, các hương liệu để pha chế dầu xức và hương thơm.

29 Tất cả con dân Y-sơ-ra-ên, cả nam lẫn nữ, ai được thúc giục muốn dâng bất cứ thứ gì vào các công việc mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se, đều đã tự nguyện đem dâng lên Đức Giê-hô-va.

30 Môi-se nói với con dân Y-sơ-ra-ên: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã gọi đích danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa.

31 Ngài đã ban cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, cùng với sự khéo tay, thông minh và hiểu biết trong lãnh vực thủ công mỹ nghệ

32 để thiết kế và chế tạo các vật bằng vàng, bạc, và đồng,

33 khắc đá khảm ngọc, chạm gỗ thủ công mỹ nghệ.

34 Ngài ban cho người khả năng dạy nghề và cũng ban cho cả Ô-hô-li-áp, con của A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan nữa.

35 Ngài cho họ đầy dẫy sự khôn ngoan để làm tất cả các công việc của một nghệ nhân chạm trổ, thiết kế, thêu và dệt sợi nhiều màu như xanh, đỏ tía, đỏ thắm và vải gai mịn; cũng như công việc của bất cứ nghệ nhân hay người có tài thiết kế nào khác.”

36

1 “Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và những người khéo tay mà Đức Giê-hô-va đã ban sự khéo léo và hiểu biết để chu toàn công tác xây dựng Đền Thánh đúng với những gì Đức Giê-hô-va đã truyền phán.”

2 Vậy Môi-se gọi Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và những người khéo tay mà Đức Giê-hô-va đã đặt trong lòng họ sự khôn ngoan, cùng với những người có tinh thần tự nguyện đến để bắt tay vào việc.

3 Trước mặt Môi-se, họ tiếp nhận tất cả các lễ vật mà con dân Y-sơ-ra-ên đã tự nguyện đem đến để thực hiện việc xây dựng Đền Thánh. Nhưng, vì mỗi buổi sáng dân chúng cứ tiếp tục đem những lễ vật tình nguyện đến

4 nên các nghệ nhân đang làm các công việc của Đền Thánh phải tạm ngưng.

5 Họ đến gặp Môi-se và nói: “Dân chúng đem đến quá mức cần thiết so với công việc mà Đức Giê-hô-va đã truyền phải làm.”

6 Vì vậy, Môi-se phải ra lệnh cho họ loan báo khắp trại quân: “Xin mọi người, nam cũng như nữ, đừng dâng thêm gì cho việc xây dựng Đền Thánh nữa!” Vậy là dân chúng bị ngăn cản đem thêm lễ vật;

7 vì vật liệu họ dâng không những đã đủ mà còn dư cho toàn bộ công việc.

8 Trong số những người làm việc, những thợ nào khéo tay đều tham gia xây dựng Đền Tạm. Họ dệt mười bức màn bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, có thêu hình chê-ru-bim thật mỹ thuật.

9 Mỗi bức màn dài khoảng mười hai mét, rộng hai mét; tất cả đều có cùng kích cỡ như nhau.

10 Họ kết từng năm bức màn lại với nhau;

11 thắt vòng bằng chỉ xanh trên biên bức màn chót của bộ màn thứ nhất; và cũng làm như vậy trên biên bức màn đầu của bộ màn thứ hai.

12 Họ thắt năm mươi cái vòng trên biên bức màn thứ nhất và năm mươi cái vòng trên biên của bức màn cuối của bộ màn thứ hai; các vòng nằm đối nhau.

13 Họ cũng làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi móc các bức màn lại với nhau để Đền Tạm kết lại thành một.

14 Họ cũng kết mười một bức màn bằng lông dê làm tấm bạt phủ trên Đền Tạm.

15 Mỗi bức màn dài khoảng 13 mét, rộng khoảng hai mét; cả mười một bức màn đều có kích cỡ như nhau.

16 Họ kết các bức màn nầy thành hai bộ: một bộ năm bức và một bộ sáu bức.

17 Họ thắt năm mươi cái vòng trên biên bức màn cuối của bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên biên bức màn đầu của bộ màn thứ hai;

18 họ cũng làm năm mươi cái móc bằng đồng để kết hai bộ màn phủ lại với nhau làm cho Đền Tạm thành một.

19 Họ cũng làm một tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ và một tấm bạt bằng da cá nược phủ bên ngoài.

20 Họ dựng vách Đền Tạm bằng ván gỗ si-tim.

21 Mỗi tấm ván dài khoảng bốn mét, rộng khoảng sáu mươi sáu cen-ti-mét.

22 Trong mỗi tấm có hai cái mộng để ghép lại với nhau. Tất cả các tấm ván vách Đền Tạm đều làm như thế.

23 Họ làm vách cho Đền Tạm như sau: hai mươi tấm cho phía nam;

24 dưới hai mươi tấm ấy họ làm bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, dưới mỗi tấm ván có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng, và hai lỗ mộng dưới tấm kế tiếp sẽ khớp với hai cái mộng của tấm tiếp theo.

25 Ở mặt bên kia, tức là phía bắc Đền Tạm, họ cũng làm hai mươi tấm ván

26 và bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm ván đều có hai lỗ mộng, và dưới tấm kế tiếp cũng có hai lỗ mộng.

27 Ở mặt sau của Đền Tạm, tức là phía tây, họ làm sáu tấm ván;

28 ở hai góc sau của Đền Tạm họ làm hai tấm ván.

29 Hai tấm ván đó được ghép lại với nhau từ dưới lên trên, chỗ cái khoen thứ nhất. Cả hai góc họ đều làm như vậy.

30 Vì thế, có tám tấm ván và mười sáu lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm có hai lỗ mộng.

31 Họ cũng làm những thanh ngang bằng gỗ si-tim: năm thanh cho những tấm ván ở bên nầy của Đền Tạm,

32 năm thanh cho các tấm ván ở phía bên kia Đền Tạm và năm thanh khác ở phía sau Đền Tạm, tức là phía tây.

33 Họ làm thanh ngang giữa nằm khoảng nửa trên của các tấm ván để cài từ đầu nầy đến đầu kia.

34 Họ bọc vàng mấy tấm ván và làm các khoen bằng vàng để giữ các thanh ngang; các thanh ngang cũng được bọc vàng.

35 Họ cũng làm một bức màn bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, thêu hình chê-ru-bim thật mỹ thuật;

36 rồi dựng cho bức màn đó bốn cây trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng, các móc trụ cũng bằng vàng và đúc bốn lỗ trụ bằng bạc cho bốn cây trụ đó.

37 Họ cũng dệt một tấm màn cửa lều bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, được thêu mỹ thuật.

38 Họ còn làm năm cây trụ có móc rồi bọc vàng các đầu trụ và các thanh liên kết, còn năm lỗ trụ thì bằng đồng.

37

1 Bết-sa-lê-ên đóng một cái hòm bằng gỗ si-tim dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét.

2 Ông bọc vàng ròng cả trong lẫn ngoài và chạy một đường viền vàng chung quanh.

3 Ông đúc bốn cái khoen bằng vàng gắn ở bốn góc: hai cái bên nầy, hai cái bên kia.

4 Ông cũng làm các cây đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng,

5 rồi xỏ đòn vào các khoen hai bên để khiêng hòm.

6 Ông cũng làm một nắp thi ân bằng vàng ròng dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét.

7 Sau đó ông làm hai chê-ru-bim bằng vàng dát mỏng, đặt ở hai đầu nắp thi ân:

8 một cái ở đầu nầy và một cái ở đầu kia, gắn liền với hai đầu nắp.

9 Hai chê-ru-bim xòe rộng đôi cánh che phủ nắp thi ân. Mặt đối mặt, các chê-ru-bim cùng hướng vào nắp thi ân.

10 Ông cũng đóng một cái bàn bằng gỗ si-tim: dài tám mươi tám cen-ti-mét, rộng bốn mươi bốn cen-ti-mét và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét,

11 bọc bằng vàng ròng và chạy một đường viền bằng vàng chung quanh.

12 Ông cũng đóng nẹp chung quanh bàn cao chừng bốn ngón tay và chạy một đường viền vàng theo nẹp ấy.

13 Ông đúc bốn cái khoen vàng gắn vào bốn góc, chỗ có bốn chân bàn.

14 Các khoen gắn gần khung để xỏ các đòn khiêng.

15 Ông làm các đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng để khiêng bàn đó.

16 Ông cũng lấy vàng ròng để làm các đồ dùng bày trên bàn như: khay, đĩa dâng hương, lọ và bát để làm lễ quán.

17 Ông cũng làm chân đèn bằng vàng ròng; đế và thân của chân đèn được làm bằng vàng dát; đài đèn, nụ đèn, và cánh hoa đèn đều được gắn vào chân đèn.

18 Có sáu nhánh nứt ra hai bên chân đèn, ba nhánh bên nầy và ba nhánh bên kia.

19 Trong sáu nhánh nứt ra từ chân đèn đó, trên mỗi nhánh đều có ba cái đài đèn tạo thành hình hoa hạnh nhân với nụ và cánh hoa đèn.

20 Ngay trên chân đèn cũng có bốn đài đèn hình hoa hạnh nhân với nụ và cánh hoa đèn.

21 Trong sáu nhánh từ chân đèn nứt ra, cứ dưới mỗi hai nhánh thì gắn một nụ đèn.

22 Các nụ và nhánh của chân đèn đều được gắn với chân đèn; tất cả đều được làm bằng vàng ròng dát mỏng.

23 Ông cũng làm bảy ngọn đèn, kéo cắt tim đèn và khay đựng tàn bằng vàng ròng.

24 Ông dùng một ta-lâng vàng ròng để làm chân đèn và các dụng cụ khác.

25 Ông cũng đóng một bàn thờ xông hương bằng gỗ si-tim hình vuông, mỗi cạnh bốn mươi bốn cen-ti-mét và cao tám mươi tám cen-ti-mét; các sừng được gắn liền với bàn thờ.

26 Ông cũng bọc bàn thờ, mặt bàn thờ, bốn cạnh chung quanh, các sừng bằng vàng ròng và chạy một đường viền vàng chung quanh.

27 Dưới đường viền đó, ông gắn hai khoen bằng vàng ở hai bên bàn thờ để xỏ đòn khiêng.

28 Ông làm các đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng.

29 Ông cũng pha chế dầu thánh để xức, và hương thơm nguyên chất theo phương thức pha chế nước hoa.

38

1 Ông cũng đóng bàn thờ dâng tế lễ thiêu bằng gỗ si-tim hình vuông, mỗi cạnh hai mét hai và cao một mét ba.

2 Ông làm các sừng gắn ở bốn góc bàn thờ; các sừng ấy hợp thành một khối với bàn thờ. Bàn thờ được bọc đồng.

3 Sau đó ông làm các dụng cụ của bàn thờ như các bình đựng tro, xẻng, chậu, nĩa, và lư hương. Tất cả đều bằng đồng.

4 Ông cũng làm cho bàn thờ một cái rá có lưới bằng đồng để dưới thành bàn thờ, khoảng nửa chiều cao của bàn thờ,

5 và đúc bốn cái khoen ở bốn góc rá đồng để xỏ đòn khiêng.

6 Ông làm các đòn khiêng bằng gỗ si-tim bọc đồng,

7 và xỏ đòn đó vào khoen ở hai bên bàn thờ để khiêng đi. Ông đóng bàn thờ rỗng bằng ván ghép lại.

8 Ông dùng những tấm gương soi của các phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến để làm một cái bồn rửa có chân bồn bằng đồng.

9 Ông cũng làm hành lang. Phía nam của hành lang có các tấm rèm làm bằng vải gai mịn, dài khoảng bốn mươi bốn mét,

10 với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; nhưng các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.

11 Phía bắc cũng có bốn mươi bốn mét rèm với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; nhưng các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.

12 Phía tây có hai mươi hai mét rèm với mười cây trụ và mười lỗ trụ bằng đồng; các móc trụ và thanh liên kết bằng bạc.

13 Phía trước, tức là phía đông, là hướng mặt trời mọc, cũng có hai mươi hai mét rèm;

14 các tấm rèm che bên nầy cửa hành lang dài sáu mét sáu với ba cây trụ và ba lỗ trụ;

15 bên kia cũng có sáu mét sáu rèm với ba cây trụ và ba lỗ trụ.

16 Tất cả các tấm rèm chung quanh hành lang đều bằng vải gai mịn;

17 các lỗ trụ đều bằng đồng nhưng móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc; các đầu trụ cũng bọc bạc. Tất cả các trụ của hành lang đều nối nhau nhờ các thanh liên kết bằng bạc.

18 Tấm màn nơi cửa hành lang được thêu mỹ thuật bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm; màn dài tám mét tám, cao hai mét hai, tương xứng với các tấm rèm chung quanh hành lang.

19 Bốn cây trụ và bốn lỗ trụ bằng đồng, móc trụ bằng bạc, đầu trụ bọc bạc, và những thanh liên kết cũng bằng bạc.

20 Các cây cọc của Đền Tạm và hành lang chung quanh đều bằng đồng.

21 Đây là tổng số các vật liệu dùng cho Đền Tạm, là Đền Tạm Chứng Ước, được kết toán theo lệnh Môi-se truyền cho những người Lê-vi, dưới sự hướng dẫn của Y-tha-ma, con trai của thầy tế lễ A-rôn.

22 Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa, làm tất cả những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se,

23 cùng với người phụ tá Ô-hô-li-áp, con trai A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan, là thợ chạm, người thiết kế, thợ thêu sợi gai mịn với chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.

24 Tổng số vàng đã dâng được dùng vào việc xây dựng Nơi Thánh khoảng một nghìn ký, theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh.

25 Tổng số bạc của những người được kể vào hội chúng là ba nghìn bốn trăm ba mươi ký, theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh.

26 Tất cả những người thuộc diện kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên, tức là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi người, mỗi đầu người nộp sáu gam, theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh.

27 Ba nghìn bốn trăm ký bạc dùng để đúc các lỗ trụ của Đền Thánh và các lỗ trụ màn; ba nghìn bốn trăm ký cho một trăm lỗ trụ, tức ba mươi bốn ký cho mỗi lỗ trụ.

28 Ba mươi ký còn lại thì dùng làm móc trụ, bọc các đầu trụ và làm thanh liên kết cho các trụ.

29 Tổng số đồng được đóng góp là hai ngàn bốn trăm ký.

30 Đồng đó được dùng làm lỗ trụ của cửa Lều Hội Kiến, bàn thờ bằng đồng, rá đồng và các dụng cụ của bàn thờ,

31 các lỗ trụ chung quanh hành lang, các lỗ trụ cửa hành lang, các cọc của Đền Tạm, và các cọc chung quanh hành lang.

39

1 Họ dùng chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm để may lễ phục bằng hàng dệt dành cho việc phụng vụ trong Nơi Thánh. Họ may bộ lễ phục thánh cho A-rôn như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

2 Họ may ê-phót bằng sợi gai mịn, kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.

3 Họ cán vàng thành lá mỏng và cắt thành từng sợi rồi may xen vào sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, một cách rất mỹ thuật.

4 Họ may cầu vai cho ê-phót, đính hai đầu vào ê-phót.

5 Đai thắt ngoài ê-phót được may cùng một cách và chất liệu như ê-phót, tức là sợi kim tuyến, sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

6 Họ chuẩn bị các viên ngọc mã não để khảm vào khuôn khảm bằng vàng và khắc tên các con trai Y-sơ-ra-ên lên các viên ngọc như cách người ta khắc con dấu.

7 Họ gắn các viên ngọc đó trên cầu vai ê-phót như là những viên ngọc kỷ niệm về con trai Y-sơ-ra-ên, theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

8 Họ cũng làm bảng đeo ngực rất mỹ thuật như công việc của ê-phót, tức là làm bằng kim tuyến, sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía, và đỏ thắm.

9 Bảng đeo ngực có hình vuông và may hai lớp, dài một gang tay, rộng một gang tay.

10 Họ đính lên đó bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất có ngọc mã não, ngọc hồng bích và ngọc lục bửu;

11 hàng thứ nhì có ngọc phỉ túy, ngọc lam bửu và ngọc kim cương;

12 hàng thứ ba có ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã não và ngọc tử tinh;

13 hàng thứ tư có ngọc hoàng bích, ngọc hồng mã não và bích ngọc. Các viên ngọc nầy đều được khảm vào khuôn khảm bằng vàng.

14 Tổng số ngọc đó là mười hai viên, tương ứng với tên các con trai Y-sơ-ra-ên. Mỗi viên ngọc có khắc tên của một trong mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu vậy.

15 Trên bảng đeo ngực, họ làm các sợi dây chuyền bằng vàng ròng xoắn như dây thừng.

16 Họ cũng làm hai cái khuôn khảm và hai cái khoen bằng vàng, rồi gắn hai khoen đó vào hai góc của bảng đeo ngực.

17 Họ xâu hai sợi dây chuyền vàng vào hai khoen ở góc trên của bảng đeo ngực

18 và gắn hai đầu kia của hai sợi dây chuyền vào khuôn khảm, tức là gắn phía trước cầu vai của ê-phót.

19 Sau đó họ làm hai khoen vàng khác và gắn chúng vào hai góc dưới của bảng đeo ngực, phía trong ê-phót.

20 Họ còn làm hai khoen vàng khác nữa và gắn chúng trước phần dưới của cầu vai ê-phót, ngay chỗ giáp mối phía trên đai thắt của ê-phót.

21 Họ dùng một sợi dây màu xanh buộc các khoen của bảng đeo ngực với các khoen ê-phót, như thế bảng đeo ngực dính với đai thắt, không bị rớt khỏi ê-phót như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

22 Họ cũng may áo dài của ê-phót toàn bằng sợi màu xanh.

23 Cổ áo dài nằm chính giữa áo như cổ áo giáp và có viền chung quanh để khỏi bị tưa.

24 Trên lai áo, họ thắt những trái lựu bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm,

25 và làm những cái chuông nhỏ bằng vàng ròng gắn xen kẽ giữa hai trái lựu, vòng theo suốt lai áo;

26 nghĩa là cứ một trái lựu đến một cái chuông rồi một trái lựu, đính vòng quanh lai áo hành lễ, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

27 Họ cũng may cho A-rôn và các con trai người những áo lót bằng vải gai mịn

28 cùng với mũ, khăn chít và quần lót; tất cả đều bằng vải gai mịn.

29 Dây thắt lưng được thêu mỹ thuật bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

30 Họ cũng làm một thẻ như vương hiệu thánh bằng vàng ròng, khắc trên đó những chữ: “THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.” như cách người ta khắc con dấu,

31 rồi buộc thẻ đó bằng một sợi dây màu xanh để giữ chặt trên mũ, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

32 Như vậy, tất cả công việc của Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến, đã được hoàn tất. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm mọi việc đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

33 Họ đem Đền Tạm đến cho Môi-se: lều và các dụng cụ của lều, móc, ván, thanh ngang, trụ và lỗ trụ;

34 tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ, tấm bạt bằng da cá nược, và bức màn che Nơi Chí Thánh;

35 Hòm Chứng Ước có đòn khiêng, và nắp thi ân;

36 bàn và đồ dùng của bàn và bánh cung hiến;

37 chân đèn bằng vàng ròng có các đèn đã được sắp xếp, các đồ dùng của chân đèn và dầu thắp,

38 bàn thờ bằng vàng, dầu xức, hương thơm, tấm màn cho cửa lều;

39 bàn thờ bằng đồng và rá đồng, đòn khiêng, các dụng cụ của bàn thờ, bồn và chân bồn;

40 các tấm rèm của hành lang, trụ, lỗ trụ, màn cửa hành lang, dây, cọc, và tất cả các dụng cụ cho việc tế lễ của Đền Tạm và Lều Hội Kiến;

41 các lễ phục bằng hàng dệt dành cho việc phụng vụ trong Nơi Thánh, bộ áo thánh cho thầy tế lễ A-rôn, và những lễ phục của các con trai người để thi hành chức vụ tế lễ.

42 Dân Y-sơ-ra-ên đã hoàn tất mọi việc đúng như những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

43 Môi-se xem xét tất cả các công việc và thấy họ đã hoàn tất đúng như lời Đức Giê-hô-va truyền dạy. Vậy Môi-se chúc phước cho họ.

40

1 Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:

2 “Vào ngày mồng một tháng giêng, con hãy dựng Đền Tạm, tức Lều Hội Kiến.

3 Hãy đặt Hòm Chứng Ước vào đó rồi lấy màn che lại.

4 Con cũng đem cái bàn vào và sắp đặt ngăn nắp các thứ. Rồi con đem chân đèn ra và đặt đèn lên đó.

5 Cũng hãy đặt bàn thờ bằng vàng dùng cho việc xông hương trước Hòm Chứng Ước, rồi treo màn nơi cửa Đền Tạm.

6 Con cũng đặt bàn thờ dâng tế lễ thiêu trước cửa Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến,

7 và đặt bồn rửa ở khoảng giữa Lều Hội Kiến và bàn thờ rồi đổ nước vào.

8 Con cũng dựng hành lang chung quanh và treo màn ở cửa hành lang.

9 Sau đó, con lấy dầu xức mà xức Đền Tạm và tất cả những gì trong đó. Hãy biệt ra thánh Đền Tạm và các vật dụng trang trí trong Đền Tạm để Đền Tạm trở nên thánh.

10 Con cũng hãy xức dầu bàn thờ dâng tế lễ thiêu và các dụng cụ của bàn thờ, rồi biệt bàn thờ ra thánh, để bàn thờ trở nên rất thánh.

11 Con cũng xức dầu cho bồn cùng chân bồn, và biệt chúng ra thánh.

12 Rồi con dẫn A-rôn và các con trai người đến cửa Lều Hội Kiến và lấy nước tẩy rửa họ.

13 Con hãy mặc lễ phục thánh cho A-rôn, xức dầu và biệt riêng người ra thánh để người thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.

14 Con cũng đưa các con trai A-rôn đến và mặc áo lá,

15 xức dầu cho họ như con đã xức dầu cho cha họ để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta. Sự xức dầu sẽ thừa nhận họ làm chức tế lễ đời đời qua mọi thế hệ.”

16 Môi-se thi hành mọi việc đúng như những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy mình.

17 Vào ngày mồng một tháng giêng năm thứ hai, Đền Tạm đã được dựng lên.

18 Môi-se dựng Đền Tạm. Ông đặt các lỗ trụ, đóng ván, đặt thanh ngang và dựng trụ.

19 Ông căng lều phủ trên Đền Tạm rồi trải tấm bạt lên trên, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

20 Ông cũng lấy Bảng Chứng Ước đặt vào trong hòm, xỏ đòn khiêng, đặt nắp thi ân lên trên

21 rồi đưa Hòm Chứng Ước vào Đền Tạm và buông màn che lại. Hòm Chứng Ước đã được che khuất đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

22 Ông cũng đặt cái bàn trong Lều Hội Kiến, về phía bắc của Đền Tạm, bên ngoài bức màn,

23 rồi sắp xếp bánh lên một cách ngay ngắn trước mặt Đức Giê-hô-va, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

24 Ông cũng đặt chân đèn trong Lều Hội Kiến, đối diện với cái bàn, ở phía nam Đền Tạm

25 và đặt các đèn lên trước mặt Đức Giê-hô-va, đúng như lời Ngài đã truyền dạy Môi-se.

26 Ông cũng đặt bàn thờ bằng vàng trước bức màn trong Lều Hội Kiến

27 và xông hương trên đó đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

28 Ông cũng treo màn nơi cửa Đền Tạm.

29 Ông đặt bàn thờ dâng tế lễ thiêu tại cửa Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến và dâng trên đó tế lễ thiêu và tế lễ chay, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

30 Ông đặt bồn rửa giữa khoảng Lều Hội Kiến và bàn thờ rồi đổ nước vào để tẩy rửa.

31 Môi-se, A-rôn và các con trai của A-rôn rửa tay chân tại đó.

32 Khi vào Lều Hội Kiến cũng như lúc đến gần bàn thờ, họ đều tẩy rửa đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.

33 Chung quanh Đền Tạm và bàn thờ, ông đều dựng hành lang và treo màn ở cửa hành lang. Như thế, Môi-se đã hoàn thành mọi công việc.

34 Rồi có một đám mây bao phủ Lều Hội Kiến và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm.

35 Môi-se không thể vào Lều Hội Kiến được vì đám mây bao phủ trên đó; vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm.

36 Trong mỗi chặng đường của cuộc hành trình, mỗi khi đám mây từ Đền Tạm được cất lên thì con dân Y-sơ-ra-ên ra đi.

37 Nhưng nếu đám mây không cất lên thì họ không ra đi cho đến ngày nào đám mây được cất lên.

38 Vì trong mỗi chặng đường của cuộc hành trình, đám mây của Đức Giê-hô-va ngự trên Đền Tạm vào ban ngày và có lửa trong đám mây vào ban đêm trước mặt cả nhà Y-sơ-ra-ên.