1

1 Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất.

2 Đất không có hình dạng và trống không, bóng tối bao trùm mặt vực, và Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.

3 Đức Chúa Trời phán: “Phải có ánh sáng,” thì có ánh sáng.

4 Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt đẹp. Đức Chúa Trời phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối.

5 Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là “ngày,” và bóng tối là “đêm.” Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ nhất.

6 Đức Chúa Trời lại phán: “Phải có một cái vòm giữa khối nước để phân cách nước với nước.”

7 Đức Chúa Trời làm nên vòm trời và phân cách nước ở dưới vòm với nước ở trên vòm, thì có như vậy.

8 Đức Chúa Trời gọi cái vòm là “bầu trời.” Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ hai.

9 Đức Chúa Trời phán: “Nước dưới bầu trời phải tụ lại một nơi và phải có chỗ khô cạn xuất hiện,” thì có như vậy.

10 Đức Chúa Trời gọi chỗ khô cạn là “đất,” còn khối nước tụ lại là “biển.” Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

11 Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh thảo mộc: cỏ kết hạt giống, cây trên đất tùy theo loại mà ra trái và kết hạt,” thì có như vậy.

12 Đất sinh cây cỏ: cỏ kết hạt tùy theo loại, cây ra trái và trong trái có hạt, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

13 Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ ba.

14 Đức Chúa Trời phán: “Phải có các vì sáng trên vòm trời để phân biệt ngày với đêm, để làm dấu hiệu xác định các mùa, ngày và năm;

15 và để làm các vì sáng trên vòm trời soi sáng quả đất,” thì có như vậy.

16 Đức Chúa Trời tạo nên hai vì sáng lớn: vì sáng lớn hơn để cai quản ban ngày, vì sáng nhỏ hơn để cai quản ban đêm. Ngài cũng tạo nên các ngôi sao.

17 Đức Chúa Trời đặt các vì sáng đó trên vòm trời để soi sáng quả đất,

18 cai quản ban ngày và ban đêm, và phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

19 Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ tư.

20 Đức Chúa Trời phán: “Nước phải đầy dẫy các loài thủy sinh vật, và phải có các loài chim bay lượn trên mặt đất dưới vòm trời.”

21 Đức Chúa Trời sáng tạo các loài cá khổng lồ, mọi loài động vật thủy sinh, tùy theo loại mà sinh sôi nẩy nở trong nước, và mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

22 Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó và phán: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.”

23 Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ năm.

24 Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh các động vật tùy theo loại: gia súc, các loài bò sát và thú rừng tùy theo loại,” thì có như vậy.

25 Đức Chúa Trời tạo nên các loài thú rừng tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, và mọi loài bò sát trên đất tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

26 Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.”

27 Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ.

28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời và mọi loài bò sát trên mặt đất.”

29 Đức Chúa Trời lại phán: “Nầy, Ta sẽ ban cho các con mọi thứ cỏ kết hạt mọc khắp mặt đất, cùng mọi loài cây ra trái có hạt. Đó sẽ là thức ăn cho các con.

30 Còn các loài thú rừng, loài chim trên trời, loài vật bò sát trên mặt đất, và bất cứ loài nào có sự sống thì Ta ban mọi thứ cỏ xanh dùng làm thức ăn,” thì có như vậy.

31 Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã tạo dựng thật rất tốt đẹp. Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ sáu.

2

1 Như vậy, trời đất và muôn vật đã được sáng tạo xong.

2 Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ bảy Ngài nghỉ. Ngài đã làm xong mọi công việc.

3 Ngài ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó, vì vào ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc sáng tạo.

4 Đó là gốc tích sáng tạo trời và đất. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm nên trời và đất,

5 thì trên đất chưa có bụi cây nào mọc ngoài đồng và cũng chưa có ngọn cỏ nào mọc trong ruộng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa cho mưa xuống đất, và cũng chưa có người cày xới đất đai.

6 Nhưng có hơi nước từ dưới đất bốc lên, tưới khắp mặt đất.

7 Bấy giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một sinh linh.

8 Sau đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập một khu vườn tại Ê-đen, ở hướng đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.

9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có cây sự sống và cây biết điều thiện, điều ác.

10 Một dòng sông từ Ê-đen chảy ra để tưới vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh.

11 Nhánh thứ nhất là Bi-sôn, nhánh nầy chảy quanh vùng đất Ha-vi-la, là nơi có vàng.

12 Vàng ở vùng nầy rất tốt; ở đó còn có nhũ hương và bích ngọc.

13 Nhánh sông thứ nhì tên là Ghi-hôn, chảy quanh vùng đất Cút.

14 Nhánh sông thứ ba tên là Ti-gơ-rít, chảy về phía đông lãnh thổ A-si-ri. Còn nhánh sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.

15 Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn.

16 Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn,

17 nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.”

18 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ tạo nên một người giúp đỡ thích hợp với nó.”

19 Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên mọi loài thú đồng và chim trời, rồi đưa đến trước mặt con người để xem con người đặt tên chúng là gì, và bất cứ tên nào con người đặt cho mỗi sinh vật đều thành tên riêng của nó.

20 A-đam đặt tên cho mọi loài gia súc và chim trời cùng mọi loài thú rừng; nhưng phần A-đam thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ thích hợp với mình.

21 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến cho A-đam ngủ mê, và lấy đi một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào.

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng chiếc xương sườn đã lấy từ A-đam dựng nên một người nữ và đưa đến cho A-đam.

23 A-đam nói: “Bây giờ mới có người nầy, Là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là người nữ, Vì từ người nam mà có.”

24 Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt.

25 A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng nhưng không thấy ngượng ngùng.

3

1 Trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã tạo nên, rắn là loài quỷ quyệt hơn cả. Rắn nói với người nữ: “Có thật Đức Chúa Trời đã dặn các người không được ăn trái các cây trong vườn sao?”

2 Người nữ nói với con rắn: “Chúng tôi được ăn trái của các cây trong vườn,

3 nhưng về trái của cây trồng giữa vườn, Đức Chúa Trời đã phán: ‘Các con không được ăn, cũng đừng đụng chạm đến trái cây ấy, kẻo các con sẽ chết’”.

4 Con rắn nói với người nữ: “Các người chắc chắn không chết đâu!

5 Vì Đức Chúa Trời biết rằng khi nào các người ăn trái cây đó thì mắt mở ra, và các người sẽ giống Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.”

6 Khi người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quý vì làm cho mình khôn ngoan, thì hái và ăn, rồi trao cho chồng đang đứng bên cạnh; chồng cũng ăn nữa.

7 Bấy giờ mắt cả hai người đều mở ra và nhận biết mình trần truồng. Họ kết lá cây vả làm khố che thân.

8 Khi nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi trong vườn lúc chiều mát, A-đam và vợ ẩn mình giữa các lùm cây trong vườn để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam và hỏi: “Con ở đâu?”

10 A-đam thưa: “Nghe tiếng Chúa trong vườn, con sợ nên đi trốn, vì con trần truồng.”

11 Đức Chúa Trời hỏi: “Ai đã chỉ cho con biết mình trần truồng? Có phải con đã ăn trái cây mà Ta ra lệnh cấm ăn đó không?”

12 A-đam thưa: “Người nữ mà Chúa đặt bên con đã cho con trái cây đó và con đã ăn rồi.”

13 Giê-hô-va Đức Chúa Trời hỏi người nữ: “Con đã làm gì vậy?” Người nữ thưa: “Con rắn đã lừa dối con và con đã ăn rồi.”

14 Giê-hô-va Đức Chúa Trời quở trách con rắn: “Vì mầy đã làm điều đó Nên trong tất cả các loài gia súc và thú đồng, Chỉ có mầy bị nguyền rủa; Mầy sẽ bò bằng bụng Và ăn bụi đất trọn đời.

15 Ta sẽ làm cho mầy và người nữ, Dòng dõi mầy và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, Còn mầy sẽ cắn gót chân người.”

16 Ngài phán với người nữ: “Ta sẽ gia tăng nhiều nỗi nhọc nhằn khi con mang thai, Và thêm nhiều đau đớn mỗi khi con sinh đẻ. Tuy nhiên, con vẫn ước muốn sống bên chồng, Và chồng sẽ cai trị con.”

17 Ngài phán với A-đam: “Vì con đã nghe theo lời vợ, Ăn trái cây mà Ta đã ra lệnh cấm ăn, Nên đất đai sẽ vì con mà bị nguyền rủa; Con phải khổ nhọc suốt đời mới có miếng ăn từ đất sinh ra.

18 Đất sẽ sinh gai góc và cây tật lê, Và con sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng ruộng.

19 Con phải làm đổ mồ hôi trán Mới có miếng ăn Cho đến ngày con trở về đất, Là nơi con từ đó mà ra. Vì con là cát bụi, Con sẽ trở về với cát bụi.”

20 A-đam gọi vợ là Ê-va vì bà là mẹ của cả loài người.

21 Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành chiếc áo dài cho vợ chồng A-đam rồi mặc vào cho họ.

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời nghĩ: “Nầy, loài người đã trở nên một bậc như Chúng Ta, biết phân biệt điều thiện và điều ác. Vậy bây giờ hãy coi chừng, kẻo loài người đưa tay hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng.”

23 Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất đai, là nơi con người từ đó mà ra.

24 Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn. Tại phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các chê-ru-bim với thanh gươm sáng chói, xoay mọi hướng, để canh giữ con đường đi đến cây sự sống.

4

1 A-đam ăn ở với Ê-va, vợ mình. Bà thụ thai và sinh Ca-in. Bà nói: “Nhờ Đức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi đã sinh được một người.”

2 Bà lại sinh A-bên, em Ca-in. A-bên chăn chiên, còn Ca-in làm ruộng.

3 Sau một thời gian, Ca-in dùng thổ sản làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.

4 Còn A-bên dâng phần ngon nhất của chiên đầu lòng trong bầy mình. Đức Giê-hô-va đoái đến A-bên và lễ vật của ông,

5 nhưng Ngài không đoái đến Ca-in và lễ vật của ông. Vì thế, Ca-in giận lắm và sa sầm nét mặt.

6 Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “Tại sao con giận? Sao con sa sầm nét mặt?

7 Nếu con làm điều tốt thì lẽ nào con không được chấp nhận? Còn nếu con không làm điều tốt thì tội lỗi rình rập trước cửa, nó thèm con lắm; nhưng con phải quản trị nó.”

8 Ca-in nói chuyện với A-bên, em mình. Khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến A-bên và giết đi.

9 Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “A-bên, em con ở đâu?” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con sao?”

10 Đức Giê-hô-va hỏi: “Con đã làm điều gì vậy? Tiếng của máu em con từ dưới đất đã kêu thấu đến Ta.

11 Bây giờ, con bị nguyền rủa phải rời khỏi mảnh đất nầy, là đất đã hả miệng hút máu em con đổ ra bởi tay con.

12 Khi con canh tác, đất sẽ chẳng sinh hoa lợi cho con nữa. Con sẽ lẩn trốn và phiêu bạt trên đất.”

13 Ca-in thưa với Đức Giê-hô-va: “Hình phạt nầy quá sức chịu đựng của con.

14 Nầy, ngày nay Chúa đuổi con ra khỏi đất nầy, con sẽ bị che khuất khỏi mặt Chúa và lẩn trốn, phiêu bạt trên đất; và rồi, có ai đó gặp con, họ sẽ giết con.”

15 Đức Giê-hô-va phán: “Không đâu! Nhưng nếu ai giết Ca-in, người ấy sẽ bị báo thù gấp bảy lần.” Đức Giê-hô-va đánh dấu trên người Ca-in để ai gặp Ca-in thì không giết.

16 Ca-in lui ra khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va và ở trong đất Nốt, về phía đông của Ê-đen.

17 Ca-in ăn ở với vợ, nàng thụ thai và sinh Hê-nóc. Ca-in xây một cái thành và đặt tên là Hê-nóc, theo tên con trai mình.

18 Hê-nóc sinh Y-rát; Y-rát sinh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sinh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sinh Lê-méc.

19 Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la.

20 A-đa sinh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của các dân sống trong lều trại và nuôi gia súc.

21 Em của Gia-banh là Giu-banh, tổ phụ của những người chơi thụ cầm và thổi sáo.

22 Còn Si-la sinh Tu-banh Ca-in, là người rèn đủ các loại dụng cụ bén bằng đồng và sắt. Em gái của Tu-banh Ca-in là Na-a-ma.

23 Lê-méc nói với hai vợ mình: “Hỡi A-đa và Si-la! Hãy nghe tiếng ta; Nầy, các người vợ Lê-méc, hãy lắng tai nghe ta nói: Ta đã giết một người vì gây thương tích cho ta, Và một đứa trẻ vì đánh ta sưng bầm.

24 Nếu Ca-in được báo thù bảy lần, Thì Lê-méc sẽ được báo oán bảy mươi bảy lần.”

25 A-đam lại ăn ở với vợ, bà sinh được một trai, đặt tên là Sết, vì bà nói: “Đức Chúa Trời đã cho tôi một đứa con khác thay cho A-bên đã bị Ca-in giết.”

26 Sết cũng sinh được một trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đó, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.

5

1 Đây là gia phả của A-đam. Khi Đức Chúa Trời sáng tạo loài người, Ngài tạo nên loài người giống như Đức Chúa Trời.

2 Ngài sáng tạo người nam và người nữ, ban phước cho họ, và đặt tên là “người” khi Ngài sáng tạo họ.

3 A-đam được một trăm ba mươi tuổi thì sinh một con trai, hình dạng giống như mình và đặt tên là Sết.

4 Sau khi sinh Sết, A-đam còn sống được tám trăm năm, sinh con trai con gái.

5 Vậy A-đam sống được chín trăm ba mươi năm, rồi qua đời.

6 Sết được một trăm lẻ năm tuổi thì sinh Ê-nót.

7 Sau khi sinh Ê-nót, Sết còn sống được tám trăm lẻ bảy năm, sinh con trai con gái.

8 Vậy Sết sống được chín trăm mười hai năm, rồi qua đời.

9 Ê-nót được chín mươi tuổi thì sinh Kê-nan.

10 Sau khi sinh Kê-nan, Ê-nót còn sống được tám trăm mười lăm năm, sinh con trai con gái.

11 Vậy Ê-nót sống được chín trăm lẻ năm năm, rồi qua đời.

12 Kê-nan được bảy mươi tuổi thì sinh Ma-ha-la-le.

13 Sau khi sinh Ma-ha-la-le, Kê-nan còn sống được tám trăm bốn mươi năm, sinh con trai con gái.

14 Vậy Kê-nan sống được chín trăm mười năm, rồi qua đời.

15 Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi thì sinh Giê-rệt.

16 Sau khi sinh Giê-rệt, Ma-ha-la-le còn sống được tám trăm ba mươi năm, sinh con trai con gái.

17 Vậy Ma-ha-la-le sống được tám trăm chín mươi lăm năm, rồi qua đời.

18 Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi thì sinh Hê-nóc.

19 Sau khi sinh Hê-nóc, Giê-rệt còn sống được tám trăm năm, sinh con trai con gái.

20 Vậy Giê-rệt sống được chín trăm sáu mươi hai năm, rồi qua đời.

21 Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi thì sinh Mê-tu-sê-la.

22 Sau khi sinh Mê-tu-sê-la, Hê-nóc đồng hành với Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sinh con trai con gái.

23 Vậy Hê-nóc sống ba trăm sáu mươi lăm năm.

24 Hê-nóc cùng đi với Đức Chúa Trời, rồi biến mất, vì Đức Chúa Trời đón ông đi.

25 Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi thì sinh Lê-méc.

26 Sau khi sinh Lê-méc, Mê-tu-sê-la còn sống được bảy trăm tám mươi hai năm, sinh con trai con gái.

27 Vậy Mê-tu-sê-la sống được chín trăm sáu mươi chín năm, rồi qua đời.

28 Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi thì sinh một trai,

29 đặt tên là Nô-ê, và nói: “Trong công việc của chúng ta, trong nỗi lao khổ nhọc nhằn của tay chúng ta, đứa con nầy sẽ đem lại cho chúng ta niềm an ủi xuất phát từ đất mà Đức Giê-hô-va đã nguyền rủa.”

30 Sau khi sinh Nô-ê, Lê-méc còn sống được năm trăm chín mươi lăm năm, sinh con trai con gái.

31 Vậy Lê-méc sống được bảy trăm bảy mươi bảy năm, rồi qua đời.

32 Khi Nô-ê được năm trăm tuổi thì sinh Sem, Cham và Gia-phết.

6

1 Loài người bắt đầu gia tăng trên mặt đất và sinh ra nhiều con gái.

2 Các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người xinh đẹp thì cưới những người nào họ chọn để làm vợ.

3 Đức Giê-hô-va phán: “Thần Ta sẽ không ngự trị mãi trong loài người vì họ chỉ là xác phàm, đời người sẽ chỉ còn một trăm hai mươi năm mà thôi.”

4 Vào thời bấy giờ và sau đó có những người khổng lồ xuất hiện trên mặt đất, vì con trai Đức Chúa Trời ăn ở với con gái loài người rồi sinh con cái. Đó là những anh hùng thuở xưa, là những người danh tiếng.

5 Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người lan tràn trên mặt đất và chúng chỉ luôn toan tính những mưu đồ xấu xa,

6 thì Ngài lấy làm tiếc vì đã tạo dựng loài người trên mặt đất, và đau buồn trong lòng.

7 Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ xóa sạch khỏi mặt đất loài người mà Ta đã tạo dựng, từ loài người cho đến loài súc vật, loài bò sát, loài chim trời, vì Ta lấy làm tiếc đã dựng nên chúng.”

8 Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va.

9 Đây là dòng dõi của Nô-ê. Trong thế hệ mình, Nô-ê là một người công chính và trọn vẹn; ông cùng đi với Đức Chúa Trời.

10 Nô-ê sinh ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết.

11 Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy điều hung bạo.

12 Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy chúng bại hoại, vì mọi người trên đất đều theo lối sống băng hoại.

13 Đức Chúa Trời phán với Nô-ê: “Ta đã quyết định tận diệt mọi người, vì do chúng mà thế gian đầy dẫy điều hung bạo. Nầy, Ta sẽ tiêu diệt chúng khỏi mặt đất.

14 Con hãy đóng một chiếc tàu bằng gỗ gô-phe, chia thành từng phòng và trét nhựa chai cả trong lẫn ngoài.

15 Con hãy đóng tàu như thế nầy: Chiều dài một trăm năm mươi mét, chiều rộng hai mươi lăm mét, chiều cao mười lăm mét.

16 Con cũng làm một mái che cho tàu, mái lợp cách tàu nửa mét, và trổ một cửa bên hông tàu. Con sẽ làm tầng dưới, tầng giữa và tầng trên.

17 Còn Ta, Ta sẽ dẫn nước lụt đến trên đất để tiêu diệt tất cả các loài xác thịt có hơi thở ở dưới trời. Mọi vật trên đất đều sẽ chết hết.

18 Nhưng Ta sẽ lập giao ước với con, rồi con sẽ vào tàu cùng với vợ, các con trai và các con dâu của mình.

19 Về các loài sinh vật, con hãy đem vào tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, để giữ cho chúng cùng sống với con.

20 Chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, loài bò sát tùy theo loại, mỗi loài một cặp, đều sẽ đến với con để con gìn giữ sự sống cho chúng.

21 Ngoài ra, con cũng đem theo các thứ thức ăn dự trữ để làm lương thực cho con và các loài đó.”

22 Nô ê làm mọi điều đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán.

7

1 Đức Giê-hô-va phán với Nô-ê: “Con và cả gia đình con hãy vào tàu, vì trong thế hệ nầy Ta thấy con là người công chính duy nhất trước mặt Ta.

2 Con hãy đem theo các loài thú vật thanh sạch, mỗi loài bảy cặp, đực và cái; còn loài không thanh sạch thì mỗi loài một cặp, đực và cái.

3 Con cũng đem theo các loài chim trời, mỗi thứ bảy cặp, trống và mái, để giữ giống trên khắp mặt đất.

4 Vì còn bảy ngày nữa, Ta sẽ đổ mưa xuống đất suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm, và Ta sẽ quét sạch khỏi mặt đất tất cả các sinh vật mà Ta đã dựng nên.”

5 Nô-ê làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền phán.

6 Nô-ê được sáu trăm tuổi khi trận lụt xảy ra trên đất.

7 Nô-ê cùng với vợ, các con trai và các con dâu đều vào tàu để tránh nước lụt.

8 Các loài vật thanh sạch và không thanh sạch, loài chim, loài bò sát trên đất,

9 từng cặp, đực và cái, đều cùng vào tàu với Nô-ê, đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán.

10 Bảy ngày sau, nước lụt tràn đến trên đất.

11 Đúng vào ngày mười bảy, tháng hai, năm thứ sáu trăm của đời Nô-ê, các nguồn của vực lớn nổ tung, và các cửa đập trên trời mở toang.

12 Mưa trút xuống đất suốt bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.

13 Cũng chính trong ngày đó, Nô-ê và vợ, ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết, và ba con dâu cùng vào tàu.

14 Họ và các loài thú rừng tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, loài bò sát trên đất tùy theo loại, chim tùy theo loại, tức là tất cả loài có cánh,

15 đều từng cặp theo Nô-ê vào tàu. Mọi loài xác thịt có hơi thở,

16 một đực một cái, một trống một mái, tiến vào tàu, đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán với Nô-ê. Rồi Đức Giê-hô-va đóng cửa tàu lại.

17 Nước lụt phủ mặt đất suốt bốn mươi ngày. Nước dâng cao nâng chiếc tàu lên khỏi mặt đất.

18 Nước cứ lớn, dâng rất cao trên mặt đất và chiếc tàu nổi trên mặt nước.

19 Nước càng dâng cao trên đất, cao đến nỗi tất cả những ngọn núi cao dưới bầu trời đều bị ngập.

20 Nước phủ cao hơn các đỉnh núi đến bảy mét rưỡi.

21 Tất cả các loài xác thịt sống động trên mặt đất đều bị tiêu diệt, từ chim chóc, gia súc, thú rừng, loài bò lúc nhúc trên mặt đất, cho đến loài người.

22 Tất cả các loài có hơi thở trong lỗ mũi, tức là các loài sống trên đất liền, đều chết hết.

23 Ngài đã diệt sạch mọi sinh vật trên mặt đất, từ loài người cho đến loài thú, loài bò sát, và loài chim trời. Tất cả đều bị quét sạch khỏi đất, chỉ còn lại Nô-ê và các loài ở với ông trong tàu mà thôi.

24 Nước bao phủ mặt đất suốt một trăm năm mươi ngày.

8

1 Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê cùng các loài thú rừng và gia súc ở trong tàu với ông, nên Ngài khiến một trận gió thổi ngang qua mặt đất và nước rút xuống.

2 Các nguồn của vực lớn và các cửa đập trên trời đóng lại, mưa từ trời không đổ xuống nữa.

3 Nước rút dần khỏi mặt đất. Sau một trăm năm mươi ngày, nước mới xuống thấp.

4 Vào ngày mười bảy, tháng bảy, chiếc tàu tấp trên núi A-ra-rát.

5 Nước cứ tiếp tục hạ dần cho đến tháng mười. Ngày mồng một tháng mười, các đỉnh núi mới lộ ra.

6 Sau bốn mươi ngày Nô-ê mở cửa sổ mà ông đã trổ trên tàu,

7 và thả con quạ ra. Quạ lượn đi lượn lại cho đến khi mặt đất khô hẳn.

8 Ông cũng thả con bồ câu ra để xem nước đã rút bớt trên mặt đất chưa.

9 Nhưng bồ câu không tìm được chỗ đáp nên bay trở về tàu với ông, vì nước còn phủ khắp mặt đất. Nô-ê đưa tay bắt lấy bồ câu đem vào tàu với mình.

10 Ông đợi thêm bảy ngày, rồi lại thả bồ câu ra khỏi tàu.

11 Đến chiều, bồ câu trở về với ông, và kìa, mỏ nó tha một lá ô-liu tươi! Nô-ê hiểu rằng nước đã rút bớt trên mặt đất.

12 Ông lại đợi thêm bảy ngày nữa, rồi thả con bồ câu ra; và lần nầy bồ câu không trở về với ông nữa.

13 Ngày mồng một, tháng giêng, năm thứ sáu trăm lẻ một, nước đã rút cạn trên mặt đất. Nô-ê giở mui tàu, và nhìn thấy mặt đất đã ráo.

14 Ngày hai mươi bảy tháng hai, đất đã hoàn toàn khô ráo.

15 Đức Chúa Trời phán với Nô-ê:

16 “Con hãy ra khỏi tàu cùng với vợ, các con trai và các con dâu mình.

17 Hãy đem ra khỏi tàu các sinh vật đã ở với con, là những loài xác thịt như chim, các loài thú, các loài bò sát trên đất, để chúng sinh sôi nẩy nở và gia tăng gấp bội trên đất.”

18 Vậy, Nô-ê cùng với vợ, các con trai và các con dâu ra khỏi tàu.

19 Tất cả các loài thú rừng, loài bò sát trên đất, loài chim cùng mọi vật sống động trên đất đều ra khỏi tàu, loài nào theo loài nấy.

20 Bấy giờ Nô-ê lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va. Ông bắt các loài thú thanh sạch và các loài chim thanh sạch làm tế lễ thiêu dâng lên bàn thờ.

21 Đức Giê-hô-va vui hưởng mùi thơm và tự nhủ: “Ta sẽ chẳng bao giờ vì loài người mà nguyền rủa đất nữa, dù tâm địa của loài người vẫn xấu xa từ lúc còn niên thiếu. Ta sẽ không bao giờ tiêu diệt các loài sinh vật như Ta đã làm nữa.

22 Ngày nào quả đất còn, Thì mùa gieo giống và gặt hái, mùa lạnh và nóng, Mùa hạ và mùa đông, ngày và đêm, Sẽ chẳng bao giờ chấm dứt.”

9

1 Đức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê và các con trai ông. Ngài phán với họ: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội, và làm cho đầy dẫy đất.

2 Tất cả các loài thú trên đất, các loài chim trời, các loài bò sát trên đất, và các loài cá biển, đều sẽ kinh sợ các con và bị trao vào tay các con.

3 Bất cứ loài vật nào di chuyển và có sự sống đều dùng làm thức ăn cho các con. Ta ban cho các con mọi vật ấy như Ta đã ban rau cỏ xanh cho các con.

4 Nhưng các con không được ăn thịt còn máu, tức là còn sự sống.

5 Chắc chắn Ta sẽ đòi lại máu của sinh mạng các con. Ta sẽ đòi lại máu đó từ mọi loài thú vật và Ta sẽ đòi lại sinh mạng con người từ tay đồng loại nó, tức là từ tay anh em nó.

6 Kẻ nào làm đổ máu người, Sẽ bị người khác làm đổ máu lại; Vì Đức Chúa Trời tạo nên loài người Theo hình ảnh của Ngài.

7 Vậy, các con hãy sinh sản, gia tăng gấp bội, làm cho lan tràn và đầy dẫy trên đất.”

8 Đức Chúa Trời phán với Nô-ê và các con trai đang ở với ông rằng:

9 “Nầy, Ta lập giao ước với các con và dòng dõi các con,

10 và với tất cả sinh vật đang ở với các con như loài chim, gia súc, thú rừng, tức là tất cả các loài ở trong tàu ra, cũng như với mọi loài thú sống trên đất sau nầy.

11 Vậy Ta lập giao ước với các con: Mọi loài xác thịt sẽ không bị nước lụt tiêu diệt nữa, và cũng không có trận lụt nào để hủy phá quả đất nữa.”

12 Đức Chúa Trời phán: “Đây là dấu hiệu về giao ước đời đời mà Ta lập giữa Ta với các con, với mọi loài sinh vật đang ở với các con, trải qua các thế hệ.

13 Ta đặt cầu vồng của Ta trên tầng mây để làm dấu hiệu về giao ước giữa Ta và quả đất.

14 Mỗi khi Ta giăng mây trên bầu trời và cầu vồng xuất hiện trên tầng mây,

15 Ta sẽ nhớ lại giao ước mà Ta đã lập với các con, cũng như với mọi sinh vật, mọi loài xác thịt, thì nước sẽ chẳng bao giờ trở thành trận lụt để hủy diệt mọi loài xác thịt nữa.

16 Khi cầu vồng xuất hiện trên tầng mây, Ta nhìn xem nó để nhớ lại giao ước đời đời giữa Đức Chúa Trời và mọi sinh vật, mọi loài xác thịt trên đất.”

17 Đức Chúa Trời lại phán với Nô-ê: “Đó là dấu hiệu về giao ước mà Ta đã lập giữa Ta và mọi loài xác thịt trên đất.”

18 Các con trai của Nô-ê ở trong tàu ra là Sem, Cham và Gia-phết. Cham chính là cha của Ca-na-an.

19 Đó là ba con trai của Nô-ê, và từ họ mà có loài người phân bố khắp mặt đất.

20 Nô-ê làm nghề nông. Ông là người đầu tiên trồng nho.

21 Ông uống rượu say mèm, rồi cởi áo quần nằm giữa trại mình.

22 Cham, là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha thì ra ngoài thuật lại cho hai anh mình.

23 Sem và Gia-phết lấy áo choàng, vắt trên vai, rồi đi thụt lùi đến đắp lại cho cha. Họ quay mặt đi chỗ khác nên hoàn toàn không nhìn thấy sự trần truồng của cha mình.

24 Khi Nô-ê tỉnh rượu, biết được việc người con út đã làm cho mình,

25 thì nói: “Ca-na-an đáng nguyền rủa! Nó sẽ làm nô lệ thấp hèn nhất cho anh em nó.”

26 Ông còn nói: “Chúc tạ Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem; Ca-na-an phải làm nô lệ cho Sem!

27 Cầu xin Đức Chúa Trời mở rộng bờ cõi Gia-phết, Và cho nó sống trong trại của Sem; Còn Ca-na-an phải làm nô lệ cho Gia-phết.”

28 Sau trận lụt, Nô-ê còn sống được ba trăm năm mươi năm nữa.

29 Nô-ê hưởng thọ chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.

10

1 Sau trận lụt, các con trai Nô-ê là Sem, Cham và Gia-phết sinh con cái. Đây là dòng dõi của họ:

2 Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra.

3 Con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma.

4 Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-tim và Rô-đa-nim.

5 Từ họ mà có các dân tộc lan đến các đảo; mỗi dân tộc tùy theo ngôn ngữ, gia tộc riêng, mà sống trên đất nước mình.

6 Con trai của Cham là Cút, Ai Cập, Phút và Ca-na-an.

7 Con trai của Cút là Xê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma là Sê-ba và Đê-đan.

8 Cút sinh Nim-rốt. Nim-rốt là anh hùng đầu tiên trên mặt đất.

9 Ông là một thợ săn dũng mãnh trước mặt Đức Giê-hô-va; vì thế mới có câu tục ngữ: “Giống như Nim-rốt, một thợ săn dũng mãnh trước mặt Đức Giê-hô-va!”

10 Khởi đầu vương quốc của ông gồm Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne trong đất Si-nê-a.

11 Từ vùng đất đó, ông tiến vào A-si-ri, và xây dựng thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách,

12 và Rê-sen. Rê-sen nằm giữa thành Ni-ni-ve và thành lớn Ca-lách.

13 Ai Cập là tổ tiên dân Lu-đim, A-na-mim, Lê-ha-bim, Náp-tu-him,

14 Phát-ru-sim, Cách-lu-him (là tổ tiên của dân Phi-li-tin), và Cáp-tô-rim.

15 Ca-na-an sinh Si-đôn, là trưởng nam, và Hếch.

16 Ca-na-an là tổ tiên của các dân Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-rê-ga-sít,

17 Hê-vít, A-rê-kít, Si-nít,

18 A-va-đít, Xê-ma-rít, Ha-ma-tít. Sau đó, các gia tộc Ca-na-an phân tán khắp nơi.

19 Còn lãnh thổ Ca-na-an mở rộng từ Si-đôn, theo hướng Ghê-ra thì đến tận Ga-xa; theo hướng Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im thì đến tận Lê-sa.

20 Đó là con cháu của Cham, phân bố theo gia tộc, ngôn ngữ, đất đai và dân tộc của họ.

21 Sem, anh cả của Gia-phết, là tổ phụ của dòng dõi Hê-be, cũng có các con trai.

22 Con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-pác-sát, Lút và A-ram.

23 Con trai của A-ram là Út-xơ, Hu-lơ, Ghê-te và Mách.

24 Còn A-pác-sát sinh Sê-lách; Sê-lách sinh Hê-be,

25 Hê-be sinh được hai con trai: người anh tên là Pê-léc, vì vào thời của ông các dân trên đất phân tán ra; người em tên là Giốc-tan.

26 Giốc-tan sinh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết, Giê-rách,

27 Ha-đô-ram, Út-xơ, Điếc-la,

28 Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,

29 Ô-phia, Ha-vi-la và Giô-báp. Tất cả những người đó đều là con trai của Giốc-tan.

30 Lãnh thổ của họ từ Mê-sa mở rộng về hướng Sê-pha, là vùng đồi núi phía đông.

31 Đó là con cháu của Sem, phân bố theo gia tộc, ngôn ngữ, đất đai và dân tộc của họ.

32 Trên đây là các gia tộc của ba con trai Nô-ê, sắp xếp theo phổ hệ, dân tộc của họ. Từ nơi họ mà các dân tộc được phân bố khắp trên mặt đất sau trận lụt.

11

1 Bấy giờ cả thế giới đều có cùng một ngôn ngữ và dùng chung các ngôn từ.

2 Từ phương Đông, họ ra đi và gặp một đồng bằng trong đất Si-nê-a và định cư tại đó.

3 Họ nói với nhau: “Nào, chúng ta hãy làm gạch và nung trong lửa.” Thời đó, người ta dùng gạch thay cho đá, và nhựa chai thế cho hồ.

4 Họ còn nói: “Nào, chúng ta hãy xây cho mình một thành và dựng một tháp có đỉnh cao đến tận trời để chúng ta được nổi danh và không bị tản lạc khắp trên mặt đất.”

5 Đức Giê-hô-va ngự xuống để xem thành và tháp mà con cái loài người đang xây dựng.

6 Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, chúng cùng một dân tộc, chung một ngôn ngữ. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì về sau sẽ không có việc gì chúng đã hoạch định mà không làm được.

7 Thôi! Chúng Ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng, để chúng không hiểu được tiếng nói của nhau.”

8 Rồi từ nơi đó, Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ ngưng công việc xây cất thành.

9 Bởi vậy, chỗ đó được gọi là Ba-bên, vì tại đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế giới, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp mặt đất.

10 Đây là dòng dõi của Sem. Hai năm sau trận lụt, Sem được một trăm tuổi, sinh A-bác-sát.

11 Sau khi sinh A-bác-sát, Sem còn sống được năm trăm năm, sinh thêm con trai con gái.

12 A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sinh Sê-lách.

13 Sau khi sinh Sê-lách, A-bác-sát còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh con trai con gái.

14 Sê-lách được ba mươi tuổi, sinh Hê-be.

15 Sau khi sinh Hê-be, Sê-lách còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh thêm con trai con gái.

16 Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sinh Pê-léc.

17 Sau khi sinh Pê-léc, Hê-be còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sinh thêm con trai con gái.

18 Pê-léc được ba mươi tuổi, sinh Rê-hu.

19 Sau khi sinh Rê-hu, Pê-léc còn sống được hai trăm lẻ chín năm, sinh thêm con trai con gái.

20 Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sinh Sê-rúc.

21 Sau khi sinh Sê-rúc, Rê-hu còn sống được hai trăm lẻ bảy năm, sinh thêm con trai con gái.

22 Sê-rúc được ba mươi tuổi, sinh Na-cô.

23 Sau khi sinh Na-cô, Sê-rúc còn sống được hai trăm năm, sinh thêm con trai con gái.

24 Na-cô được hai mươi chín tuổi, sinh Tha-rê.

25 Sau khi sinh Tha-rê, Na-cô còn sống được một trăm mười chín năm, sinh thêm con trai con gái.

26 Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.

27 Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sinh Lót.

28 Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, khi cha của ông là Tha-rê còn sống.

29 Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca. Minh-ca và Dích-ca là con gái của Ha-ran.

30 Sa-rai hiếm muộn, không có con.

31 Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, cùng ra khỏi U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, hướng đến Ca-na-an. Nhưng khi đến Cha-ran thì họ định cư tại đó.

32 Tha-rê hưởng thọ được hai trăm lẻ năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

12

1 Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Hãy ra khỏi quê hương, bà con thân tộc và nhà cha của con để đi đến vùng đất Ta sẽ chỉ cho con.

2 Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho con, Làm rạng rỡ danh con, Và con sẽ thành một nguồn phước.

3 Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước con, Nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa con; Mọi dân trên đất Sẽ nhờ con mà được phước.”

4 Áp-ram ra đi theo lời Đức Giê-hô-va đã phán bảo; Lót cùng đi với ông. Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi rời Cha-ran.

5 Áp-ram đưa Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, tất cả tài sản dành dụm được, và các gia nhân đã có tại Cha-ran, đến xứ Ca-na-an. Sau khi đến xứ Ca-na-an,

6 Áp-ram đi khắp xứ, đến chỗ cây sồi của Mô-rê tại Si-chem. Lúc đó, dân Ca-na-an đang còn ở trong xứ.

7 Đức Giê-hô-va hiện ra với Áp-ram và phán: “Ta sẽ ban xứ nầy cho dòng dõi con.” Tại đây, Áp-ram lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, là Đấng đã hiện ra với ông.

8 Từ đó, ông di chuyển đến vùng đồi núi phía đông Bê-tên, rồi đóng trại giữa Bê-tên ở phía tây, và A-hi ở phía đông. Ông cũng lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va và cầu khẩn danh Ngài.

9 Rồi Áp-ram tiếp tục di chuyển dần xuống vùng Nê-ghép.

10 Bấy giờ có một nạn đói xảy ra trong xứ. Áp-ram xuống Ai Cập tạm cư, vì nạn đói rất nghiêm trọng.

11 Khi sắp vào Ai Cập, Áp-ram bảo Sa-rai, vợ mình: “Anh biết em là một phụ nữ xinh đẹp.

12 Khi người Ai Cập thấy em, họ sẽ nói: ‘Đó là vợ hắn’; rồi họ sẽ giết anh, nhưng để em sống.

13 Vậy, em hãy xưng là em gái anh, để vì em mà anh được đối xử tốt, và nhờ em mà mạng sống anh được an toàn.”

14 Khi Áp-ram vào Ai Cập, người Ai Cập thấy người phụ nữ nầy rất xinh đẹp.

15 Các quan chức của Pha-ra-ôn thấy nàng thì trầm trồ trước mặt vua, và người phụ nữ nầy bị triệu vào cung Pha-ra-ôn.

16 Nhờ nàng mà Pha-ra-ôn hậu đãi Áp-ram, và Áp-ram được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái.

17 Nhưng cũng vì Sa-rai, vợ Áp-ram, Đức Giê-hô-va đã giáng trên Pha-ra-ôn và cả hoàng gia những tai ương nặng nề.

18 Pha-ra-ôn đòi Áp-ram đến và hỏi: “Ngươi đã làm gì cho ta vậy? Sao không cho ta biết nàng là vợ ngươi?

19 Tại sao ngươi nói: ‘Nàng là em gái tôi’ khiến ta đã lấy nàng làm vợ? Bây giờ, vợ ngươi đây, hãy nhận lại và đi đi.”

20 Pha-ra-ôn truyền lệnh cho thuộc hạ đưa Áp-ram và vợ ra đi cùng với tất cả tài sản ông có.

13

1 Từ Ai Cập, Áp-ram đưa vợ và các tài sản mình có cùng với Lót trở lên vùng Nê-ghép.

2 Áp-ram rất giàu về gia súc, bạc và vàng.

3 Từ Nê-ghép, ông đi từng chặng về Bê-tên, đến chỗ lần trước ông đã đóng trại, nằm giữa Bê-tên và A-hi,

4 là nơi lần đầu tiên ông lập bàn thờ. Tại đây, Áp-ram cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.

5 Lót, người cùng đi với Áp-ram, cũng có nhiều chiên, bò, và lều trại.

6 Vùng đất đó không đủ chỗ cho hai người ở chung, vì tài sản họ nhiều đến nỗi không thể sống chung nhau được.

7 Hơn nữa, giữa những người chăn bầy của Áp-ram và Lót đã xảy ra tranh chấp. Bấy giờ dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít đang còn ở trong xứ.

8 Vậy, Áp-ram nói với Lót: “Chúng ta là cốt nhục, giữa bác và cháu, giữa những người chăn bầy của bác và của cháu, đừng tranh chấp nhau nữa.

9 Toàn vùng chẳng phải đang ở trước mặt cháu đó sao? Cháu hãy rời khỏi bác. Nếu cháu chọn bên trái, bác sẽ sang bên phải; nếu cháu chọn bên phải, bác sẽ sang bên trái.”

10 Lót ngước mắt lên và thấy khắp đồng bằng sông Giô-đanh đến tận thành Xoa. Trước khi Đức Giê-hô-va hủy diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, vùng nầy chỗ nào cũng có nước tưới tựa như vườn của Đức Giê-hô-va, như đất Ai Cập vậy.

11 Lót chọn cho mình toàn bộ đồng bằng sông Giô-đanh và đi về hướng đông. Vậy, hai bác cháu chia tay nhau.

12 Áp-ram định cư trong đất Ca-na-an, còn Lót định cư trong các thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm.

13 Dân Sô-đôm rất gian ác và phạm tội nghiêm trọng với Đức Giê-hô-va.

14 Sau khi Lót lìa khỏi Áp-ram, Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Từ chỗ con đang đứng, hãy ngước mắt lên nhìn khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc.

15 Tất cả vùng đất mà con thấy, Ta sẽ ban cho con và cho dòng dõi con đời đời.

16 Ta sẽ làm cho dòng dõi con đông như bụi trên đất; nếu ai đếm được bụi trên đất thì cũng đếm được dòng dõi của con.

17 Nào, hãy đi khắp chiều dài, chiều ngang của vùng đất, vì Ta sẽ ban đất ấy cho con.”

18 Áp-ram dời trại đến định cư gần những cây sồi của Mam-rê, thuộc Hếp-rôn, và lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va.

14

1 Trong thời Am-ra-phên làm vua Si-nê-a, A-ri-óc làm vua Ê-la-sa, Kết-rô-lao-me làm vua Ê-lam, và Ti-đanh làm vua Gô-im,

2 thì họ liên kết nhau gây chiến với vua Bê-ra của Sô-đôm, vua Bi-rê-sa của Gô-mô-rơ, vua Si-nê-áp của Át-ma, vua Sê-mê-bê của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa.

3 Năm vua vừa kể phối hợp lực lượng tại thung lũng Si-điêm, tức là Biển Chết.

4 Họ đã từng thần phục vua Kết-rô-lao-me suốt mười hai năm, nhưng đến năm thứ mười ba, thì họ nổi loạn.

5 Vào năm thứ mười bốn, Kết-rô-lao-me và các vua đồng minh đem quân đánh dẹp dân Rê-pha-im ở Ách-tê-rót Ca-na-im, dân Xu-xin tại Ham, dân Ê-mim ở đồng bằng Ki-ri-a-ta-im,

6 và dân Hô-rít trong vùng đồi núi Sê-i-rơ, cho đến tận Ên Pa-ran, giáp ranh với hoang mạc.

7 Rồi họ quay về Suối Phán Xét, tức Ca-đe, tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ của dân A-ma-léc và dân A-mô-rít đang ở tại Hát-sát-sôn Tha-ma.

8 Các vua Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma, Xê-bô-im và Bê-la, tức là Xoa, cùng hiệp lực và dàn quân tại thung lũng Si-điêm

9 để chống lại vua Kết-rô-lao-me của Ê-lam, vua Ti-đanh của Gô-im, vua Am-ra-phên của Si-nê-a, và vua A-ri-óc của Ê-la-sa; trong thế bốn vua đánh năm vua.

10 Thung lũng Si-điêm có rất nhiều hố nhựa chai; trong lúc thua chạy, vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ đã rơi xuống đó, số còn lại thì chạy trốn lên núi.

11 Bốn vua ấy cướp hết của cải và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, rồi đi.

12 Họ cũng bắt cháu của Áp-ram là Lót, đang sống ở Sô-đôm, đem đi cùng với gia sản của ông.

13 Có một người thoát được đến báo cho Áp-ram, người Hê-bơ-rơ. Áp-ram đang sống gần các cây sồi của Mam-rê, người A-mô-rít, anh của Ếch-côn và A-ne; cả ba người nầy đều đã liên kết với Áp-ram.

14 Khi hay tin cháu mình bị bắt, Áp-ram huy động các gia nhân đã được huấn luyện, gồm ba trăm mười tám người, và truy đuổi các vua đó đến tận Đan.

15 Áp-ram phân bố lực lượng, ban đêm cho các đầy tớ tiến đánh và truy đuổi địch quân đến đất Hô-ba, nằm ở phía bắc của Đa-mách.

16 Ông đoạt lại tất cả các tài sản, và đưa cháu mình là Lót cùng tài sản, các phụ nữ và dân chúng trở về.

17 Sau khi Áp-ram chiến thắng Kết-rô-lao-me và các vua đồng minh trở về, vua Sô-đôm ra đón rước ông tại thung lũng Sa-ve, tức là thung lũng Vua.

18 Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, cũng là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao, đem bánh và rượu ra đón,

19 và chúc phước cho Áp-ram. Ông nói: “Nguyện Đức Chúa Trời Chí Cao, Đấng dựng nên trời và đất, Ban phước cho Áp-ram!

20 Chúc tụng Đức Chúa Trời Chí Cao Đấng đã trao kẻ thù vào tay ngươi!” Áp-ram dâng cho vua một phần mười chiến lợi phẩm.

21 Vua Sô-đôm nói với Áp-ram: “Ngươi chỉ cần giao người lại cho ta, còn tài sản thì ngươi giữ lấy.”

22 Nhưng Áp-ram nói: “Tôi đã giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí Cao, Đấng sáng tạo trời và đất, và thề rằng

23 tôi không lấy bất cứ thứ gì của vua, dù chỉ là một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày, kẻo vua lại nói: ‘Ta làm giàu cho Áp-ram’.

24 Tôi không nhận gì cả ngoại trừ những gì các thanh niên tôi đã ăn, và phần thuộc về những người cùng đi với tôi, là A-ne, Ếch-côn và Mam-rê; hãy cho họ nhận phần của họ.”

15

1 Sau các việc đó, lời của Đức Giê-hô-va đến với Áp-ram qua một khải tượng: “Hỡi Áp-ram, đừng sợ! Ta là cái thuẫn cho con; phần thưởng của con sẽ rất lớn.”

2 Nhưng Áp-ram thưa: “Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, Chúa sẽ cho con điều gì? Con vẫn không có con cái, và người thừa kế gia sản của con là Ê-li-ê-se, người Đa-mách.”

3 Áp-ram còn nói: “Nầy, Chúa làm cho con tuyệt tự, và người nô lệ sinh ra trong nhà con sẽ là người thừa kế của con.”

4 Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Đó không phải là người thừa kế của con đâu, nhưng người từ gan ruột con mà ra mới là người thừa kế của con.”

5 Ngài dẫn ông ra ngoài và bảo: “Hãy nhìn lên bầu trời và nếu con đếm được các ngôi sao, thì hãy đếm đi.” Rồi Ngài lại nói với ông: “Dòng dõi con cũng sẽ như thế.”

6 Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, nên Ngài kể ông là người công chính.

7 Đức Giê-hô-va cũng phán với Áp-ram: “Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem con ra khỏi U-rơ thuộc Canh-đê, để ban cho con đất nầy làm sản nghiệp.”

8 Nhưng Áp-ram thưa: “Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, làm sao con biết rằng mình sẽ được thừa hưởng đất nầy?”

9 Ngài đáp: “Con hãy đem cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con chim ngói và một con bồ câu con.”

10 Áp-ram dâng lên Ngài tất cả những lễ vật trên, xẻ chúng làm đôi và để mỗi bên một nửa đối nhau, nhưng không xẻ đôi các loài chim.

11 Chim săn mồi sà xuống trên các con thú chết đó, nhưng Áp-ram đuổi chúng đi.

12 Khi mặt trời vừa lặn, Áp-ram chìm vào một giấc ngủ mê; và nầy, bóng tối mịt mùng, kinh hãi và dày đặc ập xuống trên ông.

13 Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Con phải biết chắc rằng dòng dõi con sẽ làm kiều dân nơi đất khách, phải phục dịch cho dân bản xứ, và bị chúng áp bức trong bốn trăm năm.

14 Nhưng Ta sẽ phán xét dân tộc đã bắt dòng dõi con phục dịch, và sau đó họ sẽ ra khỏi đất đó với rất nhiều của cải.

15 Về phần con, con sẽ hưởng tuổi già hạnh phúc, rồi bình an trở về với tổ phụ mình trong mồ yên mả đẹp.

16 Đến thế hệ thứ tư, dòng dõi con sẽ trở lại đây, vì tội ác của dân A-mô-rít hiện chưa đến cực độ.”

17 Khi mặt trời lặn và bóng tối bao trùm, kìa, có một lò lửa đang bốc khói, và một ngọn đuốc cháy rực đi ngang qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi.

18 Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước với Áp-ram rằng: “Ta ban cho dòng dõi con đất nầy, từ sông Ai Cập cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát,

19 là đất đai của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít,

20 Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im,

21 A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-rê-ga-sít và Giê-bu-sít.”

16

1 Bấy giờ, Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn không sinh con. Bà có một đầy tớ gái người Ai Cập, tên là A-ga.

2 Sa-rai bàn với Áp-ram: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã không cho tôi sinh con. Vậy, ông hãy ăn ở với đầy tớ gái của tôi, có lẽ nhờ nó mà tôi được có con cái chăng.” Áp-ram nghe theo lời Sa-rai.

3 Sau khi Áp-ram cư trú mười năm trong đất Ca-na-an, Sa-rai, vợ Áp-ram, đem người đầy tớ gái Ai Cập của mình là A-ga đưa cho chồng làm hầu thiếp.

4 Ông đi lại với A-ga, và nàng mang thai. Khi biết mình mang thai, A-ga coi thường bà chủ mình.

5 Sa-rai nói với Áp-ram: “Ông phải chịu trách nhiệm về nỗi sỉ nhục của tôi. Tôi đã giao đầy tớ gái tôi vào lòng ông, và khi biết mình mang thai, nó lại coi thường tôi. Cầu xin Đức Giê-hô-va phân xử giữa tôi và ông!”

6 Áp-ram nói với Sa-rai: “Kìa, đứa tớ gái đó ở trong tay bà, bà muốn xử thế nào tùy ý.” Sa-rai hành hạ A-ga khiến nàng phải trốn khỏi bà.

7 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va gặp nàng bên một suối nước trong hoang mạc, cạnh con đường đi về Su-rơ,

8 và hỏi: “Nầy A-ga, tớ gái của Sa-rai, ngươi từ đâu đến, và định sẽ đi đâu?” Nàng thưa: “Tôi trốn khỏi Sa-rai, bà chủ tôi.”

9 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va bảo nàng: “Ngươi hãy trở về với chủ ngươi, và chịu lụy dưới tay bà ấy.”

10 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va còn nói: “Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi tăng gấp bội, đông đến nỗi không thể đếm được.”

11 Thiên sứ lại nói: “Nầy, ngươi đang mang thai và sẽ sinh một trai, Hãy đặt tên nó là Ích-ma-ên, Vì Đức Giê-hô-va đã lắng nghe tiếng kêu than của ngươi.

12 Đứa trẻ đó sẽ như một con lừa rừng, Tay nó sẽ chống lại mọi người, Và tay mọi người chống lại nó. Nó sẽ ở trong thế đối nghịch với tất cả anh em mình.”

13 Nàng gọi Đức Giê-hô-va, Đấng đã phán với mình, là “Đức Chúa Trời đoái xem,” vì nàng nói: “Chẳng phải chính nơi nầy tôi đã thấy Đấng đoái xem tôi sao?”

14 Vì thế, giếng nầy được gọi là giếng La-chai Roi, nằm giữa Ca-đe và Bê-re.

15 A-ga sinh cho Áp-ram một con trai, và Áp-ram đặt tên con trai đó là Ích-ma-ên.

16 Khi A-ga sinh Ích-ma-ên cho Áp-ram thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.

17

1 Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, Đức Giê-hô-va hiện đến với ông và phán: “Ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng; con hãy bước đi trước mặt Ta và sống thật trọn vẹn.

2 Ta sẽ lập giao ước với con, và làm cho dòng dõi con gia tăng gấp bội.”

3 Áp-ram quỳ sấp mặt xuống đất. Đức Chúa Trời phán với ông:

4 “Về phần Ta, đây là giao ước Ta lập với con: Con sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc.

5 Người ta sẽ không còn gọi con là Áp-ram, nữa, nhưng tên của con sẽ là Áp-ra-ham vì Ta lập con làm cha của nhiều dân tộc.

6 Ta sẽ làm cho con sinh sôi nẩy nở thật nhiều, từ nơi con sẽ ra nhiều dân tộc, và các vua cũng sẽ từ nơi con mà ra.

7 Ta sẽ lập giao ước với con và với dòng dõi con từ thế hệ nầy qua thế hệ khác; vì đây là giao ước đời đời để Ta làm Đức Chúa Trời của con và của dòng dõi con.

8 Ta sẽ ban cho con và dòng dõi con đất mà con đang tạm cư, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ.”

9 Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham: “Chính con và dòng dõi con phải giữ giao ước của Ta từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.

10 Đây là giao ước của Ta mà các con phải giữ, là giao ước giữa Ta và con cũng như dòng dõi con sau nầy: Đó là mọi người nam trong các con phải chịu cắt bì.

11 Các con phải chịu cắt da quy đầu, và đó sẽ là dấu hiệu của giao ước giữa Ta và các con.

12 Trải qua mọi thế hệ, mỗi người nam trong các con, dù được sinh ra trong nhà hay được mua về bằng tiền từ người ngoại bang, không thuộc về dòng giống của con, sau khi sinh được tám ngày đều phải chịu cắt bì.

13 Cả người được sinh ra trong nhà lẫn người được mua về bằng tiền đều buộc phải cắt bì. Như thế, giao ước của Ta trên thân thể các con là giao ước đời đời.

14 Người nam nào không chịu cắt bì, tức là không cắt da quy đầu, thì sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng, vì người đó đã phá vỡ giao ước của Ta.”

15 Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham: “Còn Sa-rai, vợ con, con đừng gọi nàng là Sa-rai nữa vì tên của nàng là Sa-ra.

16 Ta sẽ ban phước cho nàng, và qua nàng Ta sẽ ban cho con một con trai. Ta sẽ ban phước cho nàng, nàng sẽ là tổ mẫu của các dân tộc; vua chúa của các dân tộc đều từ nàng mà ra.”

17 Áp-ra-ham quỳ sấp mặt xuống đất, cười và thầm nghĩ trong lòng: “Một người đã trăm tuổi mà vẫn có con chăng? Sa-ra đã chín mươi tuổi mà còn sinh đẻ được sao?”

18 Áp-ra-ham thưa với Đức Chúa Trời: “Ước gì Ích-ma-ên được phước trước mặt Ngài!”

19 Đức Chúa Trời phán: “Không phải vậy đâu, Sa-ra, vợ của con sẽ sinh cho con một trai, và con sẽ đặt tên nó là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước với nó, là giao ước đời đời cho dòng dõi nó.

20 Còn Ích-ma-ên, Ta đã nghe lời con cầu xin. Nầy, Ta sẽ ban phước cho nó, làm cho nó sinh sôi nẩy nở thật nhiều. Nó sẽ là tổ phụ của mười hai công hầu, và Ta sẽ làm cho nó thành một dân lớn.

21 Nhưng Ta sẽ lập giao ước với Y-sác mà Sa-ra sẽ sinh cho con vào khoảng thời gian nầy năm sau.”

22 Sau khi phán xong, Đức Chúa Trời rời Áp-ra-ham và ngự lên trời.

23 Ngay hôm ấy, Áp-ra-ham cắt bì cho Ích-ma-ên, con trai mình, và tất cả người nam, hoặc được sinh ra trong nhà hoặc được mua về bằng tiền, đúng như lời Đức Chúa Trời đã phán dạy ông.

24 Áp-ra-ham được chín mươi chín tuổi khi chịu cắt bì;

25 còn con ông là Ích-ma-ên được mười ba tuổi khi chịu cắt bì.

26 Áp-ra-ham và Ích-ma-ên cùng chịu cắt bì trong chính ngày đó.

27 Mọi người nam khác, hoặc được sinh ra trong nhà, hoặc được mua về bằng tiền từ người ngoại bang, đều cùng chịu cắt bì với ông.

18

1 Đức Giê-hô-va hiện ra với Áp-ra-ham gần các cây sồi của Mam-rê, khi ông đang ngồi nơi cửa trại vào lúc trời nắng gắt trong ngày.

2 Áp-ra-ham ngước mắt lên, thấy ba người đứng trước mặt mình. Vừa thấy họ, ông liền từ cửa trại chạy ra đón và quỳ sấp mặt xuống đất.

3 Ông nói: “Thưa chúa, nếu tôi được ơn trước mặt chúa, xin đừng bỏ qua đầy tớ Chúa.

4 Xin cho tôi lấy ít nước, mời quý ngài rửa chân rồi nằm nghỉ dưới bóng cây nầy.

5 Dù gì quý ngài cũng đã quá bộ đến nhà đầy tớ rồi, xin cho phép tôi đem một ít bánh để quý ngài lót dạ rồi hãy lên đường.” Các vị ấy nói: “Hãy cứ làm như điều ông nói.”

6 Áp-ra-ham vội vàng trở về trại, đến nói với Sa-ra: “Hãy mau lấy hai mươi ký tinh bột, nhồi và làm bánh đi.”

7 Áp-ra-ham chạy đến chỗ bầy gia súc, bắt một con bê béo tốt, giao cho đầy tớ để nhanh chóng nấu dọn.

8 Ông đem sữa tươi, sữa chua và thịt bê đã nấu xong, dọn ra trước mặt các vị ấy. Trong lúc họ ăn, ông đứng hầu dưới bóng cây.

9 Các vị ấy hỏi Áp-ra-ham: “Sa-ra vợ của con đâu?” Ông thưa: “Kìa, nàng đang ở trong trại.”

10 Một vị nói: “Khoảng thời gian nầy năm sau, ta chắc chắn sẽ trở lại đây với con, và lúc ấy Sa-ra, vợ con, sẽ có một con trai.” Sa-ra nghe được lời đó tại cửa trại, sau lưng vị ấy.

11 Cả Áp-ra-ham và Sa-ra đều đã già, tuổi đã cao. Sa-ra không còn khả năng sinh sản.

12 Vì thế, Sa-ra cười thầm và tự nhủ: “Già như tôi thế nầy mà còn được hưởng niềm vui đó sao? Hơn nữa, chúa tôi cũng đã già rồi!”

13 Đức Giê-hô-va hỏi Áp-ra-ham: “Tại sao Sa-ra cười và nghĩ rằng: ‘Có thật tôi già thế nầy mà vẫn sinh con được sao?’

14 Có điều gì quá khó cho Đức Giê-hô-va không? Đến kỳ đã định, năm sau Ta sẽ trở lại với con, và Sa-ra sẽ có một con trai.”

15 Vì sợ nên Sa-ra chối rằng: “Con có cười đâu!” Nhưng Ngài phán: “Thật con đã cười!”

16 Các vị ấy đứng dậy, rời khỏi đó và nhìn về hướng Sô-đôm. Áp-ra-ham cũng đi theo để tiễn bước họ.

17 Đức Giê-hô-va nói: “Lẽ nào Ta giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm sao?

18 Áp-ra-ham chắc chắn sẽ thành một dân lớn và hùng mạnh; tất cả các dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ người mà được phước.

19 Ta đã chọn người để truyền dạy con cái và dòng dõi người sau nầy gìn giữ đường lối của Đức Giê-hô-va bằng cách làm điều công chính và ngay thẳng, để Đức Giê-hô-va thực hiện điều Ngài đã hứa với Áp-ra-ham.”

20 Đức Giê-hô-va phán: “Tiếng than trách về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật quá lớn, tội lỗi các thành đó thật nghiêm trọng!

21 Ta phải ngự xuống để xem chúng có làm như tiếng đã kêu thấu đến Ta không. Có hay không thì Ta sẽ biết.”

22 Vậy, các vị từ đó đi về phía Sô-đôm, nhưng Áp-ra-ham vẫn đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va.

23 Áp-ra-ham đến gần và thưa: “Chúa sẽ tiêu diệt cả người công chính lẫn người gian ác sao?

24 Giả sử trong thành có năm mươi người công chính thì Ngài cũng sẽ tiêu diệt hết sao? Chẳng lẽ Ngài không vì năm mươi người công chính ở trong thành mà tha thứ cho thành đó sao?

25 Không bao giờ Chúa làm như vậy! Chẳng lẽ Chúa tiêu diệt người công chính chung với kẻ gian ác, xem người công chính cũng như kẻ gian ác sao? Không bao giờ Chúa làm như vậy! Đấng phán xét toàn thế gian lại không thực thi công lý sao?”

26 Đức Giê-hô-va đáp: “Nếu Ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công chính, Ta sẽ vì những người đó mà tha thứ cả thành.”

27 Áp-ra-ham thưa tiếp: “Dù con vốn là thân tro bụi, cũng xin đánh bạo mà thưa với Chúa:

28 Nếu nhỡ trong năm mươi người công chính thiếu năm người thì sao? Vì thiếu năm người mà Chúa sẽ tiêu diệt cả thành chăng?” Ngài đáp: “Nếu Ta tìm được trong đó bốn mươi lăm người thì Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

29 Áp-ra-ham lại thưa: “Giả sử trong thành chỉ tìm thấy bốn mươi người công chính thì sao?” Ngài đáp: “Vì bốn mươi người đó Ta sẽ không diệt đâu.”

30 Rồi Áp-ra-ham lại nói: “Xin Chúa đừng giận, cho con được thưa tiếp: Giả sử trong thành chỉ có ba mươi người thì sao?” Ngài đáp: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, thì Ta sẽ không diệt thành đâu.”

31 Áp-ra-ham thưa: “Con xin đánh bạo thưa với Chúa: Nếu chỉ có hai mươi người thì sao?” Ngài đáp: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

32 Áp-ra-ham lại thưa: “Xin Chúa đừng giận, cho con thưa chỉ một lần nầy nữa thôi: Nếu trong đó chỉ có mười người thì sao?” Ngài đáp: “Vì mười người đó Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

33 Khi phán với Áp-ra-ham xong, Đức Giê-hô-va ra đi, còn Áp-ra-ham trở về trại mình.

19

1 Chiều tối, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó Lót đang ngồi tại cổng thành. Khi thấy hai thiên sứ đến, Lót đứng dậy tiếp đón và quỳ sấp mặt xuống đất.

2 Ông nói: “Thưa quý ngài, xin mời quá bước đến nhà của đầy tớ quý ngài, nghỉ đêm và rửa chân, rồi sáng mai quý ngài có thể dậy sớm lên đường.” Nhưng hai thiên sứ đáp: “Không, đêm nay chúng tôi sẽ ở ngoài phố.”

3 Lót hết sức nài ép nên hai thiên sứ phải ghé vào nhà ông. Lót dọn tiệc, nướng bánh không men, và hai thiên sứ dùng bữa.

4 Nhưng khi hai thiên sứ chưa đi nghỉ thì những người đàn ông thành Sô-đôm, mọi người từ trẻ đến già, không thiếu một ai, đã đến bao vây nhà.

5 Chúng gọi Lót ra và hỏi: “Những người khách vào nhà ông tối nay đang ở đâu? Hãy dẫn họ ra đây để chúng tôi ăn nằm với họ.”

6 Lót ra ngoài gặp chúng, đóng cửa lại sau lưng mình,

7 và nói: “Xin anh em đừng làm điều gian ác đó!

8 Đây tôi có hai con gái chưa chồng, để tôi trao chúng cho anh em, tùy anh em muốn làm gì thì làm. Nhưng đừng làm bất cứ điều gì với hai người kia, vì họ đã đến tá túc dưới bóng mái nhà tôi.”

9 Bọn chúng hét: “Tránh chỗ khác! Tên nầy đến tạm cư ở đây mà nay lại muốn làm quan tòa sao! Chúng ta sẽ xử ngươi còn tệ hơn hai người kia nữa.” Rồi chúng xô mạnh Lót và xông đến phá cửa.

10 Nhưng hai thiên sứ giơ tay ra kéo Lót vào nhà, đóng cửa lại,

11 rồi trừng phạt đám đàn ông ở ngoài cửa, từ trẻ đến già đều bị quáng mắt, đến nỗi chúng mệt nhọc tìm cửa mà không được.

12 Hai thiên sứ hỏi Lót: “Ngươi còn có ai khác ở đây nữa không? Con rể, con trai, con gái và bất cứ ai trong thành có liên hệ với ngươi, hãy đưa tất cả ra khỏi nơi nầy.

13 Chúng ta sắp hủy diệt chỗ nầy, vì tiếng than oán về dân thành nầy đã thấu đến Đức Giê-hô-va, và Ngài đã sai chúng ta xuống để hủy diệt nó.”

14 Vậy Lót đi ra nói với các chàng rể sắp cưới con gái mình: “Hãy mau ra khỏi nơi nầy, vì Đức Giê-hô-va sắp hủy diệt thành.” Nhưng các chàng rể tưởng ông nói đùa.

15 Rạng sáng, hai thiên sứ hối thúc Lót: “Hãy mau dẫn vợ và hai con gái ngươi đang ở đây đi ngay, kẻo ngươi cũng bị chết lây khi thành phố nầy bị trừng phạt chăng.”

16 Bởi lòng thương xót của Đức Giê-hô-va nên trong lúc Lót còn chần chừ, hai thiên sứ đã nắm tay kéo ông, vợ và hai con gái ông ra khỏi thành.

17 Khi hai thiên sứ đã dẫn họ ra ngoài rồi, một trong hai vị nói: “Hãy chạy trốn để cứu mạng sống mình, đừng ngó lại đằng sau và cũng đừng dừng lại bất cứ nơi nào ngoài đồng bằng! Hãy chạy trốn lên núi kẻo ngươi phải thiệt mạng chăng!”

18 Lót nói: “Thưa ngài, không thể được!

19 Nầy, đầy tớ ngài đã được ơn trước mặt ngài, và ngài đã tỏ lòng nhân từ rất lớn cùng tôi mà bảo toàn mạng sống tôi. Nhưng tôi sợ chưa kịp trốn lên núi thì tai họa đã ập đến và tôi chết mất.

20 Kìa, đằng kia có một thành nhỏ, lại cũng gần, có thể trốn kịp. Xin ngài cho tôi trốn vào đó, chỉ một thành nhỏ thôi, để mạng sống tôi được bảo toàn.”

21 Thiên sứ đáp: “Được, ta chấp nhận lời cầu xin nầy, và ta sẽ không hủy diệt thành mà ngươi vừa nói đó đâu.

22 Hãy nhanh chóng trốn vào đó đi, vì ta không thể làm gì được khi ngươi chưa vào đến nơi.” Vì vậy, thành nầy được gọi là Xoa.

23 Khi mặt trời vừa mọc lên khỏi mặt đất thì Lót vào đến thành Xoa.

24 Đức Giê-hô-va khiến mưa lưu huỳnh và lửa của Đức Giê-hô-va từ trời trút xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ,

25 hủy diệt hai thành nầy, cả vùng đồng bằng, cùng với tất cả cư dân trong thành và mọi cây cỏ mọc trên đất.

26 Nhưng vợ của Lót ngoảnh nhìn lại đằng sau nên biến thành một tượng muối.

27 Sáng hôm sau, Áp-ra-ham dậy sớm và đi đến chỗ mà ông đã đứng chầu Đức Giê-hô-va.

28 Ông nhìn về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, và khắp vùng đồng bằng, thì thấy một luồng khói từ dưới đất bốc lên như khói của một lò lửa lớn.

29 Khi Đức Chúa Trời hủy diệt các thành trong đồng bằng, nơi Lót đang ở, Ngài nhớ đến Áp-ra-ham nên đã cứu Lót ra khỏi cuộc tàn phá đó.

30 Lót không dám ở Xoa nên đã cùng hai con gái bỏ lên núi. Ông sống trong một hang đá với hai con gái mình.

31 Cô chị bảo cô em: “Cha đã già, trong vùng lại không còn người nam nào đến kết duyên với chúng ta theo cách thông thường trong thiên hạ.

32 Nào, chúng ta hãy phục rượu cho cha, rồi lại nằm với ông, để chúng ta có thể duy trì dòng giống bởi cha chúng ta.”

33 Vì thế, đêm đó hai cô phục rượu cho cha mình, rồi cô chị đến nằm với cha, nhưng ông chẳng biết lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy.

34 Hôm sau, cô chị nói với cô em: “Nầy, đêm qua chị đã nằm với cha rồi. Tối nay chúng ta cũng hãy phục rượu cho cha, rồi em đến nằm với cha để chúng ta có thể duy trì dòng giống bởi cha chúng ta.”

35 Đêm đó, hai cô lại phục rượu cho cha mình, rồi cô em đến nằm với cha, nhưng ông cũng chẳng biết lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy.

36 Vậy, cả hai con gái của Lót đều mang thai bởi cha mình.

37 Cô chị sinh một con trai, đặt tên là Mô-áp. Đó là tổ phụ của dân Mô-áp ngày nay.

38 Cô em cũng sinh một con trai, đặt tên là Bên Am-mi. Đó là tổ phụ của dân Am-môn ngày nay.

20

1 Từ đó, Áp-ra-ham đi xuống vùng Nê-ghép, cư ngụ giữa Ca-đe và Su-rơ. Trong khi tạm trú ở Ghê-ra,

2 Áp-ra-ham nói với người ta về Sa-ra, vợ ông rằng: “Cô ấy là em gái tôi.” Vì thế, A-bi-mê-léc, vua Ghê-ra, truyền đem Sa-ra đến.

3 Nhưng ban đêm, Đức Chúa Trời hiện đến và phán với A-bi-mê-léc trong chiêm bao: “Ngươi sẽ chết vì người phụ nữ mà ngươi đã bắt. Nàng đã có chồng.”

4 Vua A-bi-mê-léc chưa đến gần nàng nên thưa rằng: “Lạy Chúa, Chúa nỡ tiêu diệt một dân vô tội sao?

5 Chẳng phải chính Áp-ra-ham đã nói với con: ‘Nàng là em gái tôi’ sao? Và chẳng phải chính cô ta cũng nói: ‘Đó là anh tôi’ sao? Con làm điều nầy với tấm lòng trung thực và bàn tay trong sạch.”

6 Đức Chúa Trời lại phán với vua trong chiêm bao: “Ta biết ngươi làm điều đó với lòng trung thực. Vì vậy, chính Ta đã ngăn cản ngươi phạm tội với Ta, và không cho ngươi động đến nàng.

7 Bây giờ, hãy giao nàng lại cho chồng, vì chồng nàng là một nhà tiên tri, người sẽ cầu nguyện cho ngươi và ngươi sẽ được sống. Nhưng nếu ngươi không giao lại thì phải biết rằng ngươi và tất cả những người thuộc về ngươi chắc chắn sẽ chết.”

8 A-bi-mê-léc dậy sớm, triệu tập triều thần đến, thuật lại rõ ràng những lời đó. Mọi người đều khiếp sợ.

9 Rồi, A-bi-mê-léc đòi Áp-ra-ham đến và nói: “Ngươi đã làm gì cho chúng ta vậy? Ta có làm điều gì không phải với ngươi đâu mà ngươi làm cho ta và cả nước phải phạm tội lớn như vậy? Ngươi đã làm cho ta những điều không nên làm.”

10 A-bi-mê-léc lại hỏi Áp-ra-ham: “Ngươi có ý gì mà lại làm như vậy?”

11 Áp-ra-ham đáp: “Tôi làm vậy vì nghĩ rằng nơi nầy chắc không có người nào kính sợ Đức Chúa Trời. Họ có thể vì vợ tôi mà giết tôi mất.

12 Thật ra thì nàng cũng là em gái tôi, em một cha khác mẹ; nhưng tôi đã cưới nàng làm vợ.

13 Khi Đức Chúa Trời khiến tôi lưu lạc khỏi nhà cha tôi, tôi có nói với nàng: ‘Đây là cách nàng bày tỏ tình yêu đối với ta: Bất cứ nơi nào chúng ta đi đến, nàng hãy giới thiệu ta là anh của nàng.’”

14 Vua A-bi-mê-léc đem chiên, bò, tôi trai tớ gái tặng Áp-ra-ham, và giao trả Sa-ra, vợ ông lại cho ông.

15 Vua nói: “Nầy, xứ sở ta sẵn dành cho ngươi, ngươi thích đâu thì ở đó.”

16 Rồi vua nói với Sa-ra: “Nầy, ta ban cho anh ngươi một nghìn miếng bạc; đây là bức màn che mắt mọi người ở với ngươi, và ngươi sẽ được minh oan trước mặt mọi người.”

17 Sau đó, Áp-ra-ham cầu nguyện với Đức Chúa Trời và Ngài chữa lành cho A-bi-mê-léc, vợ và các nữ tì của vua để họ có thể sinh con cái.

18 Trước đó, do vụ Sa-ra, vợ Áp-ra-ham, nên Đức Giê-hô-va đã khiến cho mọi người nữ trong hoàng gia A-bi-mê-léc không sinh sản được.

21

1 Đức Giê-hô-va thăm viếng Sa-ra như lời Ngài đã phán và làm cho bà như lời Ngài đã hứa.

2 Sa-ra thụ thai, sinh cho Áp-ra-ham một con trai khi tuổi ông đã già, đúng kỳ hạn mà Đức Chúa Trời đã hứa với ông.

3 Áp-ra-ham đặt tên con trai mà Sa-ra đã sinh cho mình là Y-sác.

4 Khi Y-sác được tám ngày, Áp-ra-ham cắt bì cho con trai như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán.

5 Y-sác ra đời khi Áp-ra-ham đã được một trăm tuổi.

6 Sa-ra nói: “Đức Chúa Trời làm cho tôi vui cười, ai nghe đến cũng sẽ vui mừng cho tôi.”

7 Bà còn nói: “Ai dám nói với Áp-ra-ham rằng Sa-ra sẽ cho con bú? Thế mà tôi đã sinh cho ông một con trai trong lúc ông đã già.”

8 Y-sác lớn lên và dứt sữa. Vào ngày cậu bé dứt sữa, Áp-ra-ham tổ chức một bữa tiệc linh đình.

9 Sa-ra thấy con trai mà A-ga, người Ai Cập, đã sinh cho Áp-ra-ham đang đùa giỡn,

10 thì bà nói với Áp-ra-ham: “Xin ông đuổi hai mẹ con đứa tớ gái nầy đi vì con trai của đứa tớ gái nầy sẽ không được cùng thừa kế với Y-sác, con trai tôi đâu.”

11 Lời nầy làm cho Áp-ra-ham đau lòng lắm bởi vì đó là con trai mình.

12 Nhưng Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham: “Con đừng nặng lòng về đứa con trai và đứa tớ gái của mình nữa. Sa-ra nói gì con cứ nghe lời nàng, vì bởi Y-sác, sẽ có một dòng dõi được gọi theo tên con.

13 Ta cũng sẽ làm cho con trai của đứa tớ gái nầy trở thành một dân tộc, vì nó cũng từ nơi con mà ra.”

14 Sáng hôm sau, Áp-ra-ham dậy sớm, lấy bánh và một bầu nước đưa cho A-ga. Ông đặt các thứ đó trên vai nàng, trao đứa con trai cho nàng rồi bảo đi. Nàng ra đi, lang thang trong hoang mạc Bê-e Sê-ba.

15 Khi nước trong bầu đã hết, nàng để đứa trẻ dưới một bụi cây

16 rồi đi và ngồi phía đối diện, cách xa khoảng một tầm tên bắn, vì nàng nói: “Tôi nỡ nào nhìn đứa trẻ chết!” Nàng ngồi đối diện đó, cất tiếng than khóc.

17 Đức Chúa Trời nghe tiếng đứa trẻ khóc, thiên sứ của Đức Chúa Trời từ trên trời gọi A-ga và nói: “A-ga, có việc gì với con vậy? Đừng sợ! Vì Đức Chúa Trời đã nghe tiếng đứa trẻ khóc ở đâu đó rồi.

18 Hãy đứng dậy, đỡ đứa trẻ lên và ôm chặt nó trong tay, vì Ta sẽ làm cho nó thành một dân lớn.”

19 Đức Chúa Trời mở mắt cho nàng và nàng thấy một giếng nước. Nàng đến múc đầy bầu da và đem cho đứa trẻ uống.

20 Đức Chúa Trời ở với đứa trẻ. Nó lớn lên, sống trong hoang mạc và trở thành người có tài bắn cung.

21 Ích-ma-ên sống trong hoang mạc Pha-ran. Mẹ chàng cưới cho chàng một cô vợ người Ai Cập.

22 Bấy giờ, vua A-bi-mê-léc và Phi-côn, chỉ huy trưởng quân đội, nói với Áp-ra-ham: “Đức Chúa Trời giúp đỡ ngươi trong mọi việc ngươi làm.

23 Vậy bây giờ, trước mặt Đức Chúa Trời hãy thề với ta rằng ngươi sẽ không lừa dối ta, con cái hay dòng dõi ta, nhưng ngươi sẽ đối xử với ta và xứ mà ngươi đang trú ngụ thật tử tế, như ta đã đối xử với ngươi vậy.”

24 Áp-ra-ham đáp: “Tôi xin thề.”

25 Sau đó, Áp-ra-ham phàn nàn với vua A-bi-mê-léc về một giếng nước bị đầy tớ A-bi-mê-léc chiếm đoạt.

26 A-bi-mê-léc nói: “Ta không biết ai đã làm việc nầy. Ngươi không báo cho ta biết, mãi đến hôm nay ta mới nghe đến thôi.”

27 Áp-ra-ham bắt chiên và bò, tặng cho vua A-bi-mê-léc rồi hai người kết ước với nhau.

28 Áp-ra-ham lựa riêng ra bảy con chiên cái tơ trong bầy.

29 A-bi-mê-léc hỏi: “Ngươi lựa riêng bảy con chiên cái tơ đó ra để làm gì vậy?”

30 Áp-ra-ham đáp: “Xin vua hãy nhận từ tay tôi bảy con chiên cái tơ nầy như một lời chứng rằng tôi đã đào cái giếng nầy.”

31 Vì vậy, người ta gọi chỗ đó là Bê-e Sê-ba; vì tại đó hai người đã thề nguyện với nhau.

32 Sau khi hai bên đã kết ước với nhau tại Bê-e Sê-ba, vua A-bi-mê-léc và chỉ huy trưởng Phi-côn lên đường trở về xứ Phi-li-tin.

33 Áp-ra-ham trồng một cây me tại Bê-e Sê-ba, và tại đó ông cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời hằng hữu.

34 Áp-ra-ham cư trú lâu ngày trong đất của người Phi-li-tin.

22

1 Sau các việc đó, Đức Chúa Trời thử nghiệm Áp-ra-ham. Ngài gọi ông: “Áp-ra-ham!” Ông thưa: “Dạ, có con đây.”

2 Đức Chúa Trời phán: “Hãy dẫn con trai của con, đứa con một mà con yêu dấu, là Y-sác, đi đến đất Mô-ri-a. Tại đó, con hãy dâng đứa trẻ làm tế lễ thiêu trên một trong những ngọn núi mà Ta sẽ chỉ cho con.”

3 Vậy Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa và đem hai đầy tớ cùng con mình là Y-sác đi theo. Ông cũng chặt củi để dùng cho tế lễ thiêu rồi lên đường đi đến nơi mà Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn.

4 Đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham ngước mắt lên và thấy địa điểm đó từ đằng xa.

5 Ông nói với hai đầy tớ: “Các ngươi ở lại đây với con lừa, ta và đứa trẻ sẽ đi đến chỗ kia để thờ phượng rồi sẽ trở lại.”

6 Áp-ra-ham lấy củi dùng cho tế lễ thiêu chất trên Y-sác, con mình, còn ông cầm lửa và dao trong tay, rồi hai cha con cùng đi.

7 Y-sác nói với Áp-ra-ham, cha mình: “Thưa cha!” Ông đáp: “Con ơi! Cha đây.” Y-sác hỏi: “Củi và lửa đã sẵn sàng, nhưng chiên con ở đâu để dâng tế lễ thiêu?”

8 Áp-ra-ham nói: “Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ cung cấp chiên con cho tế lễ thiêu.” Rồi cả hai cha con cùng tiếp tục đi.

9 Khi đã đến nơi Đức Chúa Trời chỉ định, Áp-ra-ham lập tại đó một bàn thờ, xếp củi lên rồi trói Y-sác con mình lại, đặt lên đống củi trên bàn thờ.

10 Áp-ra-ham đưa tay ra cầm lấy dao để giết con mình.

11 Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va từ trời gọi ông: “Áp-ra-ham, Áp-ra-ham!” Ông thưa: “Có con đây.”

12 Thiên sứ bảo: “Đừng ra tay hại đứa trẻ và cũng không được làm gì nó cả. Bây giờ, Ta biết rằng con thật lòng kính sợ Đức Chúa Trời vì con không tiếc con mình với Ta, dù là đứa con duy nhất của con.”

13 Áp-ra-ham ngước mắt nhìn và thấy một con chiên đực, sừng mắc trong bụi cây. Áp-ra-ham bắt con chiên đực đó dâng làm tế lễ thiêu thay cho con trai mình.

14 Áp-ra-ham gọi địa điểm đó là “Giê-hô-va Cung Ứng.” Vì vậy, ngày nay người ta còn nói: “Trên núi của Đức Giê-hô-va điều ấy sẽ được cung ứng”

15 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va từ trời gọi Áp-ra-ham lần thứ nhì

16 và bảo: “Đức Giê-hô-va phán: Vì con đã làm điều nầy, không tiếc con mình, dù là đứa con duy nhất của con, nên Ta lấy chính mình mà thề rằng,

17 Ta sẽ ban phước dồi dào cho con, làm cho dòng dõi con đông như sao trời, nhiều như cát biển, và dòng dõi con sẽ chiếm được cổng thành quân địch.

18 Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước, vì con đã vâng lời Ta.”

19 Áp-ra-ham trở lại chỗ hai người đầy tớ; họ đứng dậy và cùng nhau trở về Bê-e Sê-ba. Áp-ra-ham tiếp tục sống tại Bê-e Sê-ba.

20 Sau các việc đó, người ta báo cho Áp-ra-ham: “Nầy, Minh-ca cũng sinh con cho em ông là Na-cô.

21 Con trưởng là Út-xơ, các con thứ là Bu-xơ, Kê-mu-ên là cha của A-ram,

22 Kê-sết, Ha-xô, Phin-đát, Dít-láp và Bê-tu-ên.”

23 Bê-tu-ên là cha của Rê-bê-ca. Đó là tám người con trai mà Minh-ca sinh cho Na-cô, em của Áp-ra-ham.

24 Còn người vợ bé tên là Rê-u-ma cũng sinh Tê-ba, Ga-ham, Ta-hách và Ma-a-ca.

23

1 Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi.

2 Sa-ra qua đời tại Ki-ri-át A-ra-ba, tức Hếp-rôn, thuộc đất Ca-na-an. Áp-ra-ham đến chịu tang Sa-ra và than khóc bà.

3 Sau đó, Áp-ra-ham đứng dậy rời khỏi chỗ người quá cố và đến nói với con cháu gia tộc Hếch:

4 “Tôi chỉ là một kiều dân sống giữa các anh; xin các anh nhượng cho tôi một chỗ an táng trong đất các anh để tôi chôn cất người vợ quá cố của tôi.”

5 Con cháu gia tộc Hếch trả lời:

6 “Thưa chúa, xin nghe chúng tôi. Ngài là bậc vương hầu của Đức Chúa Trời ở giữa chúng tôi. Xin chôn cất người quá cố của ngài trong mộ phần nào tốt nhất của chúng tôi. Không ai trong chúng tôi tiếc mộ phần mình mà không để ngài an táng người quá cố của ngài đâu.”

7 Áp-ra-ham đứng dậy, sấp mình trước mặt dân bản địa, tức con cháu gia tộc Hếch,

8 và nói: “Nếu các anh bằng lòng cho tôi an táng người quá cố của tôi thì xin nghe tôi và can thiệp với Ép-rôn, con của Xô-ha,

9 để anh ấy nhượng cho tôi hang đá Mặc-bê-la ở cuối cánh đồng. Xin anh ấy nhượng lại đúng giá để tôi có được nơi an táng ở giữa các anh.”

10 Ép-rôn, người Hê-tít, đang ngồi giữa con cháu gia tộc Hếch, trả lời Áp-ra-ham trước sự chứng kiến của con cháu gia tộc Hếch, tức là trước tất cả những người có mặt tại cổng thành rằng:

11 “Không, thưa chúa, xin nghe tôi. Trước mặt con dân tôi, tôi xin tặng ngài cánh đồng, và tặng luôn cái hang đá ở trong đó nữa. Xin an táng người quá cố của ngài đi.”

12 Áp-ra-ham sấp mình trước mặt dân bản địa,

13 và nói với Ép-rôn, trước sự chứng kiến của dân chúng rằng: “Xin nghe tôi. Xin cho tôi được trả tiền để mua cánh đồng nầy. Xin nhận thì tôi mới có thể chôn người quá cố của tôi ở đó được.”

14 Ép-rôn trả lời Áp-ra-ham:

15 “Thưa chúa, xin nghe tôi. Miếng đất đáng giá bốn ký rưỡi bạc, nhưng chỗ tôi với ngài thì có đáng gì đâu! Xin cứ an táng người quá cố của ngài đi.”

16 Áp-ra-ham đồng ý với Ép-rôn; và trước sự chứng kiến của con cháu gia tộc Hếch, Áp-ra-ham cân cho Ép-rôn số bạc mà ông đã nêu là bốn trăm siếc-lơ, theo cân lượng đang lưu hành trong giới con buôn.

17 Vậy, cánh đồng của Ép-rôn tại Mặc-bê-la, phía đông Mam-rê, gồm cánh đồng có hang đá và tất cả cây cối trong cánh đồng,

18 được chuyển thành sản nghiệp của Áp-ra-ham trước sự chứng kiến của con cháu gia tộc Hếch, là tất cả những người có mặt tại cổng thành.

19 Sau đó, Áp-ra-ham an táng vợ mình là Sa-ra nơi hang đá trong cánh đồng Mặc-bê-la, phía đông Mam-rê, tức Hếp-rôn, thuộc đất Ca-na-an.

20 Như vậy, cánh đồng trong đó có hang đá đã được con cháu gia tộc Hếch chuyển nhượng cho Áp-ra-ham làm nơi an táng.

24

1 Áp-ra-ham đã già, tuổi đã cao; Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ông trong mọi việc.

2 Áp-ra-ham nói với người đầy tớ sống lâu năm nhất trong nhà, là người quản trị tất cả tài sản của mình: “Hãy đặt tay dưới đùi ta.

3 Ta muốn ngươi nhân danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và đất, mà thề rằng ngươi sẽ không cưới cho con trai ta một người vợ trong số những con gái của người Ca-na-an, nơi ta đang cư ngụ,

4 nhưng ngươi sẽ về quê hương ta, đến với bà con ta mà cưới vợ cho con trai ta là Y-sác.”

5 Người đầy tớ thưa: “Có thể cô gái ấy sẽ không chịu theo tôi về xứ nầy đâu; vậy tôi có được đưa con trai ông về xứ mà ông từ đó ra đi không?”

6 Áp-ra-ham nói: “Không, đừng bao giờ đưa con ta về xứ đó!

7 Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên trời, Đấng đã đem ta ra khỏi nhà cha ta và quê hương ta, đã phán và thề với ta rằng: ‘Ta sẽ ban cho dòng dõi con đất nầy!’ Chính Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi, và tại đó ngươi hãy cưới cho con trai ta một người vợ.

8 Nếu cô gái ấy không chịu theo ngươi, thì ngươi sẽ khỏi mắc lời thề với ta. Dù thế nào ngươi cũng không được đưa con ta về đó.”

9 Vậy người đầy tớ đặt tay dưới đùi Áp-ra-ham, chủ mình, và thề sẽ làm theo lời ông dặn bảo.

10 Người đầy tớ chọn mười con lạc đà trong bầy của chủ rồi lên đường, đem theo tất cả các lễ vật quý từ tay chủ giao. Ông đi đến vùng Mê-sô-pô-ta-mi, vào thành của Na-cô.

11 Ông cho lạc đà quỳ gối nằm nghỉ bên ngoài thành, cạnh một giếng nước, vào buổi chiều là giờ các cô gái ra múc nước.

12 Ông cầu nguyện: “Lạy Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ con ơi! Xin cho con hôm nay được toại nguyện và xin tỏ lòng nhân từ với chủ con là Áp-ra-ham!

13 Nầy, con đứng cạnh giếng nước, và các cô gái của dân trong thành sẽ ra đây múc nước.

14 Khi con nói với cô gái nào rằng: ‘Xin cô vui lòng nghiêng vò cho tôi uống một ngụm nước,’ mà cô ấy trả lời: ‘Xin mời ông, tôi cũng sẽ cho lạc đà của ông uống nữa,’ thì đó chính là người mà Chúa định cho Y-sác, đầy tớ Ngài. Qua việc nầy con sẽ biết rằng Chúa đã tỏ lòng nhân từ đối với chủ con.”

15 Người đầy tớ chưa dứt lời cầu nguyện, thì kìa, Rê-bê-ca vác vò trên vai đi ra. Nàng là con gái của Bê-tu-ên. Bê-tu-ên là con trai của Minh-ca, vợ Na-cô; Na-cô là em trai của Áp-ra-ham.

16 Cô gái rất xinh đẹp, còn trinh trắng, chưa gả cho ai. Cô xuống giếng múc đầy vò nước rồi trở lên.

17 Người đầy tớ chạy đến trước mặt cô và nói: “Xin cô cho tôi uống một ngụm nước trong vò.”

18 Cô gái nói: “Thưa chúa, xin mời ngài uống nước”, rồi cô vội vàng hạ vò nước xuống tay và cho ông uống.

19 Sau khi cho ông uống, cô nói tiếp: “Tôi cũng sẽ múc nước cho mấy con lạc đà của ông uống nữa, chúng sẽ uống cho đến khi đã khát mới thôi.”

20 Cô gái vội vàng đổ nước trong vò ra máng rồi chạy xuống giếng múc thêm nữa cho tất cả các con lạc đà uống.

21 Người đầy tớ cứ lặng lẽ nhìn cô gái để xem Đức Giê-hô-va có làm cho chuyến đi của mình thành công hay không.

22 Khi lạc đà vừa uống xong, người đầy tớ lấy một chiếc khoen vàng khoảng hai chỉ, và một đôi xuyến vàng khoảng ba lượng

23 và hỏi cô gái: “Xin cho tôi biết cô là con ai? Trong nhà cha cô có chỗ nào cho chúng tôi nghỉ qua đêm được không?”

24 Cô gái đáp: “Tôi là con gái của Bê-tu-ên, cháu nội của Minh-ca và Na-cô.”

25 Rồi cô nói tiếp: “Nhà chúng tôi có nhiều rơm và cỏ, cũng có chỗ nghỉ đêm nữa.”

26 Người đầy tớ cúi đầu và sấp mình trước mặt Đức Giê-hô-va,

27 và nói: “Cảm tạ Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ con! Ngài luôn nhân từ và thành tín đối với chủ con! Về phần con, Đức Giê-hô-va đã đưa đường con đến tận nhà anh em của chủ con.”

28 Cô gái trẻ chạy về, thuật mọi chuyện cho cả nhà mẹ mình nghe.

29 Rê-bê-ca có một người anh tên là La-ban. La-ban chạy ra chỗ người đầy tớ, bên giếng nước.

30 Vừa thấy chiếc khoen vàng và đôi xuyến trên tay cô em gái, và nghe Rê-bê-ca thuật lại những gì người ấy nói, thì La-ban đến chỗ ông ta và thấy ông đang đứng gần bên mấy con lạc đà, cạnh giếng nước.

31 Anh ta nói: “Xin mời người được Đức Giê-hô-va ban phước vào nhà! Sao ông lại đứng ngoài nầy? Tôi đã chuẩn bị chỗ nghỉ cho ông và cho cả mấy con lạc đà rồi.”

32 Người đầy tớ vào nhà. La-ban tháo yên cho lạc đà, đem cỏ và rơm cho các con thú đó rồi lấy nước cho người đầy tớ và những người cùng đi với ông rửa chân.

33 Thức ăn đã dọn sẵn, nhưng người đầy tớ nói: “Tôi sẽ không ăn cho đến khi tôi nói được những gì cần phải nói.” La-ban đáp: “Xin ông cứ nói.”

34 Ông nói: “Tôi là đầy tớ của Áp-ra-ham.

35 Đức Giê-hô-va đã ban phước dồi dào cho chủ tôi và làm cho chủ tôi trở nên thịnh vượng. Ngài ban cho chủ tôi chiên bò, bạc vàng, tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa.

36 Bà Sa-ra, vợ chủ tôi lúc về già đã sinh cho chủ tôi một con trai và ông đã giao tất cả gia tài mình cho con trai đó.

37 Chủ tôi đã bắt tôi thề rằng: ‘Ngươi sẽ không cưới cho con trai ta một người vợ trong số những con gái của người Ca-na-an, nơi ta đang cư ngụ,

38 mà phải về nhà cha ta, đến với bà con ta, và cưới cho con trai ta một người vợ.’

39 Tôi đã thưa với chủ tôi rằng: ‘Có thể cô gái ấy sẽ không chịu theo tôi.’

40 Nhưng ông chủ bảo: ‘Đức Giê-hô-va là Đấng ta phụng sự sẽ sai thiên sứ theo ngươi và giúp cho chuyến đi của ngươi thành công. Ngươi sẽ cưới cho con trai ta một người vợ trong vòng bà con ta, từ nhà cha ta.

41 Ngươi sẽ không mắc lời thề với ta khi ngươi đến với bà con ta; dù họ không chịu gả thì ngươi không bị ràng buộc bởi lời thề với ta.’

42 Hôm nay, khi đến giếng nước, tôi có cầu nguyện rằng: ‘Lạy Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ con! Xin Ngài giúp cho chuyến đi của con được thành công.

43 Bây giờ con đứng bên giếng nước nầy, nếu có một cô gái trẻ nào ra múc nước và con nói với cô đó rằng: “Xin cô cho tôi uống một ngụm nước trong vò,”

44 mà cô ấy trả lời: “Xin mời ông, tôi cũng sẽ múc nước cho các con lạc đà của ông uống nữa,” thì kể như cô gái trẻ đó là người mà Đức Giê-hô-va đã định cho con trai của chủ con!’

45 Tôi chưa dứt lời thầm nguyện, bỗng dưng Rê-bê-ca vác vò trên vai đi ra, xuống giếng múc nước. Tôi nói với nàng: ‘Xin cho tôi miếng nước.’

46 Cô gái nhanh nhẹn hạ vò trên vai xuống rồi nói: ‘Xin mời ông uống nước, tôi cũng sẽ cho lạc đà của ông uống nữa.’ Thế là tôi uống và cô cũng đã cho các lạc đà uống nữa.

47 Tôi hỏi: ‘Cô là con gái nhà ai?’ Nàng đáp: ‘Tôi là con gái Bê-tu-ên, cháu nội của Na-cô và Minh-ca.’ Tôi đeo chiếc khoen vào mũi và đôi xuyến vào tay cô.

48 Tôi cúi đầu và sấp mình trước mặt Đức Giê-hô-va, ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ tôi, Đấng đã dẫn tôi vào con đường chính đáng để chọn cô cháu nội của em trai chủ tôi cho con trai ông ấy.

49 Vậy bây giờ, nếu các ông muốn tỏ lòng ưu ái và chân thành với chủ tôi, xin nói cho tôi biết. Nếu không đồng ý cũng xin cứ nói, để tôi liệu bề xoay xở.”

50 La-ban và Bê-tu-ên đáp: “Điều nầy đến từ Đức Giê-hô-va, chúng tôi không thể nói với ông nên hay không nên được.

51 Kìa, Rê-bê-ca đang ở trước mặt ông. Ông hãy dẫn cháu đi để nó được làm vợ của con trai chủ ông như lời Đức Giê-hô-va phán dạy.”

52 Vừa nghe họ nói, người đầy tớ của Áp-ra-ham sấp mình xuống thờ lạy Đức Giê-hô-va.

53 Ông lấy các thứ nữ trang bằng bạc vàng và y phục trao cho Rê-bê-ca; ông cũng lấy các tặng vật quý giá dâng cho anh và mẹ nàng.

54 Rồi người đầy tớ và các người cùng đi, ăn uống và nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, khi họ thức dậy, người đầy tớ nói: “Xin cho tôi trở về với chủ của tôi.”

55 Nhưng anh và mẹ cô gái nói: “Xin cho cháu ở lại với chúng tôi thêm ít ngày nữa, khoảng chừng mười bữa rồi nó sẽ đi.”

56 Người đầy tớ nói: “Xin đừng cầm giữ tôi, vì Đức Giê-hô-va đã cho chuyến đi của tôi thành công. Xin cho tôi lên đường để tôi trở về với chủ tôi.”

57 Họ nói: “Chúng tôi sẽ gọi cô gái và hỏi ý kiến nó thế nào.”

58 Họ gọi Rê-bê-ca và hỏi: “Con có muốn đi với người nầy không?” Nàng đáp: “Con muốn đi.”

59 Vậy họ đưa em gái họ là Rê-bê-ca và người vú của nàng lên đường cùng với người đầy tớ của Áp-ra-ham và những người cùng đi.

60 Họ chúc phước cho Rê-bê-ca rằng: “Em gái chúng ta ơi! Chúc em được trở thành người mẹ Của muôn triệu người, Và dòng dõi em chiếm được Cổng thành quân địch.”

61 Rê-bê-ca và các nữ tì đứng dậy, cưỡi lạc đà và đi theo người đầy tớ đó. Vậy, người đầy tớ đưa Rê-bê-ca lên đường.

62 Bấy giờ, Y-sác đang ở Nê-ghép và từ giếng La-chai Roi trở về.

63 Trời về chiều, Y-sác đi ra ngoài đồng để suy ngẫm. Chàng ngước mắt lên và chợt thấy đàn lạc đà từ đâu đang đến gần.

64 Nàng Rê-bê-ca cũng ngước mắt lên và thấy Y-sác. Nàng liền xuống khỏi lạc đà,

65 và hỏi người đầy tớ: “Người đàn ông ở đằng kia đang vượt cánh đồng để đón chúng ta là ai vậy?” Người đầy tớ thưa: “Đó là chủ của tôi.” Nàng liền lấy lúp che mặt lại.

66 Người đầy tớ thuật lại cho Y-sác mọi việc ông đã làm.

67 Y-sác đưa Rê-bê-ca vào trại của Sa-ra, mẹ mình, cưới nàng làm vợ và yêu thương nàng. Vậy, Y-sác được khuây khỏa sau cái chết của mẹ mình.

25

1 Áp-ra-ham cưới một người vợ khác tên là Kê-tu-ra.

2 Bà sinh cho ông: Xim-ram, Giốc-chan, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác và Su-ách.

3 Giốc-chan sinh Sê-ba và Đê-đan. Con cháu của Đê-đan là gia tộc A-chu-rim, Lê-tu-chim và Lê-um-mim.

4 Con trai của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa và Ên-đa. Tất cả những người trên thuộc dòng dõi Kê-tu-ra.

5 Áp-ra-ham cho Y-sác tất cả gia tài mình.

6 Nhưng đang khi còn sống, ông cho các con dòng thứ một số phẩm vật và bảo họ đến ở vùng đất phía đông, cách xa Y-sác là con dòng chính.

7 Áp-ra-ham hưởng thọ được một trăm bảy mươi lăm tuổi.

8 Ông trút hơi thở cuối cùng và qua đời khi tuổi cao tác lớn, được mãn nguyện trong cuộc sống, và được trở về với tổ tông mình.

9 Hai con trai ông là Y-sác và Ích-ma-ên đã an táng ông trong hang đá Mặc-bê-la, thuộc cánh đồng của Ép-rôn, con trai Sô-ha, người Hê-tít, phía đông Mam-rê.

10 Đó là cánh đồng mà Áp-ra-ham đã mua lại của con cháu gia tộc Hếch. Áp-ra-ham được an táng tại đó cùng với vợ ông là Sa-ra.

11 Sau khi Áp-ra-ham qua đời, Đức Giê-hô-va ban phước cho Y-sác, con trai ông. Y-sác cư ngụ gần giếng La-chai Roi.

12 Đây là dòng dõi Ích-ma-ên, con trai Áp-ra-ham, do A-ga, nữ tì người Ai Cập của Sa-ra, sinh ra.

13 Đây là tên các con trai của Ích-ma-ên, sắp xếp theo thứ tự ngày sinh: Con trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-ba-giốt, kế đến là Kê-đa, Át-bê-ên, Mi-bô-sam,

14 Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa,

15 Ha-đát, Thê-ma, Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma.

16 Đó là các con trai của Ích-ma-ên và tên của họ, đặt theo tên làng và nơi họ đóng trại. Đó là mười hai thủ lĩnh của dân tộc họ.

17 Ích-ma-ên hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi, rồi trút hơi và qua đời, được trở về với tổ tông mình.

18 Dòng dõi ông định cư trong vùng từ Ha-vi-la đến Xu-rơ, phía đông Ai Cập, về hướng A-si-ri. Họ sống trong tình trạng thù nghịch với tất cả anh em mình.

19 Đây là dòng dõi của Y-sác, con trai Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sinh Y-sác.

20 Khi được bốn mươi tuổi, Y-sác cưới Rê-bê-ca, con gái của Bê-tu-ên và là em gái của La-ban, đều là người A-ram, thuộc xứ Pha-đan A-ram.

21 Y-sác khẩn cầu Đức Giê-hô-va cho vợ mình vì bà hiếm muộn. Đức Giê-hô-va nhậm lời khẩn cầu của ông nên Rê-bê-ca mang thai.

22 Nhưng các thai nhi đụng nhau trong bụng nên bà nói: “Tại sao điều nầy xảy ra cho tôi?” Rồi bà cầu hỏi Đức Giê-hô-va.

23 Đức Giê-hô-va phán: Hai nước đang ở trong bụng con, Và hai dân tộc từ bụng con sẽ phân rẽ; Dân nầy mạnh hơn dân kia, Và đứa lớn phải phục vụ đứa nhỏ.

24 Khi đến ngày sinh nở, quả nhiên bà sinh đôi.

25 Đứa ra trước đỏ hồng, lông toàn thân trông như cái áo choàng bằng lông nên được đặt tên là Ê-sau.

26 Sau đó, đứa em ra đời, tay nắm gót Ê-sau nên được đặt tên là Gia-cốp. Khi hai đứa trẻ ra đời, Y-sác đã được sáu mươi tuổi.

27 Khi hai đứa trẻ lớn lên, Ê-sau trở nên một thợ săn giỏi, thích rong ruổi ngoài đồng ruộng, còn Gia-cốp là người trầm tĩnh, thường ở trong trại.

28 Y-sác thương Ê-sau hơn vì ông thích ăn thịt rừng, còn Rê-bê-ca lại thương Gia-cốp hơn.

29 Một hôm, khi Gia-cốp đang hầm một món súp thì Ê-sau từ ngoài đồng về, đói lả.

30 Ê-sau nói với Gia-cốp: “Em cho anh ăn ngay món gì đo đỏ kia đi, vì anh đang đói lả người!” — Vì vậy, người ta gọi Ê-sau là Ê-đôm.

31 Gia-cốp nói: “Anh bán quyền trưởng nam cho em trước đi.”

32 Ê-sau bảo: “Sắp chết đến nơi rồi, anh còn dùng quyền trưởng nam làm gì nữa?”

33 Gia-cốp nói: “Vậy thì anh hãy thề trước đi.” Ê-sau liền thề và bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp.

34 Rồi Gia-cốp cho Ê-sau ăn bánh và súp đậu. Ăn uống xong, Ê-sau đứng dậy và đi. Ê-sau đã khinh rẻ quyền trưởng nam như thế đấy.

26

1 Ngoài trận đói đã xảy ra trước đây trong thời Áp-ra-ham, bây giờ trong xứ lại xảy ra một trận đói nữa. Vì thế, Y-sác đi đến Ghê-ra, gặp A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin.

2 Đức Giê-hô-va hiện đến với ông và phán: “Đừng xuống Ai Cập, hãy ở trong xứ mà Ta sẽ chỉ cho con.

3 Hãy tạm cư trong xứ nầy, Ta sẽ ở cùng con và ban phước cho con; vì Ta sẽ ban cho con và dòng dõi con tất cả các vùng đất nầy và Ta sẽ làm trọn lời Ta đã thề với Áp-ra-ham, cha của con.

4 Ta sẽ làm cho dòng dõi con nhiều như sao trên trời và ban cho dòng dõi con tất cả các vùng đất nầy. Mọi dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước;

5 vì Áp-ra-ham đã vâng lời Ta, tuân giữ những điều Ta truyền dạy cũng như các điều răn, mệnh lệnh và luật lệ của Ta.”

6 Vậy Y-sác ở tại Ghê-ra.

7 Vì Rê-bê-ca có nhan sắc nên khi dân địa phương hỏi Y-sác về vợ ông thì ông bảo: “Cô ấy là em gái tôi”. Ông ngại nói: “Cô ấy là vợ tôi” vì sợ những người đàn ông trong xứ có thể vì nàng mà giết mình.

8 Y-sác đã ở đó một thời gian dài thì một hôm, A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin, nhìn qua cửa sổ và thấy Y-sác đang âu yếm vợ là Rê-bê-ca.

9 A-bi-mê-léc đòi Y-sác đến và nói: “Cô ấy chính là vợ ngươi! Tại sao ngươi lại nói: ‘Cô ấy là em gái tôi’?” Y-sác thưa với vua: “Vì tôi thầm nghĩ không khéo mình phải bỏ mạng vì nàng chăng.”

10 A-bi-mê-léc hỏi: “Ngươi đã làm gì cho chúng ta vậy? Nếu lỡ có một người dân đến nằm với vợ ngươi thì ngươi đã làm cho chúng ta mắc tội rồi!”

11 Vì thế, A-bi-mê-léc truyền lệnh cho toàn dân rằng: “Ai đụng đến người nầy hoặc vợ ông ta thì sẽ bị xử tử.”

12 Y-sác gieo hạt giống trong xứ đó và năm ấy ông thu hoạch gấp trăm lần, vì Đức Giê-hô-va ban phước cho ông.

13 Ông trở nên thịnh vượng, của cải ngày một nhiều thêm đến nỗi ông thành một người vô cùng giàu có.

14 Ông có nhiều bầy chiên, bầy bò và rất nhiều đầy tớ nên bị người Phi-li-tin ghen tị.

15 Tất cả những giếng mà trước đây các đầy tớ của Áp-ra-ham, cha ông, đã đào, bây giờ đều bị người Phi-li-tin lấy đất bít lại.

16 A-bi-mê-léc nói với Y-sác: “Ngươi hãy rời xa chúng ta, vì ngươi đã trở nên quá hùng mạnh so với chúng ta.”

17 Vậy, Y-sác bỏ nơi ấy, đến đóng trại tại thung lũng Ghê-ra và cư ngụ tại đó.

18 Y-sác đào lại mấy cái giếng đã đào trong đời Áp-ra-ham, cha mình. Các giếng ấy đã bị người Phi-li-tin lấp lại sau khi Áp-ra-ham qua đời. Ông gọi tên các giếng đó theo tên mà cha ông đã đặt.

19 Nhưng khi các đầy tớ của Y-sác đào giếng trong thung lũng và gặp được một mạch nước phun,

20 thì những người chăn chiên ở Ghê-ra đến tranh giành với các người chăn chiên của Y-sác. Họ nói: “Mạch nước nầy là của chúng tôi”, nên ông đặt tên giếng nầy là Ê-sết, vì họ đã tranh giành với ông.

21 Sau đó, các đầy tớ đào một giếng khác và cũng bị tranh giành, nên ông đặt tên giếng nầy là Sít-na.

22 Y-sác bỏ chỗ đó đi đào một giếng khác và giếng nầy không bị tranh giành, nên ông đặt tên là Rê-hô-bốt, và nói: “Bây giờ Đức Giê-hô-va đã cho chúng ta chỗ ở rộng rãi, và chúng ta sẽ được thịnh vượng trong xứ nầy.”

23 Từ chỗ đó, Y-sác đi lên Bê-e Sê-ba.

24 Đêm ấy, Đức Giê-hô-va hiện đến và phán với ông: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, cha của con. Đừng sợ, vì Ta ở với con. Ta sẽ ban phước cho con và làm cho dòng dõi con gia tăng, vì Áp-ra-ham là đầy tớ Ta!”

25 Y-sác lập một bàn thờ, cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va và đóng trại tại đó. Rồi các đầy tớ của ông đào ở đó một cái giếng.

26 Vua A-bi-mê-léc từ Ghê-ra đến viếng thăm Y-sác. Cùng đi có cố vấn A-hu-sát và chỉ huy trưởng Phi-côn.

27 Y-sác hỏi: “Các ông ghét tôi và đã đuổi tôi xa các ông, sao các ông còn đến tìm tôi làm gì nữa?”

28 Họ trả lời: “Chúng ta thấy rõ Đức Giê-hô-va đã phù hộ ngươi, nên chúng ta nghĩ là giữa ngươi với chúng ta phải có một lời thề để kết ước với nhau.

29 Ngươi phải thề chẳng bao giờ làm hại chúng ta cũng như chúng ta đã không đụng đến ngươi, trái lại còn hậu đãi và để ngươi ra đi bình an. Bây giờ ngươi là người được Đức Giê-hô-va ban phước.”

30 Y-sác dọn một bữa tiệc và họ cùng ăn uống với nhau.

31 Sáng hôm sau họ dậy sớm, lập lời thề với nhau. Rồi Y-sác tiễn các người đó lên đường và họ ra đi bình an.

32 Cũng trong ngày đó, các đầy tớ của Y-sác đến báo với ông về cái giếng họ mới đào. Họ nói: “Chúng tôi đã tìm thấy nước.”

33 Ông đặt tên giếng đó là Si-ba. Vì vậy mà thành ấy có tên là Bê-e Sê-ba cho đến ngày nay.

34 Khi được bốn mươi tuổi thì Ê-sau cưới vợ, một người tên là Giu-đít, con gái của Bê-ê-ri, người Hê-tít, và một người tên là Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.

35 Hai cô dâu nầy là nỗi đắng cay cho cuộc đời Y-sác và Rê-bê-ca.

27

1 Y-sác tuổi cao, mắt mờ không còn thấy được nữa. Ông gọi Ê-sau, con trưởng nam, và nói: “Con ơi!” Ê-sau thưa: “Dạ, con đây.”

2 Ông nói: “Nầy, cha đã già rồi, chẳng biết chết ngày nào.

3 Bây giờ, con hãy lấy khí giới, ống tên và cây cung của con, ra đồng săn thú rừng cho cha.

4 Rồi con làm một món thật ngon theo sở thích của cha, và dọn lên cho cha ăn để cha chúc phước cho con trước khi qua đời.”

5 Lúc Y-sác nói với Ê-sau, con trai mình, thì Rê-bê-ca nghe được. Vì vậy, trong khi Ê-sau ra đồng săn thú rừng để đem về

6 thì Rê-bê-ca nói với Gia-cốp, con trai mình: “Nầy, mẹ vừa nghe cha con nói với Ê-sau, anh con, và dặn:

7 ‘Hãy đem thịt rừng về nấu cho cha một món thật ngon để cha ăn và chúc phước cho con trước mặt Đức Giê-hô-va trước khi cha qua đời.’

8 Vậy, con ơi, bây giờ hãy nghe lời mẹ bảo.

9 Con mau ra ngoài bầy gia súc, bắt cho mẹ hai dê con thật mập, rồi mẹ sẽ làm một món thật ngon, đúng với sở thích của cha con.

10 Con sẽ đem đến cho cha ăn để ông chúc phước cho con trước khi qua đời.”

11 Nhưng Gia-cốp thưa với mẹ: “Mẹ xem, Ê-sau, anh con, người thì đầy lông, còn con thì nhẵn nhụi.

12 Biết đâu cha sẽ rờ con và con bị phát hiện là kẻ lừa gạt. Vậy thì con tự chuốc lấy sự rủa sả chứ chẳng phải phước lành đâu.”

13 Mẹ Gia-cốp bảo: “Con ơi, để mẹ chịu sự rủa sả đó cho con; con cứ nghe lời mẹ, ra bắt hai dê con đi.”

14 Vậy, Gia-cốp đi bắt hai dê con đem đến cho mẹ, và bà làm món ăn ngon, hợp với sở thích của người cha.

15 Rê-bê-ca lấy quần áo tốt nhất của Ê-sau, con trưởng nam, để sẵn trong nhà mà mặc vào cho Gia-cốp, con trai út.

16 Bà còn lấy da dê con bọc hai tay và phần cổ nhẵn nhụi của Gia-cốp.

17 Rồi Rê-bê-ca đặt món ăn ngon và bánh mà bà đã sửa soạn vào tay Gia-cốp, con trai mình.

18 Gia-cốp đến gần cha và thưa: “Cha ơi!” Y-sác đáp: “Cha đây, con là đứa nào đấy?”

19 Gia-cốp thưa: “Con là Ê-sau, con trưởng nam của cha đây. Con đã làm như lời cha dặn bảo. Xin cha ngồi dậy, ăn món thịt săn của con rồi cha đích thân chúc phước cho con.”

20 Y-sác hỏi: “Sao con săn được nhanh thế?” Gia-cốp thưa: “Nhờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha giúp con được may mắn.”

21 Y-sác nói với Gia-cốp: “Con ơi, con lại gần đây để cha rờ xem con có phải là Ê-sau, con của cha không.”

22 Gia-cốp lại gần cha mình là Y-sác. Ông rờ và nói: “Giọng nói thì của Gia-cốp, mà tay lại của Ê-sau.”

23 Y-sác không nhận ra Gia-cốp, vì hai tay cũng có lông như của anh là Ê-sau, nên Y-sác chúc phước cho Gia-cốp.

24 Ông lại hỏi: “Có đúng con là Ê-sau, con trai của cha không?” Gia-cốp thưa: “Dạ phải, chính con đây.”

25 Rồi Y-sác bảo: “Đem cho cha món thịt rừng con săn được để cha ăn và chúc phước cho con.” Gia-cốp dọn cho cha ăn và cũng mang rượu đến cho cha uống nữa.

26 Rồi Y-sác nói với Gia-cốp: “Con ơi, hãy lại gần và hôn cha đi.”

27 Gia-cốp lại gần và hôn cha. Y-sác ngửi mùi thơm từ áo con, liền chúc phước cho. Ông nói: “Nầy, mùi hương của con ta Khác nào mùi hương của cánh đồng mà Đức Giê-hô-va đã ban phước.

28 Cầu xin Đức Chúa Trời ban cho con sương móc từ trời, Đượm màu mỡ của đất, Dư dật lúa mì và rượu nho.

29 Nguyện các dân phục vụ con, Các nước quỳ lạy con! Hãy cai trị anh em con, Các con trai của mẹ con đều quỳ lạy con! Ai nguyền rủa con sẽ bị nguyền rủa lại, Ai cầu phước cho con sẽ được ban phước lại!”

30 Khi Y-sác vừa chúc phước cho Gia-cốp xong và Gia-cốp vừa lui ra khỏi chỗ cha mình thì Ê-sau, anh của chàng, đi săn trở về.

31 Ê-sau cũng nấu một món thật ngon và đem vào mời cha. Chàng thưa: “Xin cha ngồi dậy và ăn món thịt săn của con trai cha để cha chúc phước cho con.”

32 Y-sác, cha của Ê-sau, hỏi: “Con là đứa nào?” Ê-sau thưa: “Con là Ê-sau, con trưởng nam của cha đây.”

33 Y-sác giật bắn cả người, run rẩy hỏi: “Vậy chứ đứa nào đã săn thịt rừng và đem vào mời cha đó? Trước khi con về, cha đã ăn hết và đã chúc phước cho nó rồi; vậy là nó vẫn được ban phước.”

34 Vừa nghe lời cha nói xong, Ê-sau bật lên một tiếng kêu rất lớn và vô cùng thảm thiết. Chàng nói với cha mình: “Cha ơi! Xin cha cũng chúc phước cho cả con nữa!”

35 Nhưng Y-sác nói: “Em con đã dùng thủ đoạn mà đến và cướp mất lời chúc phước dành cho con rồi.”

36 Ê-sau nói: “Có phải đúng như tên gọi nó là Gia-cốp mà đã hai lần nó chiếm chỗ của con chăng? Nó đã chiếm quyền trưởng nam của con, bây giờ còn chiếm luôn phước lành của con nữa.” Rồi ông nói tiếp: “Cha không dành lại cho con một phước lành nào sao?”

37 Y-sác đáp: “Nầy, cha đã lập nó làm chủ của con, đã cho anh em nó làm đầy tớ nó, và đã chu cấp lúa mì và rượu cho nó. Vậy cha còn làm được gì cho con đây, con ơi!”

38 Ê-sau thưa: “Cha ơi! Cha chỉ có một lời chúc phước thôi sao? Xin cha chúc phước cho con với, cha ơi!” Rồi, Ê-sau khóc òa lên.

39 Y-sác, cha của Ê-sau, nói: “Nầy, nơi con ở sẽ thiếu màu mỡ của đất, Và sương móc từ trời.

40 Con sẽ sống nhờ thanh gươm, Và làm đầy tớ cho em con. Nhưng khi còn rày đây mai đó, Con sẽ bẻ cái ách của em con trên cổ con.”

41 Từ đó, Ê-sau căm ghét Gia-cốp vì lời chúc phước mà cha ban cho Gia-cốp. Ê-sau tự nhủ: “Cha ta sắp qua đời rồi; sau khi lo tang chế cho cha, ta sẽ giết Gia-cốp, em ta.”

42 Nhưng ý đồ của Ê-sau, con trưởng nam, đã đến tai Rê-bê-ca. Bà cho gọi Gia-cốp, con trai út đến và nói: “Nầy, Ê-sau anh con có ý định giết con cho hả giận.

43 Bây giờ, con ơi, hãy nghe lời mẹ, mau đứng dậy và trốn sang nhà La-ban, cậu con, ở Cha-ran đi.

44 Con cứ ở với cậu một thời gian cho đến khi anh con nguôi giận.

45 Khi cơn giận anh con qua rồi và anh con quên đi việc con đã gây ra cho nó, thì mẹ sẽ sai người đón con về. Lẽ nào mẹ phải mất cả hai đứa con trong một ngày sao?”

46 Sau đó, Rê-bê-ca nói với Y-sác: “Tôi chán không còn muốn sống nữa vì mấy cô dâu người Hê-tít. Nếu Gia-cốp kết hôn với một trong các con gái người Hê-tít, tức là một trong những cô gái của xứ nầy, thì tôi còn sống làm gì nữa?”

28

1 Y-sác gọi Gia-cốp đến, chúc phước và căn dặn: “Con không được kết hôn với bất cứ cô gái Ca-na-an nào cả.

2 Nhưng hãy mau đứng dậy, đi qua Pha-đan A-ram, đến nhà Bê-tu-ên, ông ngoại con, và tại đó con cưới một trong các con gái của cậu La-ban làm vợ.

3 Cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng ban phước cho con, làm cho dòng dõi con sinh sôi nẩy nở thật nhiều và trở thành một cộng đồng các dân tộc.

4 Cầu xin Ngài ban cho con và dòng dõi con phước lành của Áp-ra-ham để con sở hữu miền đất mà con đang cư ngụ, tức là miền đất mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham!”

5 Vậy, Y-sác sai Gia-cốp đi qua Pha-đan A-ram, đến nhà La-ban, con trai Bê-tu-ên người A-ram, là anh của Rê-bê-ca, mẹ của Gia-cốp và Ê-sau.

6 Ê-sau thấy Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và sai đến Pha-đan A-ram để cưới vợ, và trong lúc chúc phước cha còn dặn: “Con không được cưới con gái Ca-na-an.”

7 Ông cũng thấy Gia-cốp vâng lời cha mẹ đi đến Pha-đan A-ram.

8 Ê-sau biết rằng các cô dâu Ca-na-an không vừa ý Y-sác, cha mình,

9 cho nên ngoài hai người vợ đã có, Ê-sau đến nhà Ích-ma-ên cưới thêm Ma-ha-lát là con gái của Ích-ma-ên, cháu nội của Áp-ra-ham và em của Nê-ba-giốt.

10 Gia-cốp rời Bê-e Sê-ba đi đến Cha-ran.

11 Ông đến một chỗ kia và nghỉ đêm tại đó vì mặt trời đã lặn. Ông lấy một hòn đá gối đầu và nằm ngủ tại đó.

12 Ông nằm mơ thấy một cái cầu thang nối liền từ đất lên trời và các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên, đi xuống trên các bậc thang đó.

13 Kìa, Đức Giê-hô-va đứng trước mặt ông và phán: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ con, cũng là Đức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ ban cho con và dòng dõi con đất mà con đang nằm ngủ.

14 Dòng dõi con sẽ đông như cát bụi trên đất, lan tràn khắp đông tây nam bắc, và mọi gia tộc trên đất sẽ nhờ con và dòng dõi con mà được phước.

15 Nầy, Ta ở với con, con đi đâu, Ta sẽ theo gìn giữ đó, và đem con trở về xứ nầy. Ta không bao giờ bỏ con cho đến khi Ta hoàn tất những điều Ta đã hứa với con.”

16 Gia-cốp thức giấc và nói: “Thật Đức Giê-hô-va đang ngự tại nơi nầy mà tôi không biết!”

17 Ông phát sợ và nói: “Nơi nầy thật đáng sợ! Đây chính là đền của Đức Chúa Trời, chính là cổng thiên đàng!”

18 Sáng hôm sau, Gia-cốp dậy sớm, lấy hòn đá gối đầu của mình dựng đứng lên làm cây trụ và đổ dầu lên đỉnh trụ đó.

19 Ông đặt tên nơi nầy là Bê-tên; trước đó thành nầy có tên là Lu-xơ.

20 Gia-cốp khấn nguyện rằng: “Nếu Đức Chúa Trời ở với con, gìn giữ con trong lúc đi đường và ban cho con bánh ăn, áo mặc,

21 và cho con được bình an trở về nhà cha của con, thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời của con.

22 Hòn đá mà con đã dựng làm trụ sẽ là đền của Đức Chúa Trời, và con sẽ dâng lên Ngài một phần mười mọi thứ mà Ngài ban cho con.”

29

1 Gia-cốp lên đường đi đến xứ của dân phương Đông.

2 Ông nhìn thấy một cái giếng trong cánh đồng, cạnh đó có ba bầy chiên đang nằm nghỉ, vì đây là nơi các bầy súc vật uống nước. Có một tảng đá lớn đậy miệng giếng lại.

3 Khi các bầy súc vật tụ về đông đủ rồi, người ta lăn tảng đá trên miệng giếng đi và cho chiên uống nước, rồi lăn tảng đá về chỗ cũ, đậy miệng giếng lại.

4 Gia-cốp hỏi thăm mấy người chăn chiên: “Các anh ơi! Các anh từ đâu đến?” Họ đáp: “Chúng tôi từ Cha-ran đến.”

5 Ông hỏi: “Các anh có biết La-ban, con trai Na-cô không?” Họ nói: “Chúng tôi biết.”

6 Gia-cốp hỏi tiếp: “Ông ấy có mạnh giỏi không?” Họ trả lời: “Ông ấy vẫn mạnh giỏi. Ra-chên con gái của ông đang dẫn bầy chiên đến kìa.”

7 Gia-cốp nói: “Nầy, trời hãy còn sáng, chưa phải là lúc nhóm súc vật về. Sao các anh không cho chúng uống nước rồi thả cho chúng đi ăn tiếp?”

8 Họ đáp: “Chúng tôi không thể làm như vậy mà phải đợi cho tất cả các bầy súc vật về đủ, rồi mới lăn tảng đá trên miệng giếng cho chúng uống nước được.”

9 Khi Gia-cốp còn đang trò chuyện với các người chăn thì Ra-chên dẫn bầy chiên của cha cô đến, vì cô cũng là người chăn chiên.

10 Vừa thấy Ra-chên, con gái La-ban, cậu mình, Gia-cốp liền đến gần lăn tảng đá khỏi miệng giếng, và cho bầy chiên của cậu mình là La-ban, uống nước.

11 Gia-cốp hôn Ra-chên rồi khóc òa lên,

12 và nói cho cô biết rằng mình là bà con với cha cô, là con trai của Rê-bê-ca. Ra-chên liền chạy về báo tin cho cha.

13 Khi được tin về Gia-cốp, con trai của em gái mình, thì La-ban chạy ra đón, ôm chầm lấy Gia-cốp mà hôn, rồi đưa về nhà. Gia-cốp thuật cho La-ban mọi việc đã xảy ra cho mình.

14 La-ban nói: “Cháu đúng là cốt nhục của cậu.” Gia-cốp ở với cậu trong một tháng.

15 Một hôm La-ban nói với Gia-cốp: “Không lẽ vì là bà con của cậu mà cháu phục vụ không công cho cậu sao? Cháu cứ cho cậu biết tiền công của cháu là bao nhiêu.”

16 Bấy giờ, La-ban có hai con gái: cô chị tên là Lê-a, cô em tên là Ra-chên.

17 Mắt Lê-a yếu, còn Ra-chên có dáng người cân đối, nét mặt xinh tươi.

18 Gia-cốp yêu Ra-chên nên thưa với La-ban: “Vì Ra-chên, con gái út của cậu, cháu xin giúp việc cho cậu bảy năm.”

19 La-ban trả lời: “Thà cậu gả nó cho cháu còn hơn là gả cho người khác. Hãy ở lại đây với cậu.”

20 Vì Ra-chên, Gia-cốp đã giúp việc trong bảy năm. Nhưng bởi yêu nàng, Gia-cốp xem bảy năm như đôi ba ngày.

21 Sau đó, Gia-cốp nhắc La-ban: “Cháu đã hoàn tất thời gian giúp việc rồi, xin cậu giao vợ cháu lại để cháu được lui tới với nàng.”

22 La-ban tổ chức một bữa tiệc và mời tất cả xóm giềng đến dự.

23 Nhưng tối đó ông đưa Lê-a, con gái mình, đến với Gia-cốp, rồi Gia-cốp ăn nằm với Lê-a.

24 La-ban cũng cho nữ tì Xinh-ba theo hầu Lê-a, con gái mình.

25 Sáng hôm sau Gia-cốp mới biết đó là Lê-a. Ông hỏi La-ban: “Cha đã làm gì cho con vậy? Có phải vì Ra-chên mà con giúp việc cho nhà cha không? Sao cha lừa gạt con?”

26 La-ban đáp: “Ở đây không có lệ gả cô em trước khi gả cô chị.

27 Con cứ ở với Lê-a trọn tuần lễ cưới nầy đi, rồi cha sẽ gả luôn Ra-chên cho con; bù lại, con phải làm việc cho cha thêm bảy năm nữa.”

28 Gia-cốp làm theo lời, ở với Lê-a trọn tuần lễ cưới đó, rồi La-ban gả Ra-chên, con gái mình, cho Gia-cốp.

29 La-ban cũng cho nữ tì Bi-la theo hầu Ra-chên, con gái mình.

30 Gia-cốp cũng đi lại với Ra-chên, và yêu Ra-chên hơn Lê-a. Vậy, Gia-cốp giúp việc cho La-ban thêm bảy năm nữa.

31 Đức Giê-hô-va thấy Lê-a ít được thương yêu nên cho bà sinh con, còn Ra-chên lại hiếm muộn.

32 Lê-a mang thai và sinh con trai, đặt tên là Ru-bên và nói: “Đức Giê-hô-va đã thấy nỗi ưu phiền của tôi, bây giờ chồng sẽ yêu tôi.”

33 Bà lại mang thai và sinh con trai, đặt tên là Si-mê-ôn và nói: “Đức Giê-hô-va đã nghe biết tôi ít được yêu thương nên cho thêm đứa nầy.”

34 Bà mang thai lần nữa và sinh con trai. Bà nói: “Lần nầy chồng tôi sẽ gắn bó với tôi vì tôi đã sinh cho ông ba đứa con trai.” Vì vậy, bà đặt tên con là Lê-vi.

35 Bà lại mang thai và sinh con trai. Bà nói: “Lần nầy tôi ca ngợi Đức Giê-hô-va”. Vì thế, bà đặt tên con là Giu-đa. Rồi bà ngưng sinh đẻ.

30

1 Khi Ra-chên thấy mình không sinh con cho Gia-cốp thì ghen tị với chị, và nói với Gia-cốp: “Ông phải cho tôi có con, nếu không chắc tôi chết mất!”

2 Gia-cốp nổi giận nói với Ra-chên: “Tôi có quyền thay Đức Chúa Trời là Đấng không cho bà sinh đẻ được sao?”

3 Ra-chên nói: “Đây có Bi-la, nữ tì của tôi, ông hãy đi lại với nó, để nó thay tôi sinh con và nhờ nó mà tôi cũng có con nữa.”

4 Vậy, Ra-chên giao nữ tì Bi-la cho Gia-cốp làm hầu thiếp, và ông đi lại với nàng.

5 Bi-la mang thai và sinh cho Gia-cốp một đứa con trai.

6 Ra-chên nói: “Đức Chúa Trời đã minh xét cho tôi, nghe tiếng van nài của tôi, và ban cho tôi một con trai.” Vì vậy, bà đặt tên đứa bé là Đan.

7 Bi-la, nữ tì của Ra-chên, lại mang thai và sinh cho Gia-cốp một con trai thứ hai.

8 Ra-chên nói: “Tôi đã dốc sức chiến đấu với chị tôi, và tôi đã thắng.” Vì vậy, bà đặt tên đứa bé nầy là Nép-ta-li.

9 Khi Lê-a thấy mình ngưng sinh sản thì bắt nữ tì Xinh-ba giao cho Gia-cốp làm hầu thiếp.

10 Xinh-ba, nữ tì của Lê-a, sinh cho Gia-cốp một con trai.

11 Lê-a nói: “May mắn quá!” Rồi bà đặt tên đứa bé là Gát.

12 Xinh-ba, nữ tì của Lê-a, sinh một con trai thứ nhì cho Gia-cốp.

13 Lê-a nói: “Tôi hạnh phúc biết bao! Vì các cô gái sẽ gọi tôi là người có phước.” Bà đặt tên đứa trẻ là A-se.

14 Vào mùa gặt lúa mì, Ru-bên đi ra đồng, tìm được những trái táo rừng, và đem về biếu mẹ là Lê-a. Ra-chên nói với Lê-a: “Xin chị cho em vài trái táo rừng của con chị.”

15 Nhưng Lê-a nói: “Cướp chồng của tôi chưa đủ hay sao mà cô còn muốn lấy luôn mấy trái táo rừng của con trai tôi nữa?” Ra-chên nói: “Thế thì, em nhường ông ấy ở với chị đêm nay để đổi mấy trái táo rừng của con chị.”

16 Đến chiều tối, khi Gia-cốp từ ngoài đồng về, Lê-a ra đón ông và nói: “Ông hãy đến với tôi, vì tôi đã đổi ông bằng những trái táo rừng của con tôi rồi.” Vậy, đêm ấy Gia-cốp lại nằm với Lê-a.

17 Đức Chúa Trời nhậm lời Lê-a. Bà mang thai và sinh cho Gia-cốp đứa con trai thứ năm.

18 Lê-a nói: “Đức Chúa Trời đã trả công cho tôi, vì tôi đã giao nữ tì mình cho chồng.” Bà đặt tên cho đứa trẻ đó là Y-sa-ca.

19 Lê-a lại mang thai và sinh đứa con trai thứ sáu cho Gia-cốp.

20 Bà nói: “Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một món quà quý giá. Bây giờ chồng tôi sẽ quý trọng tôi vì tôi đã sinh cho ông sáu người con trai.” Bà đặt tên đứa trẻ nầy là Sa-bu-lôn.

21 Sau đó, bà sinh một đứa con gái và đặt tên là Đi-na.

22 Đức Chúa Trời nhớ đến Ra-chên, nhậm lời bà và cho bà sinh sản.

23 Bà mang thai và sinh một con trai. Bà nói: “Đức Chúa Trời đã cất bỏ nỗi nhục nhã cho tôi rồi.”

24 Bà đặt tên đứa trẻ là Giô-sép và nói: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban thêm cho tôi một con trai nữa!”

25 Sau khi Ra-chên sinh Giô-sép, Gia-cốp thưa với La-ban: “Xin cha cho con đi để con trở về quê hương, xứ sở con.

26 Xin giao hai vợ và con cái của con lại để con ra đi. Cha thừa biết con đã vì họ mà phục vụ cha thế nào rồi.”

27 La-ban nói: “Ước gì cha được ơn trước mặt con! Cha linh cảm rằng Đức Giê-hô-va đã vì con mà ban phước cho cha.”

28 Ông nói thêm: “Con cứ định tiền công đi, cha sẽ trả.”

29 Gia-cốp nói: “Cha biết con đã giúp đỡ cha thế nào, và nhờ con mà đàn gia súc của cha đã gia tăng ra sao rồi.

30 Trước khi con đến, đàn gia súc của cha ít oi, nhưng bây giờ thì tăng lên gấp bội. Bàn chân con bước đến đâu, Đức Giê-hô-va ban phước cho cha đến đấy. Vậy, khi nào con mới được lo cho gia đình riêng của mình?”

31 La-ban nói: “Cha sẽ cho con cái gì đây?” Gia-cốp thưa: “Cha sẽ chẳng phải cho con thứ gì cả. Nếu cha đồng ý điều nầy thì con sẽ tiếp tục chăn giữ đàn gia súc cho cha.

32 Hôm nay, cha cho con kiểm soát tất cả các bầy gia súc của cha và tách ra khỏi bầy những con chiên và dê có vằn, có đốm, cũng như những chiên con màu đen. Đó sẽ là tiền công của con.

33 Sau nầy, khi cha xem xét tiền công của con thì lòng trung thực của con sẽ làm chứng cho con. Nếu trong bầy của con có bất cứ con dê nào không có vằn và đốm, hoặc chiên con nào lông không đen thì sẽ bị xem là vật ăn cắp.”

34 La-ban nói: “Được! Cha đồng ý với con.”

35 Nhưng ngay hôm ấy, La-ban tách riêng các dê đực có sọc và đốm, các dê cái có vằn và đốm, tất cả các con vật có đốm trắng và các chiên con có lông đen, rồi giao cho các con trai mình chăn giữ.

36 Ông để Gia-cốp ở xa mình một khoảng cách ba ngày đường. Gia-cốp chăn phần gia súc còn lại trong bầy của La-ban.

37 Gia-cốp tìm những cành bạch dương, cành bồ đào và cành bá tiên còn tươi, rồi lột vỏ theo từng đường sọc để lộ ra màu trắng trong thân cây.

38 Ông đặt những cành đã lột vỏ vào trong máng nước, trước mặt bầy thú, chỗ chúng đến uống nước. Vì các con thú thường bị kích dục khi đến uống nước

39 nên khi chúng nhìn những cành cây ấy mà giao phối thì sinh những con vật có sọc, có vằn và có đốm.

40 Gia-cốp tách riêng các chiên cái ra và cho chúng quay mặt về phía những con có sọc và màu đen trong bầy của La-ban. Ông làm vậy để gầy riêng cho mình một bầy gia súc, không để chung với bầy của La-ban.

41 Mỗi khi các con vật mập mạnh giao phối, thì Gia-cốp đặt các cành lột vỏ trong máng nước, trước mắt chúng, để chúng giao phối trước các cành đó.

42 Nhưng với các con vật gầy ốm thì ông không để các cành đó; vì vậy, các con vật ốm yếu thuộc về La-ban, còn những con mập mạnh thuộc về Gia-cốp.

43 Như vậy, ông càng lúc càng phát đạt, có nhiều đàn gia súc, tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa.

31

1 Gia-cốp nghe được lời của các con trai La-ban nói với nhau: “Gia-cốp đã sang đoạt tài sản của cha chúng ta, và nhờ tài sản đó mà trở nên giàu có.”

2 Gia-cốp cũng để ý đến nét mặt La-ban và thấy thái độ của ông đối với mình không còn như trước nữa.

3 Đức Giê-hô-va phán với Gia-cốp: “Hãy trở về nơi quê cha đất tổ và họ hàng của con. Ta sẽ ở với con.”

4 Gia-cốp sai người gọi Ra-chên và Lê-a ra đồng, nơi ông đang chăn bầy,

5 và nói: “Tôi thấy thái độ của cha các bà đối với tôi không còn như trước nữa; nhưng Đức Chúa Trời của cha tôi vẫn ở với tôi.

6 Chính các bà cũng biết rằng tôi đã dốc sức phục vụ cha các bà

7 mà ông ấy lại lường gạt tôi, và thay đổi tiền công của tôi đến mười lần. Nhưng Đức Chúa Trời không cho phép ông ấy làm hại tôi.

8 Nếu ông nói: ‘Những con vật có đốm sẽ là tiền công của con’, thì cả bầy đều đẻ con có đốm. Còn nếu ông nói: ‘Những con vật có sọc sẽ là tiền công của con’, thì cả bầy đều đẻ con có sọc.

9 Đức Chúa Trời đã lấy bầy gia súc của cha các bà mà ban cho tôi như vậy đó.

10 Trong mùa giao phối của gia súc, tôi nằm chiêm bao thấy mình ngước mắt nhìn các dê đực giao phối trong bầy đều có sọc, có vằn và có đốm.

11 Thiên sứ của Đức Chúa Trời gọi tôi trong chiêm bao: ‘Gia-cốp!’ Tôi thưa: ‘Có con đây!’

12 Thiên sứ nói: ‘Hãy ngước mắt lên mà nhìn, tất cả các dê đực đang giao phối đều có sọc, có vằn và có đốm, vì Ta đã thấy cách La-ban đối xử với con rồi.

13 Ta là Đức Chúa Trời tại Bê-tên, nơi con đã đổ dầu trên trụ đá và khấn nguyện với Ta. Bây giờ, con hãy đứng dậy, rời khỏi xứ nầy và trở về quê cha đất tổ của mình.’”

14 Ra-chên và Lê-a đáp: “Chúng tôi nào có gia tài hay sản nghiệp gì trong nhà cha chúng tôi nữa đâu.

15 Chẳng phải chúng tôi đã bị cha xem như người dưng đó sao? Vì ông đã gả bán chúng tôi và tiêu sạch cả tiền bạc bán gả chúng tôi.

16 Tất cả tài sản mà Đức Chúa Trời lấy từ cha chúng tôi đương nhiên thuộc về chúng ta và con cái chúng ta. Vậy bây giờ, ông cứ làm theo mọi điều Đức Chúa Trời đã phán dạy.”

17 Gia-cốp liền đứng dậy, đỡ vợ và con lên lạc đà,

18 dẫn theo tất cả súc vật và mọi tài sản mình có, tức là bầy súc vật mà ông đã gây dựng được ở Pha-đan A-ram, để trở về với Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.

19 Nhân lúc La-ban đi hớt lông chiên, Ra-chên lấy trộm các tượng thần trong nhà cha mình.

20 Gia-cốp đánh lừa La-ban, người A-ram, không cho ông biết ý định bỏ trốn của mình.

21 Vậy, ông trốn đi, đem theo tất cả những gì mình có, bắt đầu vượt qua sông và hướng thẳng về vùng đồi núi Ga-la-át.

22 Đến ngày thứ ba, khi được báo tin Gia-cốp đã trốn đi,

23 La-ban đem bà con anh em mình đuổi theo Gia-cốp suốt bảy ngày, và bắt kịp tại núi Ga-la-át.

24 Nhưng ban đêm, trong giấc chiêm bao, Đức Chúa Trời hiện đến với La-ban, người A-ram, và phán với ông: “Dù lành hay dữ, hãy thận trọng, đừng nặng lời với Gia-cốp.”

25 Khi La-ban bắt kịp Gia-cốp thì Gia-cốp đã đóng trại trên núi; La-ban và bà con anh em mình cũng đóng trại trên núi.

26 La-ban nói với Gia-cốp: “Con đã làm gì vậy? Tại sao con đánh lừa cha và dẫn các con gái của cha đi như tù binh vậy?

27 Tại sao con lén lút trốn đi và lừa gạt cậu? Sao không cho cha biết để cha tiễn các con đi cách vui vẻ trong tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống?

28 Sao con không để cho cha hôn từ biệt con cháu của cha? Con đã hành động thật dại dột!

29 Cha thừa sức để làm hại con, nhưng đêm qua Đức Chúa Trời của tổ phụ con đã phán với cha rằng: ‘Dù lành hay dữ, hãy thận trọng, đừng nặng lời với Gia-cốp.’

30 Bây giờ, vì quá mong muốn trở về quê cha đất tổ mà con đã ra đi, nhưng tại sao con lại lấy trộm các tượng thần của cha?”

31 Gia-cốp nói với La-ban: “Vì con sợ cha sẽ bắt hai người con gái của cha lại.

32 Còn nếu cha tìm thấy các tượng thần của cha nơi ai thì người đó sẽ phải chết. Bây giờ, trước sự chứng kiến của bà con chúng ta, cha cứ lục soát hành lý của con, vật gì thuộc về cha, xin cha lấy lại.” Gia-cốp thực tình không biết rằng Ra-chên đã lấy trộm các tượng thần đó.

33 Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a, trại hai nữ tì, nhưng chẳng tìm được gì cả. Từ trại Lê-a ông bước sang trại Ra-chên.

34 Ra-chên đã lấy các tượng thần đó và giấu dưới bành lạc đà rồi ngồi lên trên. La-ban lục soát khắp trại nhưng chẳng thấy các tượng thần.

35 Ra-chên thưa với cha: “Vì trong con có việc riêng của phụ nữ, con không tiện đứng dậy trước mặt cha, xin cha đừng giận con.” La-ban lục lọi nhưng chẳng thấy các tượng thần đâu cả.

36 Bấy giờ Gia-cốp nổi giận và trách La-ban: “Con có tội gì, có lỗi gì mà cha hằm hằm truy đuổi con như vậy!

37 Cha đã lục soát tất cả hành lý của con, cha có tìm được vật gì thuộc về nhà cha không? Cha cứ đem tang vật đó ra trước mặt anh em bà con hai bên, để họ phân xử cho chúng ta.

38 Suốt hai mươi năm con ở với cha, chiên và dê của cha không hề bị sẩy thai, và con chẳng bao giờ ăn thịt chiên đực trong bầy của cha.

39 Con cũng chưa hề đem về cho cha một con vật nào bị thú rừng cắn xé; nếu có thì chính con đã bồi thường cho cha rồi. Cha còn đòi luôn những con bị mất cắp ban ngày hay bị bắt trộm ban đêm.

40 Ban ngày con bị nắng thiêu, ban đêm chịu lạnh lẽo, ngủ không an giấc.

41 Hai mươi năm con ở trong nhà cha là thế đấy. Con phải giúp việc cho cha mười bốn năm để được hai cô con gái của cha, sáu năm để có được bầy súc vật từ bầy của cha, mà cha còn thay đổi tiền công của con đến mười lần.

42 Nếu Đức Chúa Trời của tổ phụ con, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, là Đấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ con, chắc bây giờ cha đã đuổi con đi với hai bàn tay trắng. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy nỗi đớn đau và công lao của con nên đêm qua Ngài đã phân xử rồi.”

43 La-ban trả lời Gia-cốp: “Các cô gái nầy là con gái của cha, các đứa trẻ nầy là cháu của cha, các bầy súc vật nầy là bầy của cha. Tất cả những gì con thấy đều là của cha. Nhưng hôm nay cha có thể làm gì được với các con gái và các cháu của cha đây?

44 Bây giờ, hãy đến, chúng ta cùng kết ước với nhau để làm bằng chứng giữa cha và con.”

45 Gia-cốp lấy một tảng đá, dựng lên làm trụ;

46 rồi bảo anh em họ hàng mình: “Hãy gom đá lại.” Họ gom đá lại, chất thành một đống, và ngồi ăn bên đống đá.

47 La-ban đặt tên đống đá đó là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta; còn Gia-cốp gọi là Ga-lét.

48 La-ban nói: “Hôm nay đống đá nầy làm chứng giữa cha và con.” Vì thế, người đặt tên nó là Ga-lét.

49 Đống đá nầy cũng được gọi là Mích-pa, vì La-ban có nói: “Cầu xin Đức Giê-hô-va canh giữ cha và con khi chúng ta xa cách nhau.

50 Nếu con bạc đãi các con gái của cha, hoặc ngoài các con gái của cha ra con còn cưới vợ khác, thì hãy nhớ rằng, dù không có người nào xem xét chúng ta, Đức Chúa Trời vẫn là nhân chứng giữa cha và con.”

51 La-ban còn nói với Gia-cốp: “Nầy là đống đá, nầy là trụ đá mà cha đã dựng lên giữa cha và con.

52 Đống đá nầy và trụ đá nầy làm chứng rằng cha không được vượt quá nơi nầy để đến chỗ con, và con cũng không được vượt quá nơi nầy để đến chỗ cha, với ý đồ xấu.

53 Cầu xin Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời của Na-cô phân xử giữa chúng ta!” Gia-cốp nhân danh Đấng mà cha mình là Y-sác kính sợ mà thề,

54 rồi dâng sinh tế tại trên núi, và mời các anh em bà con dùng bữa. Sau khi dùng bữa, họ nghỉ qua đêm trên núi.

55 Hôm sau, La-ban dậy sớm, hôn từ biệt và chúc phước cho con cháu, rồi lên đường trở về nhà.

32

1 Gia-cốp tiếp tục cuộc hành trình; các thiên sứ của Đức Chúa Trời gặp ông.

2 Khi thấy các vị đó, Gia-cốp nói: “Đây là trại quân của Đức Chúa Trời!”. Vì thế ông đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.

3 Gia-cốp sai sứ giả đi trước đến gặp Ê-sau, anh mình, tại xứ Sê-i-rơ thuộc địa phận Ê-đôm.

4 Ông dặn họ: “Các ngươi hãy thưa với Ê-sau, chúa ta rằng Gia-cốp, đầy tớ chúa, có nói: ‘Tôi đã tạm trú tại nhà La-ban và ở mãi đó cho đến ngày nay.

5 Tôi có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái. Tôi sai người đến thưa trước với anh để được anh vui lòng tiếp nhận.’”

6 Các sứ giả trở về nói với Gia-cốp: “Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ. Ông ấy đang đem bốn trăm người đến để đón chủ.”

7 Gia-cốp vô cùng kinh hãi và lo lắng. Ông chia các gia nhân cũng như các bầy chiên, bò, lạc đà thành hai toán.

8 Ông nghĩ: “Nếu Ê-sau đến và tấn công toán nầy thì toán kia sẽ chạy thoát được.”

9 Gia-cốp cầu nguyện: “Kính lạy Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ con! Đức Chúa Trời của Y-sác, cha con! Kính lạy Đức Giê-hô-va, là Đấng đã phán với con rằng: ‘Hãy trở về quê hương con và họ hàng con. Ta sẽ hậu đãi con.’

10 Con thật không xứng đáng với tình yêu thương và đức thành tín mà Ngài đã dành cho đầy tớ Ngài. Khi vượt qua sông Giô-đanh con chỉ có cây gậy thôi, thế mà hôm nay con đã có hai toán người và tài sản nầy.

11 Lạy Đức Chúa Trời, xin giải cứu con khỏi tay Ê-sau, anh con, vì con sợ anh ấy sẽ đến đánh giết con cùng vợ và các con của con nữa.

12 Nhưng chính Ngài đã hứa với con: ‘Chắc chắn Ta sẽ hậu đãi con và làm cho dòng dõi con đông như cát biển, không thể đếm được vì quá đông.’”

13 Ông nghỉ đêm tại đó, rồi chọn trong các thứ mình đang có để làm quà biếu cho Ê-sau, anh mình.

14 Quà biếu gồm có: Hai trăm dê cái và hai mươi dê đực; hai trăm chiên cái và hai mươi chiên đực;

15 ba mươi lạc đà cái và đàn con còn bú; bốn mươi bò cái và mười bò đực; hai mươi lừa cái và mười lừa đực.

16 Rồi ông giao vào tay các đầy tớ từng bầy riêng rẽ và dặn họ: “Các ngươi hãy đi trước ta và nhớ giữ khoảng cách giữa bầy nầy với bầy kia.”

17 Ông dặn người dẫn đầu: “Khi Ê-sau, anh ta, gặp và hỏi: ‘Chủ ngươi là ai? Ngươi đi đâu? Bầy súc vật đi trước ngươi đó thuộc về ai?’

18 Ngươi hãy trả lời: ‘Bầy súc vật nầy của đầy tớ ông là Gia-cốp. Đây là món quà ông ấy gửi biếu chúa tôi là Ê-sau; và nầy, ông ấy đang đi đằng sau chúng tôi.’”

19 Gia-cốp cũng dặn người thứ hai, thứ ba và tất cả những người đi theo giữ bầy rằng: “Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy lấy lời lẽ đó mà thưa gửi,

20 và nói: ‘Kìa, đầy tớ ngài là Gia-cốp, đang theo sau chúng tôi.’” Vì Gia-cốp thầm nghĩ: “Ta đưa các tặng vật nầy đi trước để làm cho Ê-sau nguôi giận, rồi sau đó hẳn giáp mặt; có lẽ anh ấy sẽ tiếp ta tử tế.”

21 Vậy, tặng vật đưa đi trước, còn Gia-cốp nghỉ đêm trong trại.

22 Đêm ấy Gia-cốp thức dậy, dẫn hai bà vợ, hai nữ tì và mười một người con đi qua chỗ cạn của sông Gia-bốc.

23 Ông đưa họ qua rạch cùng với tài sản mình.

24 Đang khi Gia-cốp ở lại một mình thì có một người vật lộn với ông cho đến rạng đông.

25 Trong lúc vật lộn, người đó thấy mình không thắng nổi nên đánh vào xương hông Gia-cốp, làm cho xương hông bị trặc.

26 Người đó nói: “Trời đã sáng rồi, hãy để cho ta đi.” Nhưng Gia-cốp đáp: “Tôi không cho ngài đi đâu, nếu ngài không ban phước cho tôi.”

27 Người đó hỏi: “Ngươi tên gì?” Ông trả lời: “Tên tôi là Gia-cốp.”

28 Người đó bảo: “Tên ngươi sẽ không còn là Gia-cốp nữa, nhưng là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã tranh đấu với Đức Chúa Trời và người ta, và ngươi đều thắng cả.”

29 Gia-cốp hỏi: “Xin cho con biết tên Ngài.” Người ấy đáp: “Tại sao ngươi hỏi tên ta?” Rồi người ấy ban phước cho Gia-cốp tại đó.

30 Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và giải thích: “Vì tôi đã thấy Đức Chúa Trời mặt đối mặt nhưng mạng sống tôi vẫn được bảo toàn.”

31 Khi ông đi qua Phê-ni-ên thì mặt trời đã mọc, bước chân ông khập khễnh vì bị trặc xương hông.

32 Bởi vậy, cho đến nay dân Y-sơ-ra-ên không bao giờ ăn gân bắp đùi, chỗ khớp xương hông, vì người đó đã đánh vào xương hông Gia-cốp, chỗ gân bắp đùi.

33

1 Gia-cốp ngước mắt nhìn, và kìa, Ê-sau đang dẫn bốn trăm người tiến đến. Gia-cốp liền chia các con cho Lê-a, Ra-chên, và hai nữ tì.

2 Ông xếp cho hai nữ tì và các con của họ đi trước, rồi đến Lê-a và các con bà, và sau cùng là Ra-chên và Giô-sép.

3 Còn ông thì vượt lên trước họ, sấp mặt xuống đất bảy lần, cho tới khi đến gần anh mình.

4 Nhưng Ê-sau chạy đến đón, ôm chầm Gia-cốp, bá lấy cổ mà hôn, rồi cả hai cùng khóc.

5 Khi ngẩng lên thấy đám phụ nữ và trẻ con, Ê-sau hỏi: “Những người đi với em là ai vậy?” Gia-cốp trả lời: “Đó là những đứa con mà Đức Chúa Trời đã đoái ban cho đầy tớ anh.”

6 Hai nữ tì cùng con cái họ đến gần Ê-sau và sấp mặt xuống đất.

7 Rồi Lê-a và các con cái bà đến gần, sấp mặt xuống, và sau cùng, Ra-chên và Giô-sép cũng đến gần, và sấp mặt xuống.

8 Ê-sau hỏi: “Em định làm gì với các bầy súc vật mà anh vừa gặp đó?” Gia-cốp đáp: “Ấy là để được anh đoái thương.”

9 Ê-sau nói: “Nầy em, anh có nhiều rồi, cái gì của em thì em cứ giữ.”

10 Gia-cốp nài nỉ: “Không, em van anh. Nếu em được ơn trước mặt anh, xin anh nhận lấy món quà biếu từ tay em. Được thấy mặt anh thật chẳng khác gì được thấy mặt Đức Chúa Trời, vì anh đã vui lòng tiếp nhận em.

11 Xin anh vui nhận món quà em biếu anh, vì Đức Chúa Trời đã thương xót em và ban cho em đầy đủ mọi sự.” Ông nài ép mãi và Ê-sau đã phải nhận.

12 Ê-sau nói: “Nào, chúng ta hãy lên đường! Anh sẽ đi trước em.”

13 Gia-cốp đáp: “Như chúa biết đó, mấy đứa trẻ còn yếu lắm, mà em thì lại phải chăm sóc đàn chiên và bò cái đang còn cho con bú. Nếu ép chúng đi nhanh, dù chỉ một ngày thôi, thì cả bầy sẽ chết hết.

14 Xin chúa cứ đi trước đầy tớ chúa, còn em sẽ đi chậm chậm, theo chân của đám trẻ con và bầy súc vật cho đến khi gặp chúa tại Sê-i-rơ.”

15 Ê-sau nói: “Vậy anh để lại cho em một vài tùy tùng của anh nhé.” Gia-cốp trả lời: “Nhưng để làm gì? Em chỉ mong được ơn trước mặt chúa của em thôi!”

16 Ngay hôm ấy, Ê-sau trở về Sê-i-rơ.

17 Nhưng Gia-cốp đi đến Su-cốt, cất cho mình một cái nhà và mấy túp lều cho súc vật. Vì vậy, ông đặt tên chỗ đó là Su-cốt.

18 Sau khi từ Pha-đan A-ram về, Gia-cốp đến thành Si-chem, thuộc xứ Ca-na-an, bình an vô sự. Ông đóng trại đối diện với thành,

19 và mua lại của con cháu Hê-mô, cha Si-chem, miếng đất mà ông đang đóng trại, với giá một trăm miếng bạc.

20 Tại đây, Gia-cốp lập một bàn thờ và đặt tên là Ên Ên-lô-hê Y-sơ-ra-ên.

34

1 Một hôm, Đi-na, người con gái mà Lê-a sinh cho Gia-cốp, đi ra làm quen với các cô gái trong vùng.

2 Si-chem, con trai của thủ lĩnh Hê-mô, người Hê-vít, trông thấy cô thì bắt đi rồi cưỡng ép cô nằm với mình.

3 Tâm hồn Si-chem vương vấn Đi-na, con gái Gia-cốp. Chàng yêu thương cô gái và dùng lời ngọt dịu vỗ về cô.

4 Si-chem thưa với Hê-mô, cha mình, rằng: “Xin cha cưới cô gái nầy cho con.”

5 Lúc Gia-cốp được tin Si-chem xâm phạm tiết hạnh Đi-na, con gái mình, thì các con trai ông vẫn còn ở ngoài đồng với bầy súc vật, nên ông giữ yên lặng cho đến khi họ trở về.

6 Hê-mô, cha Si-chem, đến gặp Gia-cốp để thưa chuyện với ông.

7 Các con trai Gia-cốp ở ngoài đồng trở về. Vừa nghe chuyện, những người nầy đã nổi nóng và giận dữ vì Si-chem đã làm điều đồi bại trong Y-sơ-ra-ên khi nằm với con gái Gia-cốp, là điều không bao giờ được phép làm.

8 Nhưng Hê-mô nói với họ: “Tâm hồn Si-chem, con trai tôi, đã say đắm con gái các ông. Xin gả cô ấy cho con trai tôi.

9 Hãy kết nghĩa thông gia với chúng tôi. Các ông gả con gái cho chúng tôi và cưới các con gái chúng tôi cho các ông.

10 Các ông sẽ ở với chúng tôi, xứ nầy sẵn sàng đón tiếp các ông. Xin cứ sinh sống, buôn bán và tạo dựng sự nghiệp tại đây.”

11 Si-chem thưa với cha và các anh của cô gái: “Xin quý vị làm ơn cho tôi, bất cứ yêu cầu nào của quý vị, tôi cũng xin đáp ứng.

12 Xin cứ đòi sính lễ và quà cưới thật cao, tôi xin nộp đúng như quý vị đòi hỏi; chỉ xin quý vị gả cô gái đó cho tôi.”

13 Các con trai Gia-cốp dùng mưu mà trả lời Si-chem và Hê-mô, cha chàng, vì Si-chem đã xâm phạm tiết hạnh của Đi-na, em gái họ.

14 Họ nói: “Gả em gái chúng tôi cho người chưa chịu cắt bì là một việc chúng tôi không thể làm được, vì đó sẽ là một điều sỉ nhục đối với chúng tôi.

15 Chúng tôi chỉ nhận lời các ông với điều kiện là các ông phải trở nên giống như chúng tôi, nghĩa là mọi người nam phải chịu cắt bì.

16 Được vậy, chúng tôi sẽ gả con gái chúng tôi cho các ông, và sẽ cưới con gái các ông cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ sống chung với các ông và chúng ta sẽ trở nên một dân tộc.

17 Còn nếu các ông không nghe lời chúng tôi, và không chịu cắt bì, thì chúng tôi sẽ bắt con gái lại và dọn đi nơi khác.”

18 Lời lẽ của họ làm vừa lòng Hê-mô và Si-chem, con trai ông.

19 Chàng trai trẻ đó không chậm trễ thực hiện các yêu cầu vì cậu đã say mê con gái của Gia-cốp. Hơn nữa, Si-chem là người được tôn trọng nhất trong gia đình.

20 Vậy, Hê-mô và Si-chem, con trai ông, đến cổng thành và nói với dân trong thành rằng:

21 “Những người nầy rất thuận thảo với chúng ta. Hãy để họ ở trong xứ và buôn bán, vì đất nầy còn đủ chỗ cho họ. Chúng ta sẽ cưới con gái của họ và gả con gái chúng ta cho họ.

22 Nhưng họ chỉ đồng ý sống với chúng ta để trở thành một dân tộc, với điều kiện mọi người nam trong chúng ta cũng chịu cắt bì như mọi người nam của họ.

23 Các bầy súc vật, tài sản và tất cả gia súc của họ sẽ chẳng thuộc về chúng ta sao? Chỉ cần chúng ta đồng ý với họ thì họ sẽ sống chung với chúng ta.”

24 Tất cả những người ra họp ở cổng thành đều nghe theo lời Hê-mô và Si-chem, con trai ông, và mọi người nam trong thành đều chịu cắt bì.

25 Đến ngày thứ ba, khi mọi người còn đang đau, hai con trai Gia-cốp là Si-mê-ôn và Lê-vi, tức là các anh của Đi-na, cầm gươm, bất thần xông vào thành giết tất cả các người nam.

26 Họ dùng gươm giết Hê-mô và Si-chem, con trai ông, đem Đi-na ra khỏi nhà Si-chem, rồi đi.

27 Các con trai Gia-cốp đạp lên những xác chết mà cướp phá thành, vì em gái họ đã bị xâm phạm tiết hạnh.

28 Họ bắt các bầy chiên, bò, lừa, và lấy hết những gì ở trong thành cũng như ngoài đồng.

29 Họ cướp đoạt và đem đi tất cả tài sản, đàn bà, con trẻ và bất cứ vật gì có trong nhà.

30 Gia-cốp nói với Si-mê-ôn và Lê-vi: “Các con gây rắc rối cho cha, làm cho cư dân xứ nầy, là người Ca-na-an và người Phê-rê-sít, ghê tởm cha. Cha chỉ có một ít người, nếu họ liên kết lại chống đối và tấn công cha thì cha và cả nhà mình sẽ bị tiêu diệt.”

31 Nhưng họ phân trần: “Chẳng lẽ để cho chúng đối xử với em gái chúng con như một gái điếm sao?”

35

1 Đức Chúa Trời phán với Gia-cốp: “Hãy mau đi lên Bê-tên và ở đó. Cũng hãy lập tại đó một bàn thờ cho Đức Chúa Trời, là Đấng đã hiện ra với con khi con chạy trốn anh con là Ê-sau.”

2 Gia-cốp bảo người nhà và những người cùng đi với ông: “Hãy dẹp bỏ các tượng thần ngoại bang khỏi các ngươi, thanh tẩy chính mình và thay áo quần.

3 Chúng ta hãy chuẩn bị đi lên Bê-tên. Ta sẽ lập tại đó một bàn thờ cho Đức Chúa Trời, là Đấng đã nhậm lời ta trong ngày nguy khốn, và đã phù hộ ta trong suốt chặng đường.”

4 Họ liền nộp cho Gia-cốp tất cả các tượng thần ngoại bang mà họ đang giữ, cũng như các khoen họ đang đeo trên tai. Gia-cốp đem chôn những thứ đó dưới gốc cây sồi gần thành Si-chem.

5 Gia đình Gia-cốp lên đường. Đức Chúa Trời giáng kinh hãi trên các thành chung quanh đó nên không một ai dám đuổi theo các con trai Gia-cốp.

6 Gia-cốp và những người đi theo ông cùng đến Lu-xơ (tức là Bê-tên), thuộc xứ Ca-na-an.

7 Ông lập tại đó một bàn thờ và đặt tên chỗ nầy là Ên Bê-tên, vì tại đây Đức Chúa Trời đã hiện ra với ông khi ông chạy trốn anh mình.

8 Bấy giờ Đê-bô-ra, vú nuôi của Rê-bê-ca, qua đời, được chôn dưới gốc cây sồi ở thành Bê-tên. Vì vậy, người ta gọi là cây A-lôn Ba-cút.

9 Khi Gia-cốp từ Pha-đan A-ram về, Đức Chúa Trời lại hiện ra với Gia-cốp và ban phước cho ông.

10 Đức Chúa Trời phán: “Tên con là Gia-cốp, nhưng con sẽ không được gọi là Gia-cốp nữa mà tên con sẽ là Y-sơ-ra-ên.” Rồi Ngài đặt tên cho ông là Y-sơ-ra-ên.

11 Đức Chúa Trời lại phán với ông: “Ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng; hãy sinh sản và gia tăng gấp bội. Một dân tộc rồi một cộng đồng nhiều dân tộc sẽ ra từ con, và các vua chúa sẽ từ dòng dõi con mà ra.

12 Vùng đất Ta đã ban cho Áp-ra-ham và Y-sác thì Ta cũng sẽ ban cho con và dòng dõi con.”

13 Rồi Đức Chúa Trời ngự lên từ chỗ Ngài đã phán với Gia-cốp.

14 Ông liền dựng một trụ đá tại nơi Đức Chúa Trời đã phán với ông, làm lễ quán và đổ dầu lên đó.

15 Vậy Gia-cốp đặt tên địa điểm mà Đức Chúa Trời đã phán với ông là Bê-tên.

16 Gia đình Gia-cốp rời Bê-tên ra đi. Khi họ còn cách Ép-ra-ta một quãng đường, thì Ra-chên chuyển dạ và sinh rất khó khăn.

17 Khi bà đang đau đớn, bà mụ nói: “Đừng sợ vì bà lại có thêm một con trai nữa.”

18 Trong cơn hấp hối, lúc sắp trút linh hồn, bà đặt tên cho đứa con trai đó là Bên Ô-ni. Nhưng người cha thì lại đặt tên là Bên-gia-min.

19 Ra-chên qua đời, được an táng cạnh con đường đi về Ép-ra-ta, tức là Bết-lê-hem.

20 Gia-cốp dựng một mộ bia; đó là mộ bia của Ra-chên vẫn còn cho đến ngày nay.

21 Y-sơ-ra-ên tiếp tục hành trình và khi qua khỏi tháp Ê-đe thì đóng trại.

22 Trong thời gian Y-sơ-ra-ên ngụ tại xứ đó, Ru-bên đã đến nằm với Bi-la, hầu thiếp của cha mình. Y-sơ-ra-ên hay được việc nầy.

23 Gia-cốp có mười hai con trai. Con của Lê-a là Ru-bên, trưởng nam của Gia-cốp, kế đến là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn.

24 Con của Ra-chên là Giô-sép và Bên-gia-min.

25 Con của Bi-la, nữ tì của Ra-chên, là Đan và Nép-ta-li;

26 và con của Xinh-ba, nữ tì của Lê-a, là Gát và A-se. Đó là các con trai của Gia-cốp sinh tại xứ Pha-đan A-ram.

27 Gia-cốp về đến chỗ Y-sác, cha mình, ở Mam-rê, tại thành Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn. Đây là nơi Áp-ra-ham và Y-sác đã từng tạm cư.

28 Y-sác hưởng thọ được một trăm tám mươi tuổi.

29 Y-sác trút hơi thở cuối cùng. Ông qua đời, trở về với tổ tông khi tuổi đã cao, mãn nguyện trong cuộc sống, và được hai con trai là Ê-sau và Gia-cốp lo an táng.

36

1 Đây là dòng dõi của Ê-sau, tức là Ê-đôm.

2 Ê-sau cưới ba bà vợ trong số con gái xứ Ca-na-an, đó là: A-đa, con gái Ê-lôn, người Hê-tít; Ô-hô-li-ba-ma, con gái A-na, cháu ngoại của Xi-bê-ôn, người Hê-vít;

3 và Bách-mát, con gái Ích-ma-ên, cũng là em gái của Nê-ba-giốt.

4 A-đa sinh Ê-li-pha cho Ê-sau; Bách-mát sinh Rê-u-ên;

5 còn Ô-hô-li-ba-ma sinh Giê-úc, Gia-lam và Cô-ra. Đó là các con trai của Ê-sau sinh tại xứ Ca-na-an.

6 Ê-sau đưa vợ, con trai, con gái mình, toàn bộ người nhà, các bầy chiên, gia súc, và tài sản mà ông đã gây dựng tại xứ Ca-na-an, qua xứ khác, cách xa Gia-cốp, em mình.

7 Vì tài sản của hai anh em rất lớn, nên khó có thể sống chung với nhau; vùng đất mà họ đang cư ngụ không thể đủ cho các bầy súc vật của cả hai anh em.

8 Vậy, Ê-sau, tức Ê-đôm, ở trong vùng đồi núi Sê-i-rơ.

9 Đây là dòng dõi Ê-sau, tổ phụ dân Ê-đôm, ở vùng đồi núi Sê-i-rơ.

10 Các con trai của Ê-sau là Ê-li-pha con của A-đa, vợ Ê-sau, Rê-u-ên con của Bách-mát, cũng vợ Ê-sau.

11 Con trai của Ê-li-pha là Thê-ma, Ô-ma, Xê-phô, Ga-tham và Kê-na.

12 Thim-na, vợ lẽ Ê-li-pha, con trai của Ê-sau, sinh A-ma-léc. Đó là các cháu của A-đa, vợ Ê-sau.

13 Còn đây là các con trai của Rê-u-ên: Na-hát, Xê-rách, Sam-ma và Mích-xa. Đó là các cháu của Bách-mát, vợ Ê-sau.

14 Và đây là các con trai của Ô-hô-li-ba-ma, vợ của Ê-sau, con gái của A-na, cháu ngoại Xi-bê-ôn. Bà sinh cho Ê-sau: Giê-úc, Gia-lam, và Cô-ra.

15 Đây là các trưởng gia tộc thuộc con cháu Ê-sau: Các con trai Ê-li-pha, trưởng nam của Ê-sau, gồm: trưởng gia tộc Thê-man, trưởng gia tộc Ô-ma, trưởng gia tộc Xê-phô, trưởng gia tộc Kê-na,

16 trưởng gia tộc Cô-ra, trưởng gia tộc Ga-tham, và trưởng gia tộc A-ma-léc. Đó là các trưởng gia tộc ra từ Ê-li-pha tại xứ Ê-đôm, là các cháu của A-đa.

17 Đây là các con trai của Rê-u-ên, con Ê-sau: trưởng gia tộc Na-hát, trưởng gia tộc Xê-rách, trưởng gia tộc Sam-ma, và trưởng gia tộc Mích-xa. Đó là các trưởng gia tộc ra từ Rê-u-ên tại xứ Ê-đôm, là các cháu của Bách-mát.

18 Đây là các con trai của Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau: trưởng gia tộc Giê-úc, trưởng gia tộc Gia-lam, và trưởng gia tộc Cô-ra. Đó là các trưởng gia tộc ra từ Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau, con gái của A-na.

19 Trên đây là các con trai của Ê-sau, tức là Ê-đôm, và các trưởng gia tộc của họ.

20 Đây là các con trai của Sê-i-rơ, người Hô-rít, là người bản địa: Lô-than, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na,

21 Đi-sôn, Ét-xe, và Đi-san. Đó là các con trai của Sê-i-rơ, trưởng gia tộc dân Hô-rít, trong đất Ê-đôm.

22 Các con trai của Lô-than là: Hô-ri và Hê-man; em gái của Lô-than là Thim-na.

23 Các con trai của Sô-banh là: Anh-van, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phô, và Ô-nam.

24 Các con trai của Xi-bê-ôn là: Ai-gia và A-na. Chính A-na là người tìm được suối nước nóng trong hoang mạc trong khi chăn chiên cho cha mình là Xi-bê-ôn.

25 Các con của A-na là: Đi-sôn và Ô-hô-li-ba-ma, con gái của A-na.

26 Các con trai của Đi-sôn là: Hem-đan, Ếch-ban, Dít-ran và Kê-ran.

27 Các con trai của Ét-xe là: Binh-han, Xa-van và A-can.

28 Các con trai của Đi-san là: Út-xơ và A-ran.

29 Còn đây là các trưởng gia tộc của dân Hô-rít: trưởng gia tộc Lô-than, trưởng gia tộc Sô-banh, trưởng gia tộc Xi-bê-ôn, trưởng gia tộc A-na,

30 trưởng gia tộc Đi-sôn, trưởng gia tộc Ét-xe, và trưởng gia tộc Đi-san. Đó là các trưởng gia tộc của dân Hô-rít, trong đất Sê-i-rơ.

31 Đây là các vua cai trị xứ Ê-đôm trước khi Y-sơ-ra-ên có vua cai trị:

32 Bê-la, con trai Bê-ô, cai trị xứ Ê-đôm; tên thành của vua là Đin-ha-ba.

33 Vua Bê-la băng, Giô-báp, con trai Xê-rách, người Bốt-ra, lên kế vị.

34 Vua Giô-báp băng, Hu-sam, người xứ Thê-man, lên kế vị.

35 Vua Hu-sam băng, Ha-đát, con trai Bê-đát, lên kế vị. Chính vua nầy đã đánh thắng dân Ma-đi-an tại cánh đồng Mô-áp; và tên thành của vua là A-vít.

36 Vua Ha-đát băng, Sam-la, người Ma-rê-ca, lên kế vị.

37 Vua Sam-la băng, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt, ở trên mé sông, lên kế vị.

38 Vua Sau-lơ băng, Ba-anh Ha-nan, con trai Ạc-bồ, lên kế vị.

39 Vua Ba-anh Ha-nan băng, Ha-đa lên kế vị. Tên thành của vua là Ba-u; vợ vua là Mê-hê-ta-bê-ên, con gái của Mát-rết, cháu ngoại Mê-xa-háp.

40 Sau đây là các trưởng gia tộc của Ê-sau, gọi theo gia tộc, địa hạt và tên của họ: trưởng gia tộc Thim-na, trưởng gia tộc Anh-va, trưởng gia tộc Giê-hết,

41 trưởng gia tộc Ô-hô-li-ba-ma, trưởng gia tộc Ê-la, trưởng gia tộc Phi-nôn,

42 trưởng gia tộc Kê-na, trưởng gia tộc Thê-man, trưởng gia tộc Mép-xa,

43 trưởng gia tộc Mác-đi-ên và trưởng gia tộc Y-ram. Đó là các trưởng gia tộc của Ê-đôm, tùy theo nơi ở của họ trong đất mà họ sở hữu. Tổ phụ của dân Ê-đôm là Ê-sau.

37

1 Gia-cốp ở tại Ca-na-an là xứ mà cha của ông đã tạm cư.

2 Đây là câu chuyện về dòng dõi của Gia-cốp. Bấy giờ Giô-sép ở tuổi mười bảy, thường đi chăn chiên với các anh mình. Cậu kết bạn với các con của Bi-la và Xinh-ba, hai vợ của cha mình, và mách lại với cha những chuyện không hay của họ.

3 Y-sơ-ra-ên thương yêu Giô-sép hơn bất cứ người con nào khác vì cậu là con muộn của mình, nên may cho cậu một cái áo choàng dài tay nhiều màu sắc.

4 Khi các anh thấy cha thương Giô-sép hơn họ thì sinh lòng ganh ghét, và không thể nói năng tử tế với cậu được.

5 Một đêm kia, Giô-sép nằm mộng và thuật lại cho các anh nghe nên họ càng thêm ganh ghét.

6 Giô-sép nói: “Xin nghe em kể giấc mộng mà em đã thấy:

7 Khi chúng ta đang bó lúa ngoài đồng thì bó lúa của em vươn dậy, đứng thẳng lên, còn những bó lúa của các anh đều tụ họp chung quanh và cúi rạp xuống trước bó lúa của em.”

8 Các anh bảo: “Vậy mầy định cai trị chúng ta à? Mầy sẽ thống trị chúng ta thật sao?” Họ càng ganh ghét Giô-sép hơn vì giấc mộng và những lời cậu nói.

9 Một lần khác, Giô-sép lại nằm mộng và cũng thuật cho các anh. Cậu nói: “Em còn một giấc mộng nữa. Em thấy mặt trời, mặt trăng và mười một ngôi sao đều cúi rạp xuống trước mặt em.”

10 Khi cậu thuật lại giấc mộng đó cho cha và các anh mình nghe thì cha cậu quở trách và nói: “Giấc mộng con thấy đó có nghĩa gì vậy? Có phải cả cha, mẹ, và các anh con đều phải cúi rạp xuống trước mặt con không?”

11 Các anh ganh ghét cậu, còn cha cậu lại ghi nhớ điều đó.

12 Một hôm, các anh Giô-sép đi chăn các bầy súc vật của cha tại Si-chem.

13 Y-sơ-ra-ên bảo Giô-sép: “Các anh con đang chăn bầy tại Si-chem phải không? Lại đây để cha sai con đi đến với các anh con.” Giô-sép thưa: “Dạ, có con đây.”

14 Y-sơ-ra-ên bảo: “Con hãy đi xem các anh con ra sao, các bầy súc vật thế nào, rồi về báo cho cha biết.” Từ thung lũng Hếp-rôn, ông sai Giô-sép đi. Khi Giô-sép đến Si-chem,

15 có một người gặp cậu đi lạc trong đồng ruộng, và hỏi: “Cậu đi tìm gì vậy?”

16 Cậu trả lời: “Tôi đi tìm các anh tôi. Xin vui lòng chỉ giúp tôi họ chăn bầy ở đâu.”

17 Người ấy nói: “Họ đã đi khỏi đây rồi, vì tôi có nghe họ nói: ‘Chúng ta hãy chuyển đến Đô-than.’” Vậy, Giô-sép tìm theo các anh và gặp họ tại Đô-than.

18 Thoáng thấy Giô-sép từ đằng xa và trước khi cậu đến gần thì các anh đã lập mưu giết cậu.

19 Họ bàn với nhau: “Thằng nằm mộng đến kìa!

20 Nào! Chúng ta hãy giết nó đi, ném xuống một cái hố nước nào đó, và nói rằng nó đã bị thú dữ xé xác, rồi xem các giấc mộng của nó sẽ đi đến đâu!”

21 Nhưng khi nghe vậy, Ru-bên liền tìm cách giải cứu em khỏi tay họ nên đã can: “Đừng giết nó.

22 Chúng ta chớ gây đổ máu. Cứ ném nó xuống cái hố kia trong hoang mạc, nhưng đừng ra tay hại nó.” Ru-bên nói vậy vì muốn giải cứu em khỏi tay họ để đưa về cho cha.

23 Khi Giô-sép vừa đến chỗ các anh thì họ lột áo choàng, là chiếc áo nhiều màu sắc cậu đang mặc trên người,

24 rồi bắt cậu ném xuống hố. Nhưng hố đó khô, không có nước.

25 Khi các anh của Giô-sép đang ngồi dùng bữa, chợt ngước nhìn và thấy một đoàn lái buôn Ích-ma-ên từ Ga-la-át đến. Lạc đà của họ chở đầy hương liệu, nhũ hương và mộc dược để đưa xuống Ai Cập.

26 Giu-đa nói với các anh em: “Giết em rồi giấu máu nó đi thì ích gì cho chúng ta chứ?

27 Thôi, chúng ta bán nó cho dân Ích-ma-ên và đừng động tay vào nó vì nó là em, là cốt nhục của chúng ta.” Các anh em đều đồng ý.

28 Khi các lái buôn Ma-đi-an đi ngang qua đó, các anh kéo Giô-sép lên khỏi hố rồi bán cậu cho họ với giá hai mươi miếng bạc. Họ đem Giô-sép xuống Ai Cập.

29 Khi Ru-bên trở lại hố, thấy Giô-sép không còn ở dưới đó nữa thì xé áo mình,

30 chạy đến chỗ các em và nói: “Đứa nhỏ đâu mất rồi? Còn tôi, tôi biết đi đâu bây giờ!”

31 Các anh Giô-sép giết một con dê đực, rồi lấy áo choàng của Giô-sép nhúng áo vào trong máu.

32 Họ gửi áo choàng dài tay đó về cho cha mình và nói: “Chúng con đã tìm thấy cái áo nầy. Xin cha xem có phải đây là áo của con trai cha không?”

33 Gia-cốp nhận ra cái áo và nói: “Đây là áo của con trai ta! Một con thú dữ đã xé xác nó! Giô-sép chắc chắn đã bị xé ra từng mảnh rồi!”

34 Ông xé quần áo, lấy vải thô quấn ngang lưng và để tang cho con trong nhiều ngày.

35 Tất cả các con trai, con gái đều đến an ủi ông, nhưng ông từ chối mọi lời an ủi. Ông nói: “Ta cứ để tang mà xuống âm phủ với con ta!” Vậy, cha cậu cứ khóc thương cậu.

36 Các lái buôn Ma-đi-an đem Giô-sép xuống Ai Cập, bán cho Phô-ti-pha, quan chỉ huy vệ binh của Pha-ra-ôn.

38

1 Bấy giờ, Giu-đa rời anh em, xuống ở với một người A-đu-lam tên là Hi-ra.

2 Tại đó, Giu-đa gặp con gái của Su-a, một người Ca-na-an. Ông cưới và ăn ở với nàng.

3 Nàng mang thai, sinh một con trai và đặt tên là Ê-rơ.

4 Nàng lại mang thai, sinh thêm một con trai và đặt tên là Ô-nan.

5 Sau đó nàng lại sinh thêm một con trai nữa và đặt tên là Sê-la. Khi vợ sinh đứa con thứ ba thì Giu-đa đang ở Kê-xíp.

6 Giu-đa cưới cho Ê-rơ, con trưởng nam, một người vợ, tên là Ta-ma.

7 Nhưng Ê-rơ gian ác dưới cái nhìn của Đức Giê-hô-va nên Ngài khiến cậu phải chết.

8 Giu-đa bảo Ô-nan: “Con hãy đến với vợ của anh con, làm nhiệm vụ của người em chồng, để có con nối dõi cho anh.”

9 Nhưng Ô-nan biết rằng dòng dõi nầy sẽ chẳng thuộc về mình, nên khi đến với chị dâu thì làm rơi rớt xuống đất để không lưu lại dòng dõi cho anh.

10 Điều Ô-nan làm không đẹp lòng Đức Giê-hô-va nên Ngài cũng khiến cậu phải chết.

11 Giu-đa nói với Ta-ma, con dâu ông: “Con cứ về ở góa bên nhà cha con cho đến khi Sê-la, con trai cha, khôn lớn.” Vì ông ngại rằng: “Không khéo nó cũng chết như hai anh nó!” Ta-ma trở về sống trong nhà cha mình.

12 Sau một thời gian dài, con gái của Su-a, vợ Giu-đa, qua đời. Khi đã bớt đau buồn, Giu-đa cùng với bạn là Hi-ra, người A-đu-lam, đi lên Thim-na, nơi những người thợ đang hớt lông cho chiên của ông.

13 Người ta báo cho Ta-ma: “Nầy, cha chồng của chị đang đi lên Thim-na để hớt lông chiên.”

14 Ta-ma cởi bỏ áo góa phụ, lấy mạng che mặt, phủ kín người, rồi đến ngồi bên lối vào thành Ê-na-im, trên đường đi về Thim-na. Nàng làm vậy vì thấy Sê-la đã khôn lớn rồi mà người ta vẫn chưa cho nàng được làm vợ chàng.

15 Giu-đa thấy nàng, tưởng là gái bán dâm vì nàng che mặt.

16 Ông rẽ qua phía nàng bên lề đường và nói: “Cho tôi đến với cô,” vì ông không biết nàng là con dâu của mình. Nàng hỏi: “Ông sẽ cho tôi thứ gì khi đến với tôi?”

17 Giu-đa đáp: “Tôi sẽ gửi cho cô một con dê con từ trong bầy của tôi.” Nàng lại hỏi: “Ông có thể cho tôi một món gì đó để làm tin cho đến khi ông gửi con dê đến không?”

18 Ông hỏi: “Tôi sẽ cho cô thứ gì để làm tin đây?” Nàng đáp: “Con dấu với sợi dây và cây gậy mà ông đang cầm trên tay.” Ông trao cho nàng những thứ đó rồi đến với nàng. Thế là nàng có thai với ông.

19 Rồi nàng đứng dậy và đi, cởi bỏ khăn trùm, mặc lại quần áo góa phụ.

20 Giu-đa nhờ bạn người A-đu-lam mang dê con đến để chuộc lại các thứ làm tin từ tay người đàn bà, nhưng không tìm thấy nàng đâu cả.

21 Bạn ông hỏi dân địa phương: “Cô gái bán dâm thường ngồi bên lề đường gần cửa thành Ê-na-im đâu rồi?” Họ trả lời: “Ở đây không hề có gái mại dâm.”

22 Người bạn trở về nói với Giu-đa: “Tôi không tìm thấy cô ta. Dân địa phương còn bảo là ở đó không hề có một gái bán dâm nào cả.”

23 Giu-đa nói: “Thôi cứ để cô ta giữ các thứ ấy, miễn sao chúng ta không bị chê cười. Tôi đã gửi dê con đến, còn anh thì không tìm thấy cô ta.”

24 Khoảng ba tháng sau, người ta báo cho Giu-đa rằng: “Ta-ma, con dâu ông, đã làm gái bán dâm, lại còn hoang thai nữa.” Giu-đa nói: “Hãy đem nó ra mà thiêu sống đi.”

25 Đang khi bị đem đi, Ta-ma nhờ người nhắn với cha chồng rằng: “Con mang thai là do chính chủ nhân của các vật nầy. Xin cha xem lại con dấu với sợi dây và cây gậy nầy là của ai.”

26 Giu-đa nhận ra ngay các thứ đó và nói: “Ta-ma đúng hơn ta, vì ta đã không giao Sê-la, con trai ta, cho nàng.” Từ đó, ông không ăn ở với nàng nữa.

27 Đến ngày sinh, người ta mới biết trong bụng nàng có thai đôi.

28 Trong lúc nàng đang sinh, một trong hai đứa trẻ đưa tay ra trước. Bà mụ nắm tay nó, buộc một sợi chỉ đỏ, và nói: “Đứa nầy ra trước.”

29 Nhưng nó lại rút tay vào, và kìa, anh nó lại ra. Bà mụ nói: “Mầy đã xé rào!” Vì thế, nó được đặt tên là Phê-rết.

30 Sau đó, đứa em là đứa trên tay có sợi chỉ đỏ, mới ra đời và được đặt tên là Sê-rách.

39

1 Các lái buôn Ích-ma-ên đem Giô-sép xuống Ai Cập bán cho Phô-ti-pha, một người Ai Cập làm quan chỉ huy vệ binh của Pha-ra-ôn.

2 Đức Giê-hô-va ở với Giô-sép nên cậu rất thành công trong nhà người chủ Ai Cập.

3 Người chủ cũng thấy rằng Đức Giê-hô-va phù hộ chàng và khiến cho mọi việc tay chàng làm đều được thịnh vượng.

4 Giô-sép được ơn trước mặt chủ và trở thành phụ tá cho ông. Ông lập chàng làm quản gia và giao tất cả tài sản cho chàng.

5 Từ khi ông giao cho Giô-sép quản trị nhà cửa và mọi tài sản trong nhà, Đức Giê-hô-va vì Giô-sép ban phước cho nhà Phô-ti-pha. Phước lành của Đức Giê-hô-va bao phủ trên mọi tài vật của ông, trong nhà cũng như ngoài đồng.

6 Ông trao hết tài sản cho Giô-sép cai quản, không cần bận tâm đến bất cứ việc gì ngoài phần thức ăn của mình. Giô-sép rất khôi ngô tuấn tú.

7 Sau các việc ấy, bà vợ ông chủ liếc mắt đưa tình với Giô-sép và nói: “Hãy nằm với tôi.”

8 Nhưng chàng từ chối và nói rằng: “Bà xem, ông chủ không còn phải bận tâm đến bất cứ việc gì trong nhà nầy cả. Ông đã trao cho tôi quản lý mọi tài sản của ông.

9 Trong nhà nầy, không có ai lớn hơn tôi, và ông chủ cũng không giữ lại thứ gì đối với tôi, chỉ trừ một mình bà, vì bà là vợ ông. Làm sao tôi dám làm điều đại ác như thế mà phạm tội với Đức Chúa Trời?”

10 Ngày lại ngày, bà cứ quyến dụ, nhưng Giô-sép từ chối không chịu ăn nằm với bà.

11 Một ngày kia, Giô-sép vào nhà để làm công việc. Vì không có một người nhà nào ở đó

12 nên bà chủ nắm áo, kéo chàng lại và bảo: “Hãy nằm với tôi đi!” Nhưng chàng bỏ áo lại trong tay bà, chạy trốn ra ngoài.

13 Khi bà thấy chàng bỏ áo lại trong tay mình và chạy trốn ra ngoài

14 thì gọi người nhà vào và nói: “Các người xem đó! Thằng Hê-bơ-rơ mà chồng ta đem về đã làm nhục chúng ta. Nó đến gần tính nằm với ta, nhưng ta đã la lớn lên.

15 Khi nghe ta cất tiếng kêu cứu, nó bỏ áo lại bên ta, chạy trốn ra ngoài.”

16 Bà để áo của Giô-sép bên cạnh chờ ông chủ về,

17 và cũng dùng lời lẽ tương tự mà nói với ông: “Tên nô lệ Hê-bơ-rơ mà ông khéo đem về nhà đã đến gần tính làm nhục tôi.

18 Nhưng khi tôi cất tiếng kêu cứu thì nó bỏ áo lại bên tôi, rồi chạy trốn ra ngoài.”

19 Khi chủ của Giô-sép nghe lời bà vợ nói: “Tên nô lệ của ông đã đối xử với tôi như vậy đó,” thì ông nổi giận phừng phừng.

20 Ông chủ bắt Giô-sép bỏ vào ngục, nơi giam cầm các phạm nhân của vua. Vậy, Giô-sép bị cầm tù tại đó.

21 Nhưng Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép. Ngài tỏ lòng nhân từ với chàng và làm cho chàng được ơn trước mặt cai ngục.

22 Cai ngục giao cho Giô-sép quản lý tất cả các tù nhân; mọi việc trong tù đều thông qua chàng.

23 Cai ngục chẳng phải bận tâm gì đến những việc đã giao cho Giô-sép, vì Đức Giê-hô-va phù hộ chàng, khiến cho mọi việc chàng làm đều thành công.

40

1 Một thời gian sau, quan hầu rượu và quan hầu bánh của vua Ai Cập phạm tội khi quân.

2 Pha-ra-ôn nổi giận với hai vị quan nầy là quan hầu rượu và quan hầu bánh,

3 và giam họ vào ngục, trong dinh của quan chỉ huy vệ binh, là nơi Giô-sép đang bị giam giữ.

4 Quan chỉ huy vệ binh giao cho Giô-sép phục vụ hai quan đó. Họ bị giam giữ một thời gian.

5 Một đêm kia, khi đang bị giam trong ngục, cả quan hầu rượu và quan hầu bánh của vua Ai Cập đều nằm mộng, mỗi người thấy một giấc mộng khác nhau, và có một ý nghĩa riêng.

6 Sáng hôm sau, Giô-sép đến phục vụ họ và thấy họ buồn bã.

7 Chàng hỏi: “Hôm nay sao trông nét mặt hai ông rầu rĩ thế?”

8 Họ nói: “Chúng tôi đã thấy một giấc mộng nhưng không có ai giải thích cả.” Giô-sép nói: “Việc giải mộng chẳng phải thuộc về Đức Chúa Trời sao? Xin hai vị cứ thuật lại các giấc mộng ấy cho tôi đi.”

9 Quan dâng rượu thuật lại giấc mộng của mình cho Giô-sép nghe; ông nói: “Trong giấc mộng, tôi thấy trước mặt mình có một cây nho.

10 Cây nho đó có ba cành. Khi cành vừa đâm chồi thì hoa nở và trở thành các chùm nho chín.

11 Tay tôi đang cầm chén của Pha-ra-ôn. Tôi hái nho, ép nước, đổ vào chén rồi dâng vào tay Pha-ra-ôn.”

12 Giô-sép nói: “Đây là ý nghĩa của giấc mộng: Ba cành nho tức là ba ngày.

13 Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ ân xá và phục hồi chức vụ cho ông; ông sẽ dâng rượu vào tay Pha-ra-ôn như trước đây khi còn làm quan dâng rượu.

14 Nhưng khi mọi việc của ông đã tốt đẹp rồi, xin ông nhớ đến tôi, làm ơn tâu với Pha-ra-ôn về trường hợp của tôi, và đem tôi ra khỏi chỗ nầy.

15 Vì thật ra, tôi đã bị người ta bắt cóc đem ra khỏi đất của người Hê-bơ-rơ, và ngay tại đây tôi cũng chẳng làm điều gì đáng để bị giam trong ngục tối nầy.”

16 Quan hầu bánh thấy lời giải thích của Giô-sép tốt đẹp, nên nói: “Tôi cũng có một giấc mộng: tôi thấy mình đội ba giỏ bánh trên đầu.

17 Giỏ trên cùng có đủ các thứ bánh mà thợ làm riêng cho Pha-ra-ôn, nhưng chim đáp xuống ăn hết bánh trong giỏ trên đầu tôi.”

18 Giô-sép nói: “Đây là ý nghĩa của giấc mộng: ba giỏ tức là ba ngày.

19 Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ xử trảm ông và treo ông lên cây. Chim chóc sẽ ăn thịt ông.”

20 Đến ngày thứ ba, là sinh nhật của Pha-ra-ôn, vua mở tiệc thết đãi tất cả triều thần, và cho quan hầu rượu và quan hầu bánh ra khỏi ngục.

21 Vua phục hồi chức vụ cho quan hầu rượu và ông được dâng rượu vào tay Pha-ra-ôn.

22 Nhưng vua lại hạ lệnh treo cổ quan hầu bánh, như lời Giô-sép đã giải thích.

23 Quan hầu rượu không nhớ gì đến Giô-sép, ông quên bẵng chàng đi.

41

1 Hai năm sau, Pha-ra-ôn nằm mộng, thấy mình đứng bên bờ sông Nin.

2 Chợt có bảy con bò đẹp đẽ, béo tốt từ dưới sông đi lên, gặm cỏ trong đám sậy.

3 Tiếp đến lại có bảy con bò khác, xấu xí, gầy guộc từ dưới sông lên theo, đến đứng cạnh bảy con bò kia, trên bờ sông.

4 Bảy con bò xấu xí, gầy guộc ăn thịt bảy con bò đẹp đẽ, béo tốt. Rồi Pha-ra-ôn tỉnh giấc.

5 Vua lại ngủ tiếp và nằm mộng lần thứ nhì. Vua thấy bảy bông lúa chắc hạt và tốt tươi mọc chung trên một cọng lúa.

6 Kế đó, có bảy bông lúa khác, lép hạt và héo úa vì gió đông, mọc theo bảy bông lúa kia.

7 Bảy bông lúa lép hạt nuốt chửng bảy bông lúa chắc hạt. Pha-ra-ôn thức giấc, và thấy đó là một giấc mộng.

8 Sáng hôm sau, tinh thần vua bị xao động, vua truyền gọi tất cả các thuật sĩ và các nhà hiền triết Ai Cập đến. Vua kể lại cho họ giấc mộng của mình, nhưng không một ai giải thích được ý nghĩa của giấc mộng đó cho vua cả.

9 Bấy giờ quan hầu rượu mới tâu với Pha-ra-ôn: “Hôm nay tôi nhớ lại những lầm lỗi của tôi.

10 Trước đây, có lần bệ hạ nổi giận với quần thần, đã giam quan dâng bánh và tôi trong dinh của quan chỉ huy vệ binh.

11 Một đêm kia, ông ấy và tôi cùng nằm mộng, và mỗi giấc mộng có ý nghĩa khác nhau.

12 Cùng bị giam chung với chúng tôi có một thanh niên người Hê-bơ-rơ, nô lệ của quan chỉ huy vệ binh. Chúng tôi đã kể lại cho anh ta giấc mộng của chúng tôi và anh ta đã giải thích ý nghĩa giấc mộng của mỗi người.

13 Rồi mọi việc đã xảy ra đúng như lời anh ta giải thích: Tôi được phục hồi chức vụ, còn quan kia bị treo cổ.”

14 Pha-ra-ôn truyền gọi Giô-sép. Người ta lập tức đưa chàng ra khỏi ngục, cạo mặt mày, thay áo xống, rồi vào chầu Pha-ra-ôn.

15 Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Trẫm có một giấc mộng mà không ai có thể giải thích được. Trẫm nghe nói rằng ngươi chỉ cần nghe kể lại giấc mộng là có thể giải nghĩa được.”

16 Giô-sép thưa với vua: “Đó chẳng phải hạ thần mà là Đức Chúa Trời sẽ đem lời giải đáp an lành cho bệ hạ.”

17 Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Nầy, trong giấc mộng trẫm thấy mình đang đứng trên bờ sông.

18 Từ dưới sông có bảy con bò đẹp đẽ, béo tốt đi lên và gặm cỏ trong đám sậy.

19 Rồi lại có bảy con bò khác xấu xí, gầy guộc lên theo. Thật, trẫm chưa từng thấy trong cả xứ Ai Cập nầy có con bò nào xấu xí gầy guộc như vậy bao giờ.

20 Bảy con bò xấu xí gầy guộc đó ăn thịt bảy con bò béo tốt,

21 nuốt chúng vào bụng mà trông như không nuốt, vì các con bò đó vẫn xấu xí gầy guộc như trước. Rồi trẫm tỉnh dậy.

22 Sau đó, trẫm lại thấy một giấc mộng khác, có bảy bông lúa chắc hạt, tốt tươi mọc chung trên một cọng lúa.

23 Rồi lại có bảy bông lúa lép hạt, khô héo, và cháy nám vì gió đông, mọc theo bảy bông lúa kia;

24 và bảy bông lúa lép đó lại nuốt chửng bảy bông lúa chắc hạt. Trẫm đã kể chiêm bao nầy cho các thuật sĩ, nhưng không ai có thể giải thích ý nghĩa cho trẫm được.”

25 Giô-sép tâu với Pha-ra-ôn: “Hai giấc mộng của bệ hạ có cùng một ý nghĩa. Đức Chúa Trời đã báo cho bệ hạ biết trước những việc Ngài sẽ làm.

26 Bảy con bò béo tốt đó là bảy năm, bảy bông lúa chắc hạt đó cũng là bảy năm; hai giấc mộng đó chỉ là một.

27 Bảy con bò xấu xí, gầy guộc đi lên sau bảy con bò kia tức là bảy năm; và bảy bông lúa lép bị héo úa vì gió đông cũng vậy, đó là bảy năm đói kém.

28 Như điều hạ thần đã tâu với bệ hạ: Đức Chúa Trời đã cho bệ hạ thấy những việc Ngài sẽ làm.

29 Khắp Ai Cập sẽ có bảy năm được mùa dư dật.

30 Nhưng tiếp theo bảy năm đó sẽ là bảy năm đói kém. Cả Ai Cập sẽ quên đi tất cả sự sung túc đã có, và nạn đói sẽ làm cho cả xứ kiệt quệ.

31 Vì nạn đói tiếp theo nầy quá nghiêm trọng nên trong xứ sẽ không còn ai biết đến thời kỳ sung túc là gì nữa.

32 Giấc mộng của bệ hạ được lặp lại hai lần có nghĩa là Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi, và Ngài sẽ nhanh chóng thực hiện.

33 Vậy bây giờ bệ hạ nên chọn một người thông minh sáng suốt, và lập người ấy cai quản đất nước Ai Cập.

34 Xin bệ hạ tiến hành bổ nhiệm các viên chức trên khắp nước và thu một phần năm sản lượng của xứ trong bảy năm mùa màng sung túc.

35 Xin bệ hạ truyền cho họ thu góp tất cả lương thực của những năm được mùa sắp đến, và cho họ được quyền tồn trữ lúa mì trong các thành để làm lương thực. Họ có nhiệm vụ canh giữ các kho lương thực ấy.

36 Số lương thực nầy là để dự trữ cho bảy năm đói kém sẽ đến trong xứ Ai Cập, nhờ đó xứ nầy không bị tiêu diệt vì nạn đói.”

37 Lời đề nghị nầy làm hài lòng Pha-ra-ôn và các triều thần.

38 Pha-ra-ôn bàn với các triều thần: “Chúng ta tìm đâu ra một người như người nầy, một người có Thần của Đức Chúa Trời?”

39 Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Vì Đức Chúa Trời bày tỏ cho ngươi biết tất cả những việc nầy, nên chẳng còn ai khôn ngoan sáng suốt hơn ngươi cả.

40 Vậy, ngươi sẽ cai trị nhà của trẫm, toàn dân của trẫm sẽ phục tùng mệnh lệnh của ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngai vua mà thôi.”

41 Pha-ra-ôn lại nói với Giô-sép: “Nầy, trẫm lập ngươi cai trị toàn cõi Ai Cập.”

42 Vua liền cởi chiếc nhẫn khỏi tay mình và đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc cho ông y phục bằng vải gai mịn và đeo vòng vàng vào cổ.

43 Vua truyền cho ông ngồi trên chiếc xe dành cho nhân vật số hai sau vua và có người đi trước hô lên: “Hãy quỳ xuống!” Như vậy, Giô-sép được vua lập lên cầm quyền cả xứ Ai Cập.

44 Pha-ra-ôn lại nói với Giô-sép: “Trẫm là Pha-ra-ôn, nhưng nếu không có lệnh của ngươi, thì không ai trong cả đất Ai Cập nầy động đậy nổi tay chân.”

45 Pha-ra-ôn đặt tên cho Giô-sép là Xa-phơ-nát Pha-nê-ách, và gả Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành Ôn, cho ông làm vợ. Giô-sép thường tuần hành khắp xứ Ai Cập.

46 Giô-sép được ba mươi tuổi khi ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Ông từ giã Pha-ra-ôn để đi kinh lý toàn cõi Ai Cập.

47 Trong bảy năm được mùa, đất sinh hoa lợi dư dật.

48 Giô-sép thu góp tất cả lương thực của bảy năm được mùa tại Ai Cập, và trữ lại trong các thành. Lương thực thu hoạch được từ các đồng ruộng chung quanh thành nào thì ông cho chứa vào thành đó.

49 Giô-sép thu trữ lúa mì rất nhiều, nhiều như cát biển, đến mức ông không đong lường nữa, vì không thể đong lường nổi.

50 Trước năm đói kém, Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành Ôn, sinh cho Giô-sép hai con trai.

51 Giô-sép đặt tên cho con đầu lòng là Ma-na-se, và nói: “Đức Chúa Trời đã làm cho ta quên đi mọi gian khổ và cả nhà cha ta.”

52 Ông đặt tên cho con thứ nhì là Ép-ra-im, và nói: “Đức Chúa Trời làm cho ta được hưng thịnh trong xứ mà ta chịu nhiều khốn khổ.”

53 Bảy năm được mùa dư dật tại Ai Cập chấm dứt

54 thì bảy năm đói kém bắt đầu, đúng như lời Giô-sép đã nói. Tất cả các xứ khác đều bị đói, nhưng trong toàn cõi Ai Cập thì có bánh ăn.

55 Rồi cả xứ Ai Cập cũng bị đói, dân chúng kêu xin Pha-ra-ôn cấp lương thực. Pha-ra-ôn nói với mọi người Ai Cập: “Hãy đến với Giô-sép và làm theo điều người chỉ bảo.”

56 Khi nạn đói lan rộng khắp xứ, Giô-sép mở các kho lúa mì và bán cho dân Ai Cập.

57 Các nước khác cũng kéo đến Ai Cập gặp Giô-sép để mua lúa mì, vì nạn đói hoành hành khắp nơi trên thế giới.

42

1 Gia-cốp được tin ở Ai Cập có bán lúa mì nên nói với các con trai: “Sao các con cứ ngồi nhìn nhau vậy?

2 Nầy, cha nghe dưới Ai Cập có lúa. Các con hãy xuống đó mua lúa về cho chúng ta, để chúng ta sống mà khỏi phải chết.”

3 Mười người anh của Giô-sép lên đường xuống Ai Cập để mua lúa.

4 Nhưng Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em Giô-sép, đi cùng các anh, vì ông sợ điều không hay xảy đến cho cậu.

5 Vậy, trong số những người đến Ai Cập mua lúa có các con trai của Y-sơ-ra-ên, vì xứ Ca-na-an cũng rơi vào nạn đói.

6 Bấy giờ Giô-sép làm tể tướng của Ai Cập; chính ông là người bán lúa cho toàn dân trong xứ. Các anh Giô-sép đến sấp mình xuống đất trước mặt ông.

7 Giô-sép thấy các anh thì nhận ra ngay, nhưng ông làm như người xa lạ đối với họ và hỏi họ một cách lạnh lùng: “Các ngươi từ đâu đến?” Họ trả lời: “Từ xứ Ca-na-an đến để mua lương thực.”

8 Giô-sép nhận biết các anh, nhưng họ không nhận ra ông.

9 Giô-sép nhớ lại những giấc mộng mà ông đã thấy về anh em mình, nên bảo họ: “Các ngươi là gián điệp đến đây để do thám những chỗ sơ hở của xứ nầy.”

10 Họ nói: “Thưa ngài, không phải vậy! Các đầy tớ ngài chỉ đến đây để mua lương thực.

11 Chúng tôi đều là con một cha, vốn là người lương thiện chứ không phải là gián điệp đâu.”

12 Ông quả quyết: “Không! Các ngươi đến để dò xét những chỗ sơ hở của xứ nầy.”

13 Họ nói: “Các đầy tớ ngài có mười hai anh em, con cùng một cha, ở đất Ca-na-an. Đứa em út hiện ở nhà với cha chúng tôi, còn một người mất tích.”

14 Giô-sép nói: “Thật, đúng như ta đã nói, các ngươi là gián điệp.

15 Nhưng đây là cách ta sẽ thử các ngươi: Ta lấy mạng sống của Pha-ra-ôn mà thề rằng, các ngươi sẽ không được rời khỏi nơi nầy nếu người em út của các ngươi không đến đây.

16 Hãy cử một người trong các ngươi về đưa cậu em út xuống, những người còn lại thì phải ở tù tại đây. Lời các ngươi phải được thử nghiệm xem có đúng sự thật hay không. Nếu sai sự thật thì ta chỉ mạng sống Pha-ra-ôn mà thề rằng các ngươi là gián điệp.”

17 Rồi ông giam chung họ vào ngục ba ngày.

18 Đến ngày thứ ba, Giô-sép bảo họ: “Vì ta kính sợ Đức Chúa Trời nên các ngươi muốn sống thì hãy làm thế nầy.

19 Nếu các ngươi là người lương thiện thì hãy để một người ở lại trong ngục nầy, còn những người khác thì đem lương thực về cứu đói gia đình.

20 Sau đó, các ngươi phải đưa người em út xuống gặp ta để minh chứng lời các ngươi là thật, và các ngươi sẽ không phải chết.” Họ đồng ý như vậy.

21 Các anh em bảo nhau: “Thật chúng ta đã có lỗi với em chúng ta. Chúng ta đã thấy nỗi khổ đau trong tâm hồn nó khi nó năn nỉ chúng ta mà chúng ta không đoái hoài đến. Vì vậy mà nay chúng ta phải chịu nỗi khổ đau nầy.”

22 Ru-bên trách họ: “Chẳng phải anh đã nói với các chú là đừng mắc tội làm hại thằng bé sao? Nhưng các chú không nghe. Bây giờ thì phải đền nợ máu nó thôi.”

23 Họ không biết rằng Giô-sép hiểu điều họ nói, vì ông vẫn dùng một người thông dịch.

24 Giô-sép quay đi chỗ khác mà khóc, rồi mới tiếp tục nói chuyện với họ. Trong số họ, ông truyền bắt Si-mê-ôn ra và trói lại trước mặt họ.

25 Giô-sép truyền xúc lúa mì đổ đầy các bao và trả tiền lại; tiền của ai thì để trong bao người nấy, đồng thời cũng cấp thêm lương thực đi đường. Người ta làm đúng như vậy.

26 Các anh em chất lúa lên lưng lừa rồi ra đi.

27 Đến quán trọ, một người trong họ mở bao lấy lúa cho lừa ăn thì thấy tiền của mình nằm ở miệng bao.

28 Người ấy nói với anh em: “Xem nầy, người ta đã trả tiền lại cho tôi. Nó nằm trong miệng bao tôi đây!” Như người mất hồn, họ run sợ nói với nhau: “Đức Chúa Trời đã làm gì cho chúng ta thế nầy?”

29 Khi trở về gặp cha là Gia-cốp tại xứ Ca-na-an, họ thuật lại cho ông nghe mọi việc đã xảy ra. Họ nói:

30 “Người đang làm chúa tể xứ Ai Cập đã nói với chúng con cách gay gắt, gán cho chúng con là gián điệp đến do thám xứ ấy.

31 Chúng con đã thưa với ông ta: ‘Chúng tôi vốn là người lương thiện chứ không phải là gián điệp.

32 Chúng tôi có mười hai anh em, con một cha; một người đã mất tích, người em út hiện đang ở nhà với cha tại Ca-na-an.’

33 Nhưng người đang làm chúa tể của xứ ấy bảo: ‘Đây là cách giúp ta biết các ngươi có phải là người lương thiện không. Hãy để một người trong các ngươi ở lại đây với ta, còn những người khác hãy đi, đem lương thực về cứu đói gia đình,

34 rồi đưa người em út đến gặp ta. Như vậy, ta mới chắc rằng các ngươi không phải là gián điệp mà là những người lương thiện. Ta sẽ giao lại người anh em kia, và các ngươi sẽ được buôn bán trong xứ nầy.’”

35 Khi trút lúa ra khỏi bao, họ thấy trong bao người nào cũng có gói tiền của mình. Thấy những gói tiền, họ và cả người cha đều rất sợ hãi.

36 Gia-cốp, cha họ, nói: “Chúng mầy đã cướp đi các con ta! Giô-sép mất tích, Si-mê-ôn không còn, bây giờ lại còn muốn dẫn Bên-gia-min đi nữa! Mọi chuyện đều đổ lên đầu ta hết!”

37 Ru-bên nói với cha: “Xin cha giao em cho con, con sẽ đưa nó về cho cha. Nếu con không đem nó về, xin cha cứ giết hai đứa con của con.”

38 Nhưng Gia-cốp nói: “Con út ta sẽ chẳng xuống đó với các con đâu, vì anh nó đã chết rồi, chỉ còn lại một mình nó thôi. Nếu dọc đường nó gặp phải tai họa thì các con làm cho kẻ đầu bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.”

43

1 Nạn đói trong xứ càng trở nên trầm trọng.

2 Khi gia đình đã ăn hết lúa từ Ai Cập đem về thì người cha bảo họ: “Các con hãy trở lại mua một ít lương thực cho chúng ta.”

3 Giu-đa thưa: “Người đó đã quả quyết với chúng con: ‘Nếu không có người em út cùng đi thì các ngươi sẽ không được gặp ta.’

4 Nếu cha cho em cùng đi thì chúng con mới xuống mua lương thực cho cha được.

5 Nếu cha không cho nó đi thì chúng con không xuống đâu, vì người đó đã bảo: ‘Nếu không có người em út cùng đi thì các ngươi sẽ không được gặp ta.’”

6 Y-sơ-ra-ên trách: “Sao các con hại ta mà nói với người ấy rằng các con còn một đứa em nữa?”

7 Họ thưa: “Người ấy hỏi rất kỹ về chúng con và họ hàng chúng con, nào là: ‘Thân phụ các ngươi còn sống không? Còn người anh em nào nữa không?’ Chúng con đâu có nói gì khác ngoài trả lời các câu hỏi đó. Làm sao chúng con biết ông ấy bảo rằng hãy đem em các ngươi xuống đây?”

8 Giu-đa lại thưa với Y-sơ-ra-ên, cha mình: “Xin cha cho thằng bé đi với con, chúng con sẽ đứng dậy đi ngay để tất cả chúng ta được sống; cả chúng con, cha và các cháu nhỏ đều khỏi phải chết đói.

9 Chính con sẽ bảo lãnh cho em và xin chịu trách nhiệm với cha. Nếu con không đưa em về cho cha và đặt nó trước mặt cha thì con sẽ mang tội với cha suốt đời.

10 Nếu không chần chừ thì bây giờ chúng con đã đi được hai chuyến rồi.”

11 Y-sơ-ra-ên, cha họ, nói: “Nếu vậy thì các con nên làm thế nầy: Trong hành lý của các con phải đem theo một số đặc sản địa phương như một ít nhũ hương và mật ong, hương liệu, mộc dược, hạt dẻ và hạnh nhân để làm quà cho người ấy.

12 Hãy đem gấp đôi số tiền, vì các con phải hoàn lại số tiền mà có thể do sơ suất người ta đã để vào miệng bao của các con.

13 Hãy mau đem em các con theo và lên đường trở lại gặp người ấy đi.

14 Cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng làm cho các con được ơn trước mặt người ấy, để Si-mê-ôn và Bên-gia-min được về với các con. Còn cha, nếu phải mất các con thì cha đành cam chịu!”

15 Vậy, các anh em đem theo quà biếu, một số tiền gấp đôi và Bên-gia-min, rồi cùng lên đường xuống Ai Cập và ra mắt Giô-sép.

16 Khi Giô-sép thấy Bên-gia-min cùng đến với họ thì nói với người quản gia: “Đưa những người nầy vào nhà, bắt một con thú làm thịt và dọn bữa ăn, vì trưa nay họ sẽ dùng bữa với ta.”

17 Quản gia làm như lời Giô-sép dặn, đưa họ vào nhà Giô-sép.

18 Thấy mình bị dẫn vào nhà Giô-sép, mấy anh em sợ hãi. Họ nói với nhau: “Chính vì số tiền đã để lại trong bao chúng ta lần trước mà họ đưa chúng ta vào đây để tìm cớ xông vào đánh chúng ta, bắt chúng ta làm nô lệ và chiếm đoạt mấy con lừa của chúng ta.”

19 Rồi họ đến gần người quản gia của Giô-sép, và từ ngoài cửa, họ nói với ông:

20 “Thưa ngài, lần trước chúng tôi đã đến đây để mua lương thực.

21 Nhưng khi về đến quán trọ, mở các bao lúa ra thì mới thấy tiền của người nào nằm trong miệng bao của người nấy, đúng với số bạc đã cân. Chúng tôi có mang số tiền đó đến đây.

22 Ngoài ra, chúng tôi cũng có đem thêm số tiền khác để mua lương thực. Chúng tôi chẳng biết ai đã để tiền lại trong các bao lúa chúng tôi.”

23 Người quản gia nói: “Mọi việc đều bình an, đừng sợ! Chính Đức Chúa Trời của các anh, cũng là Đức Chúa Trời của thân phụ các anh, đã ban báu vật vào bao các anh. Còn tiền của các anh đã đến tay tôi rồi.” Nói xong, ông đưa Si-mê-ôn ra gặp họ,

24 rồi đưa mọi người vào nhà Giô-sép, đem nước cho họ rửa chân, và lấy cỏ cho lừa ăn.

25 Các anh em chuẩn bị sẵn quà tặng, đợi trưa Giô-sép về, vì họ nghe rằng mình sẽ dùng bữa tại đây.

26 Khi Giô-sép về, các anh em lấy quà tặng mà họ đã đem theo, dâng cho Giô-sép và sấp mình xuống đất trước mặt ông.

27 Ông thăm hỏi họ và nói: “Người cha già mà các ngươi nói với ta đó có mạnh khỏe không? Cụ còn sống không?”

28 Họ đáp: “Đầy tớ ngài, là cha chúng tôi, vẫn mạnh khỏe và còn sống.” Rồi họ cúi đầu và sấp mình xuống.

29 Giô-sép ngước mắt lên thấy Bên-gia-min, người em cùng mẹ với mình, liền hỏi: “Đây có phải là người em út mà các ngươi đã nói với ta không?” Rồi ông tiếp: “Út ơi! Cầu xin Đức Chúa Trời đoái thương em!”

30 Trông thấy em, Giô-sép vô cùng xúc động nên vội vã ra ngoài, tìm chỗ để khóc. Ông vào phòng riêng và khóc.

31 Rồi ông rửa mặt, bước ra, cố trấn tĩnh và nói: “Dọn thức ăn lên!”

32 Người ta dọn riêng cho Giô-sép, dọn riêng cho các anh em, và cũng dọn riêng cho những người Ai Cập thường ăn với ông, vì việc dùng bữa chung với người Hê-bơ-rơ là điều đáng ghê tởm đối với người Ai Cập.

33 Các anh em được xếp ngồi đối diện với Giô-sép, theo thứ tự từ anh cả đến em út. Họ sững sờ nhìn nhau.

34 Phần thức ăn dọn cho Giô-sép được đem qua bàn của các anh em, nhưng phần của Bên-gia-min lại nhiều gấp năm lần của những người khác. Họ ăn uống no say và vui vẻ với Giô-sép.

44

1 Giô-sép ra lệnh cho quản gia: “Hãy đổ đầy lương thực vào bao của những người nầy. Họ chở được bao nhiêu thì đổ cho họ bấy nhiêu, còn tiền của người nào thì để vào bao của người nấy.

2 Cũng để cái chén bạc của ta vào miệng bao của người em út, chung với tiền mua lúa của nó.” Quản gia làm đúng như lời Giô-sép dặn.

3 Vừa rạng sáng hôm sau, người ta để cho anh em của Giô-sép cùng với lừa của họ ra đi.

4 Họ ra khỏi thành chưa được bao xa thì Giô-sép bảo người quản gia: “Hãy mau đuổi theo những người kia; khi đuổi kịp rồi, hãy nói: ‘Sao các người lấy oán đền ân?

5 Chẳng phải đây là cái chén mà chủ ta dùng để uống rượu và bói toán sao? Các người đã làm một việc thật tệ hại.’”

6 Người quản gia đuổi kịp và lặp lại những lời ấy.

7 Họ đáp: “Sao ngài lại nói vậy? Không bao giờ các đầy tớ ngài lại làm một việc như thế!

8 Ngài xem, từ Ca-na-an chúng tôi còn đem tiền tìm thấy trong miệng bao xuống trả lại cho ngài, thử hỏi làm sao chúng tôi lại ăn cắp bạc hay vàng trong nhà chủ ngài được chứ?

9 Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho ngài.”

10 Người quản gia nói: “Được, hãy làm như lời các người nói. Nếu tìm thấy chén nơi người nào thì người đó sẽ làm nô lệ cho tôi, còn những người khác thì vô tội.”

11 Mỗi người vội vàng hạ bao lúa mình xuống đất và mở ra.

12 Người quản gia lần lượt lục soát, bắt đầu từ người anh cả đến người em út. Cái chén được tìm thấy trong bao của Bên-gia-min.

13 Họ xé áo mình, mỗi người chất đồ lên lưng lừa, rồi trở lại thành.

14 Khi Giu-đa và các anh em vào đến nhà Giô-sép thì ông vẫn còn ở đó. Họ sấp mình xuống đất trước mặt ông.

15 Giô-sép hỏi: “Các người đã làm gì vậy? Các người không biết rằng ta có khả năng bói toán sao?”

16 Giu-đa đáp: “Chúng tôi biết nói gì với ngài? Trình bày gì đây? Biện minh như thế nào? Đức Chúa Trời đã vạch ra tội lỗi của các đầy tớ ngài rồi. Bây giờ, cả chúng tôi lẫn người bị bắt gặp đang giữ cái chén đều là nô lệ của ngài.”

17 Nhưng Giô-sép nói: “Ta không bao giờ muốn làm như vậy! Người bị bắt gặp đang giữ cái chén sẽ làm nô lệ cho ta, còn các ngươi cứ an tâm trở về với cha mình.”

18 Giu-đa đến gần Giô-sép và nói: “Thưa ngài, xin thứ lỗi và cho đầy tớ ngài được giải bày đôi lời. Xin ngài đừng trút giận trên đầy tớ ngài, vì ngài ngang hàng với Pha-ra-ôn.

19 Ngài đã có lần hỏi các đầy tớ ngài rằng: ‘Các ngươi còn cha hay là anh em nào không?’

20 Chúng tôi đã thưa với ngài: ‘Chúng tôi còn cha già và một em út ra đời lúc cha đã cao tuổi. Anh ruột của nó đã chết nên trong các con của mẹ nó chỉ còn một mình nó và cha thương nó lắm.’

21 Ngài có bảo các đầy tớ ngài: ‘Hãy đưa nó xuống gặp ta để ta được thấy nó tận mắt.’

22 Chúng tôi cũng đã thưa với ngài: ‘Đứa trẻ không thể rời cha được vì nếu nó rời cha, thì cha sẽ chết.’

23 Nhưng ngài lại bảo: ‘Nếu người em út không cùng xuống đây với các ngươi thì các ngươi sẽ không được gặp ta nữa.’

24 Khi trở về với đầy tớ ngài là cha tôi thì chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời ngài nói.

25 Sau đó, cha lại bảo chúng tôi: ‘Hãy trở xuống mua về một ít lương thực.’

26 Chúng tôi thưa: ‘Chúng con không thể xuống đó được. Nếu có chú út cùng đi thì chúng con mới xuống được, vì chúng con không thể gặp người ấy nếu chú út không cùng đi.’

27 Đầy tớ ngài là cha tôi, nói với chúng tôi: ‘Các con biết rằng vợ ta sinh cho ta hai đứa con trai;

28 một đứa đã đi mất biệt, và ta cũng đã nói, chắc nó đã bị thú dữ xé xác rồi, vì đến nay ta vẫn chưa thấy lại nó.

29 Nếu các con còn đem đứa nầy đi xa ta nữa, và nó gặp phải tai họa, thì các con làm cho kẻ đầu bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.’

30 Sự sống của cha tôi ràng buộc vào sự sống của em tôi. Vậy, nếu bây giờ tôi trở về với đầy tớ ngài là cha tôi, mà không có thằng bé đi cùng

31 thì cha tôi sẽ chết khi không thấy thằng bé. Nếu vậy, các đầy tớ ngài sẽ làm cho cha già tóc bạc của chúng tôi, cũng là đầy tớ ngài, đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.

32 Kẻ đầy tớ nầy đã đứng bảo lãnh cho thằng bé, và nói: ‘Nếu con không đem em về cho cha thì con sẽ mang tội với cha suốt đời.’

33 Vậy bây giờ, xin cho đầy tớ ngài được làm nô lệ cho ngài thay cho thằng bé, và cho thằng bé cùng về với các anh nó.

34 Thật, làm sao tôi dám trở về với cha tôi mà không có thằng bé chứ? Không, tôi không thể nào chứng kiến điều bất hạnh giáng xuống trên cha tôi được!”

45

1 Bấy giờ, Giô-sép không thể cầm lòng trước mặt các người hầu chung quanh được nữa nên ông thét lên: “Bảo mọi người ra khỏi đây đi!” Vì vậy, không ai có mặt ở đó khi Giô-sép tỏ thật với các anh em mình.

2 Ông bật khóc lớn đến nỗi những người Ai Cập và cả hoàng gia Pha-ra-ôn đều nghe.

3 Giô-sép nói với các anh em: “Tôi là Giô-sép đây! Cha tôi còn sống không?” Nhưng trước mặt ông, các anh em đều sợ hãi, không thốt nên lời.

4 Giô-sép nói: “Xin anh em hãy đến gần tôi.” Họ lại gần. Ông nói: “Tôi là Giô-sép, đứa em mà các anh đã bán sang Ai Cập đây.

5 Nhưng bây giờ, các anh đừng đau buồn và cũng đừng tự trách mình vì đã bán tôi sang đây. Vì để bảo tồn sự sống mà Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh.

6 Nạn đói đã xảy ra trong xứ hai năm rồi, và sẽ còn năm năm không cày cấy, không gặt hái được nữa.

7 Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước để duy trì cho các anh một dòng dõi trên đất, và cứu mạng sống các anh bằng một cuộc giải cứu vĩ đại.

8 Vậy không phải các anh mà chính Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây. Ngài lập tôi làm cha Pha-ra-ôn, làm chúa của triều đình, và cai trị toàn cõi Ai Cập.

9 Các anh hãy mau mau trở về gặp cha tôi và thưa: ‘Giô-sép, con của cha, nói thế nầy: Đức Chúa Trời đã lập con làm chúa của toàn cõi Ai Cập. Xin cha xuống đây với con, xin đừng chậm trễ.

10 Cha sẽ cư ngụ trong đất Gô-sen và ở gần con. Cha sẽ ở với các con, các cháu của cha, bầy chiên, bầy bò cùng tất cả những gì thuộc về cha.

11 Ở đó con sẽ phụng dưỡng cha, vì còn năm năm đói kém nữa, để cha, gia đình cha, và tất cả đàn gia súc của cha không rơi vào cảnh đói khát.’

12 Các anh và em Bên-gia-min đã thấy tận mắt là chính miệng tôi nói chuyện với các anh em đó.

13 Các anh hãy thuật cho cha nghe về mọi vinh quang của tôi tại Ai Cập cũng như những gì anh em đã thấy, rồi mau chóng đưa cha xuống đây.”

14 Nói xong, Giô-sép ôm choàng lấy Bên-gia-min, em mình, mà khóc. Bên-gia-min cũng ôm cổ anh mà khóc.

15 Rồi Giô-sép ôm hôn tất cả các anh và khóc với họ. Sau đó, anh em trò chuyện với ông.

16 Khi tin tức đến tai hoàng gia Pha-ra-ôn rằng: “Anh em Giô-sép đã đến,” Pha-ra-ôn và quần thần đều vui mừng.

17 Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Hãy bảo anh em ngươi làm điều nầy: ‘Hãy chất đồ lên lừa và trở về xứ Ca-na-an

18 rước cha và gia đình của các ngươi xuống ở với ta. Ta sẽ ban cho các ngươi phần tốt nhất trong xứ Ai Cập, và các ngươi sẽ hưởng màu mỡ của đất.’

19 Còn ngươi hãy nói lại với họ thế nầy: ‘Hãy đem xe từ Ai Cập về chở vợ con và rước cha các ngươi xuống đây.

20 Đừng tiếc tài sản mình, vì những gì tốt nhất của xứ Ai Cập sẽ thuộc về các ngươi.’”

21 Các con trai của Y-sơ-ra-ên đã làm đúng như thế. Giô-sép theo lệnh Pha-ra-ôn cấp xe cộ cũng như lương thực cho anh em dùng trong lúc đi đường.

22 Ông tặng cho mỗi người một bộ quần áo, còn Bên-gia-min thì ông tặng ba trăm miếng bạc và năm bộ quần áo.

23 Ông cũng gửi về cho cha mười con lừa chở đầy các vật quý nhất trong xứ Ai Cập, mười con lừa cái chở lúa mì, bánh, và lương thực để cha dùng trong lúc đi đường.

24 Rồi Giô-sép tiễn anh em mình lên đường. Ông dặn họ: “Đừng cãi cọ nhau dọc đường.”

25 Các anh em từ Ai Cập trở về Ca-na-an, gặp Gia-cốp, cha mình.

26 Họ báo với ông: “Giô-sép hãy còn sống và đang cai trị toàn cõi Ai Cập!” Nhưng lòng Gia-cốp vẫn dửng dưng vì ông không tin lời họ nói.

27 Nhưng khi họ kể lại cho ông tất cả những lời Giô-sép đã nói với họ, và khi thấy xe cộ mà Giô-sép gửi về để rước mình thì tâm thần Gia-cốp, cha họ, mới hồi tỉnh.

28 Y-sơ-ra-ên nói: “Thế là đủ rồi! Giô-sép, con trai ta, vẫn còn sống. Ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua đời.”

46

1 Y-sơ-ra-ên lên đường, đem theo tất cả tài sản. Đến Bê-e Sê-ba, ông dâng sinh tế lên Đức Chúa Trời của Y-sác, cha mình.

2 Một đêm kia, Đức Chúa Trời phán với Y-sơ-ra-ên qua khải tượng. Ngài gọi: “Gia-cốp, Gia-cốp!” Y-sơ-ra-ên thưa: “Có con đây.”

3 Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời của thân phụ con. Đừng sợ khi xuống Ai Cập, vì tại đó Ta sẽ làm cho con trở nên một dân lớn.

4 Chính Ta sẽ xuống Ai Cập với con, và cũng chính Ta sẽ dẫn con trở về. Bàn tay Giô-sép sẽ vuốt mắt cho con.”

5 Rồi Gia-cốp rời Bê-e Sê-ba. Các con trai Y-sơ-ra-ên tức Gia-cốp, đưa cha mình, các con trẻ và các bà vợ của họ lên các xe mà Pha-ra-ôn đã gửi về để rước cha.

6 Họ cũng mang theo súc vật và của cải đã gây dựng được tại Ca-na-an xuống Ai Cập.

7 Vậy, Gia-cốp và cả dòng dõi ông gồm con trai, cháu trai, con gái, cháu gái, cùng xuống Ai Cập.

8 Đây là tên các con trai của Y-sơ-ra-ên, tức là Gia-cốp và dòng dõi ông, đã đến Ai Cập: Trưởng nam của Gia-cốp là Ru-bên.

9 Các con trai của Ru-bên là Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.

10 Các con trai của Si-mê-ôn là Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ, con của người vợ Ca-na-an.

11 Các con trai của Lê-vi là: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.

12 Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, Sê-la, Phê-rết và Xê-rách. Nhưng Ê-rơ và Ô-nan đã chết tại Ca-na-an. Con của Phê-rết là: Hết-rôn và Ha-mun.

13 Các con trai của Y-sa-ca là: Thô-la, Phu-va, Gióp, và Sim-rôn.

14 Các con trai của Sa-bu-lôn là: Sê-rết, Ê-lôn, và Gia-lê-ên.

15 Đó là các con trai và một con gái tên là Đi-na mà Lê-a sinh cho Gia-cốp tại Pha-đan A-ram. Cộng thêm các cháu thì tất cả là ba mươi ba người.

16 Các con trai của Gát là: Xi-phi-ôn, Ha-ghi, Su-ni, Ét-bôn, Ê-ri, A-rô-đi và A-rê-li.

17 Các con trai của A-se là: Dim-na, Dích-va, Dích-vi, và Bê-ri-a. Em gái của họ là Sê-rách. Các con trai của Bê-ri-a là: Hê-be và Manh-ki-ên.

18 Đó là các con trai của Xinh-ba, người mà La-ban đã cho theo hầu Lê-a, con gái ông, sinh cho Gia-cốp. Tất cả là mười sáu người.

19 Các con trai của Ra-chên, vợ Gia-cốp, là: Giô-sép và Bên-gia-min.

20 Giô-sép đã có con tại Ai Cập là Ma-na-se và Ép-ra-im mà Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành Ôn, đã sinh cho ông.

21 Các con trai của Bên-gia-min là: Bê-la, Bê-ke, Ách-bên, Giê-ra, Na-a-man, Ê-hi, Rô-sơ, Mốp-bim, Hốp-bim, và A-rết.

22 Đó là các con trai mà Ra-chên sinh cho Gia-cốp. Cộng thêm các cháu, tất cả là mười bốn người.

23 Con trai của Đan là: Hu-sim.

24 Các con trai của Nép-ta-li là: Giát-sê-ên, Gu-ni, Giê-xe, và Si-lem.

25 Đó là các con trai của Bi-la, người mà La-ban đã cho theo hầu Ra-chên, con gái ông, sinh cho Gia-cốp. Cộng thêm các cháu, tất cả là bảy người.

26 Số người cùng Gia-cốp đi xuống Ai Cập, tức là dòng giống của ông, không kể các con dâu của Gia-cốp, là sáu mươi sáu người.

27 Các con trai của Giô-sép đã sinh tại Ai Cập là hai người. Vậy, tổng số những người thuộc gia đình Gia-cốp đi đến Ai Cập là bảy mươi người.

28 Gia-cốp sai Giu-đa đi trước gặp Giô-sép để Giô-sép dẫn đường vào Gô-sen. Khi họ đến địa phận Gô-sen,

29 Giô-sép đã chuẩn bị sẵn xe và lên Gô-sen đón Y-sơ-ra-ên, cha mình. Vừa thấy cha, ông ôm choàng lấy cha mà khóc một hồi lâu.

30 Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sép rằng: “Bây giờ cha có chết cũng được, vì cha đã thấy được mặt con và biết con vẫn còn sống.”

31 Giô-sép nói với các anh em và những người trong gia đình cha mình: “Tôi sẽ lên tâu cho Pha-ra-ôn hay rằng: ‘Anh em và cả gia đình cha tôi ở xứ Ca-na-an đã đến với tôi.

32 Những người nầy vốn làm nghề chăn chiên, chuyên nuôi súc vật. Họ có đem theo bầy chiên, bò và tất cả các tài sản của mình.’

33 Vậy khi Pha-ra-ôn truyền gọi anh em và hỏi: ‘Các ngươi làm nghề gì?’

34 thì hãy tâu: ‘Từ thuở bé đến giờ, các đầy tớ vua chỉ chuyên nghề nuôi súc vật như tổ tiên mình.’ Nói vậy để anh em có thể ở lại đất Gô-sen, vì dân Ai Cập hay ghê tởm những người chăn chiên.”

47

1 Giô-sép đến tâu trình với Pha-ra-ôn: “Cha tôi và anh em tôi từ xứ Ca-na-an đã đến cùng với chiên, bò, và tất cả những gì họ có. Bây giờ họ đang ở tại Gô-sen.”

2 Ông chọn năm người trong số các anh em và đưa vào yết kiến Pha-ra-ôn.

3 Pha-ra-ôn hỏi: “Các ngươi làm nghề gì?” Họ thưa: “Các đầy tớ bệ hạ làm nghề chăn chiên như tổ tiên đã làm.”

4 Rồi họ thưa tiếp: “Chúng tôi đến tạm trú trong đất nầy vì ở Ca-na-an không còn đồng cỏ cho súc vật và nạn đói đã trở nên trầm trọng. Vậy, xin bệ hạ cho các đầy tớ ngài được cư ngụ tại xứ Gô-sen.”

5 Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Cha ngươi và các anh em đã đến với ngươi.

6 Đất nước Ai Cập đang ở trước mặt ngươi, hãy cho cha và anh em ngươi ở nơi nào tốt nhất trong xứ nầy. Hãy cứ để họ ở đất Gô-sen. Nếu ngươi biết trong số họ ai có tài thì giao cho họ trông nom các đàn súc vật của ta.”

7 Sau đó, Giô-sép đưa cha mình là Gia-cốp vào yết kiến Pha-ra-ôn. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn.

8 Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp: “Cụ được bao nhiêu tuổi rồi?”

9 Gia-cốp đáp: “Những năm tháng phiêu bạt của tôi tổng cộng là một trăm ba mươi năm. Những năm tháng đời tôi ngắn ngủi và nhọc nhằn, không so được với cuộc đời phiêu bạt của tổ phụ tôi.”

10 Gia-cốp lại chúc phước cho Pha-ra-ôn rồi cáo biệt vua.

11 Theo lệnh Pha-ra-ôn, Giô-sép ổn định chỗ ở cho cha và anh em, cấp đất đai để họ làm sản nghiệp trong Ai Cập, tại vùng tốt nhất của xứ sở nầy, thuộc địa hạt Ram-se.

12 Giô-sép cấp lương thực cho cha, anh em và mọi người trong nhà cha, tùy theo số con cái của họ.

13 Trong khắp xứ không còn thức ăn nữa, vì nạn đói trở nên nghiêm trọng. Cả Ai Cập và Ca-na-an đều bị kiệt quệ vì nạn đói.

14 Giô-sép thu tất cả số tiền bạc trong xứ Ai Cập và Ca-na-an, tức là tiền người ta mua lúa, rồi đưa vào kho Pha-ra-ôn.

15 Khi tiền bạc trong xứ Ai Cập và Ca-na-an đã hết thì mọi người Ai Cập đều kéo đến với Giô-sép và yêu cầu: “Xin cấp lương thực cho chúng tôi. Chẳng lẽ vì hết tiền mà chúng tôi phải chết trước mặt ngài sao?”

16 Giô-sép đáp: “Nếu hết tiền bạc thì đem súc vật các ngươi đến, ta sẽ đổi lương thực lấy súc vật.”

17 Dân chúng dẫn súc vật đến cho Giô-sép. Giô-sép đổi lương thực lấy ngựa, bầy chiên, bầy bò, và lừa. Năm đó, ông cung cấp lương thực cho họ và đổi lấy tất cả các bầy súc vật của họ.

18 Hết năm đó, qua năm sau dân chúng lại đến với ông và nói: “Chúng tôi không giấu gì ngài, tiền bạc của chúng tôi đã hết sạch, bầy súc vật đã giao cho ngài. Bây giờ, như ngài thấy đó, chúng tôi chẳng còn gì ngoài bản thân và đất ruộng.

19 Chẳng lẽ chúng tôi phải chết và ruộng đất chúng tôi phải hoang vu trước mặt ngài sao? Xin ngài lấy lương thực mà mua chúng tôi và đất đai chúng tôi. Chúng tôi và đất đai chúng tôi sẽ làm nô lệ cho Pha-ra-ôn. Xin cho chúng tôi hạt giống để chúng tôi sống chứ không phải chết, và đất đai không bị bỏ hoang.”

20 Giô-sép mua tất cả ruộng đất trong Ai Cập về cho Pha-ra-ôn. Vì nạn đói thúc bách nên mọi người Ai Cập đem bán đồng ruộng mình; vậy đất đai đều thuộc về Pha-ra-ôn.

21 Còn dân chúng thì ông biến họ thành nô lệ từ đầu nầy đến đầu kia của lãnh thổ Ai Cập.

22 Tuy nhiên, Giô-sép không mua ruộng đất của những thầy tế lễ, vì các thầy tế lễ được một phần trợ cấp nhất định của Pha-ra-ôn. Họ sống nhờ phần lương thực Pha-ra-ôn trợ cấp nên không phải bán đất của mình.

23 Giô-sép nói với dân chúng: “Hôm nay ta đã mua các ngươi và đất đai của các ngươi cho Pha-ra-ôn. Đây là hạt giống để các ngươi gieo xuống đất đó.

24 Đến mùa gặt, các ngươi phải nộp cho Pha-ra-ôn một phần năm, còn bốn phần kia là phần của các ngươi để làm giống và làm lương thực cho bản thân, cho người nhà và nuôi con cái.”

25 Dân chúng nói: “Ngài đã cứu mạng chúng tôi! Chúng tôi mong được vừa lòng ngài, và sẽ làm nô lệ cho Pha-ra-ôn.”

26 Vậy Giô-sép lập thành một luật về đất đai tại Ai Cập, đến nay vẫn còn giá trị, tức là phải nộp cho Pha-ra-ôn một phần năm hoa lợi mình có. Chỉ có đất ruộng của các thầy tế lễ là không thuộc về Pha-ra-ôn.

27 Vậy Y-sơ-ra-ên định cư trong miền Gô-sen, thuộc Ai Cập. Con cháu ông đã gây dựng cơ nghiệp tại đó và sinh sôi nẩy nở bội phần.

28 Gia-cốp sống tại Ai Cập được mười bảy năm, hưởng thọ một trăm bốn mươi bảy tuổi.

29 Gần đến ngày qua đời, Y-sơ-ra-ên gọi Giô-sép, con trai mình đến và bảo: “Nếu thương cha, con hãy đặt tay dưới đùi cha, lấy lòng nhân từ và thành thật mà hứa rằng con sẽ không chôn cha tại Ai Cập.

30 Nhưng khi cha đã an giấc với tổ phụ, con hãy đem cha ra khỏi Ai Cập, chôn cạnh phần mộ của tổ tiên.” Giô-sép thưa: “Con sẽ làm đúng như lời cha dặn.”

31 Gia-cốp nói: “Con hãy thề với cha đi.” Giô-sép liền thề. Y-sơ-ra-ên quỳ lạy ngay trên đầu giường mình.

48

1 Sau các việc đó, người ta báo cho Giô-sép: “Cha ngài bị bệnh.” Giô-sép đưa hai con mình là Ma-na-se và Ép-ra-im cùng đến thăm.

2 Khi Gia-cốp được báo tin: “Con trai ông là Giô-sép đến thăm ông,” Y-sơ-ra-ên cố gượng ngồi dậy trên giường.

3 Gia-cốp nói với Giô-sép: “Đức Chúa Trời Toàn Năng đã hiện ra và ban phước cho cha tại Lu-xơ, trong đất Ca-na-an.

4 Ngài phán: ‘Nầy, Ta sẽ làm cho con sinh sôi nẩy nở thật nhiều. Ta sẽ làm cho con thành một cộng đồng gồm nhiều dân tộc và ban cho dòng dõi con đất nầy làm cơ nghiệp đời đời.’

5 Bây giờ, hai đứa con trai đã sinh cho con tại Ai Cập trước khi cha đến, là Ép-ra-im và Ma-na-se, sẽ thuộc về cha như Ru-bên và Si-mê-ôn vậy.

6 Còn những đứa mà con sinh sau sẽ thuộc về con. Chúng sẽ hưởng cơ nghiệp dưới danh nghĩa của hai anh mình.

7 Vì khi từ Pha-đan trở về Ca-na-an thì cha đau lòng chứng kiến Ra-chên chết dọc đường, gần Ép-ra-ta. Cha đã chôn mẹ con bên đường đi Ép-ra-ta (tức là Bết-lê-hem).”

8 Khi thấy các con trai Giô-sép, Y-sơ-ra-ên hỏi: “Những đứa nầy là ai?”

9 Giô-sép thưa: “Đây là các con trai mà Đức Chúa Trời đã ban cho con tại xứ nầy.” Y-sơ-ra-ên bảo: “Đưa chúng đến đây để cha chúc phước cho chúng.”

10 Vì tuổi cao, mắt của Y-sơ-ra-ên đã mờ, không nhìn thấy rõ. Giô-sép đem chúng lại gần ông. Ông ôm chúng và hôn.

11 Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sép: “Cha tưởng không còn thấy được mặt con, thế mà bây giờ Đức Chúa Trời lại cho cha được thấy cả dòng dõi của con nữa.”

12 Giô-sép đỡ hai con trai ra khỏi đầu gối cha mình, rồi sấp mặt xuống đất.

13 Ông đem hai đứa trẻ lại gần cha. Tay phải dắt Ép-ra-im sang phía trái của cha, còn tay trái thì dắt Ma-na-se sang phía phải của cha.

14 Nhưng Y-sơ-ra-ên đưa tay phải ra và đặt trên đầu Ép-ra-im, là đứa nhỏ, còn tay trái lại đặt trên đầu Ma-na-se. Ông bắt chéo tay dù Ma-na-se là con cả.

15 Rồi ông chúc phước cho Giô-sép: “Lạy Đức Chúa Trời Mà tổ phụ con là Áp-ra-ham và Y-sác đã thờ phượng, Là Đức Chúa Trời đã chăn dắt con Từ khi mới ra đời cho đến ngày nay,

16 Là Thiên Sứ đã cứu con khỏi mọi tai họa, Xin Chúa ban phước cho hai đứa trẻ nầy, Cho chúng nối danh con Và tổ phụ con là Áp-ra-ham và Y-sác. Xin cho chúng gia tăng bội phần trên mặt đất!”

17 Khi Giô-sép thấy cha đặt tay phải trên đầu Ép-ra-im thì không bằng lòng, nên ông cầm tay cha đổi từ đầu Ép-ra-im sang đầu Ma-na-se.

18 Ông nói: “Thưa cha, không phải vậy. Đứa nầy mới là con cả, xin cha đặt tay phải trên đầu nó.”

19 Nhưng cha ông không chịu và nói: “Con ơi, cha biết rõ lắm. Ma-na-se sẽ trở thành một dân tộc và nó cũng sẽ lớn mạnh. Tuy nhiên em nó sẽ lớn hơn và dòng dõi em nó sẽ trở thành vô số nước.”

20 Ngày hôm đó, ông chúc phước cho hai đứa trẻ: “Dân Y-sơ-ra-ên sẽ nhân danh các cháu mà chúc phước cho nhau rằng: ‘Cầu xin Đức Chúa Trời làm cho bạn được như Ép-ra-im và Ma-na-se!’” Vậy, Gia-cốp đặt Ép-ra-im trước Ma-na-se.

21 Y-sơ-ra-ên còn nói với Giô-sép: “Nầy, cha sắp qua đời, nhưng Đức Chúa Trời sẽ phù hộ và đưa các con trở về quê cha đất tổ.

22 Riêng con, cha sẽ cho con một phần trội hơn các anh em con, đó là sườn núi Si-chem mà cha đã dùng cung kiếm chiếm lấy từ tay dân A-mô-rít.”

49

1 Gia-cốp gọi các con trai lại và nói: “Hãy tụ họp lại đây, cha sẽ nói những điều sẽ xảy đến cho các con trong tương lai.

2 Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy tụ họp lại và nghe; Lắng nghe Y-sơ-ra-ên, cha các con:

3 Hỡi Ru-bên! Con trưởng nam của cha, Là sức mạnh của cha, và là bông trái đầu tiên của sinh lực cha, Vốn có địa vị cao trọng và quyền hạn tột đỉnh;

4 Cuồn cuộn như nước lũ, nên con chẳng hơn ai, Vì con đã lên giường cha Làm cho giường cha ô uế!

5 Si-mê-ôn và Lê-vi là anh em. Thanh gươm của chúng là khí giới bạo tàn.

6 Cầu cho tâm hồn cha không thông đồng với chúng, Linh hồn cha chẳng kết giao với chúng; Vì trong cơn giận dữ chúng đã giết người, Trong lúc ngông cuồng chúng cắt nhượng bò đực.

7 Đáng nguyền rủa cho cơn giận của chúng, vì nó quá hung hãn! Đáng nguyền rủa cho cơn phẫn nộ của chúng, vì nó quá bạo tàn! Cha sẽ tách chúng ra trong nhà Gia-cốp, Và phân tán chúng trong dân Y-sơ-ra-ên.

8 Giu-đa! Các anh em sẽ ca tụng con, Tay con sẽ nắm cổ quân thù, Các con trai cha sẽ quỳ lạy trước mặt con.

9 Giu-đa! Con là một sư tử tơ; Con ơi! Săn được mồi con lại trở về. Nó quỳ xuống, nằm rình như sư tử đực, Và giống sư tử cái. Ai dám quấy rầy nó?

10 Vương trượng chẳng rời xa Giu-đa, Cây gậy chỉ huy không cách xa chân nó, Cho đến khi Đấng Si-lô đến, Và các dân vâng phục Đấng đó.

11 Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho, Và lừa con vào cành nho tươi tốt nhất. Người sẽ giặt y phục trong rượu nho, Và áo mình trong huyết nho.

12 Mắt người đỏ hơn rượu, Răng người trắng hơn sữa.

13 Sa-bu-lôn sẽ sống cạnh bờ biển, Nơi ẩn náu cho tàu bè; Bờ cõi nó chạy về hướng Si-đôn.

14 Y-sa-ca là một con lừa mạnh mẽ, Nằm nghỉ giữa chuồng;

15 Thấy rằng nơi nghỉ ngơi thật là thoải mái, Và đất đai thật đáng yêu. Nên đã nghiêng vai gánh vác, Và lao động khổ sai như nô lệ.

16 Đan sẽ xét xử dân mình, Như một trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.

17 Đan sẽ là một con rắn bên đường, Một con rắn độc trên lối đi, Cắn gót chân ngựa, Khiến người cưỡi ngựa phải té nhào.

18 Lạy Đức Giê-hô-va! Con trông chờ ơn cứu rỗi của Ngài!

19 Gát sẽ bị một toán quân tấn công, Nhưng nó sẽ phản công và rượt đuổi chúng.

20 A-se có thức ăn bổ béo, Nó sẽ cung cấp cao lương mỹ vị cho vua.

21 Nép-ta-li là nai cái thả chuồng Sinh ra những chú nai con xinh đẹp.

22 Giô-sép là cành cây trĩu quả, Cành cây trĩu quả bên bờ suối; Nhánh nó phủ trên tường.

23 Những kẻ cầm cung đã tấn công nó mãnh liệt Bắn tên và áp đảo nó.

24 Nhưng nhờ tay Đấng Quyền Năng của Gia-cốp, Mà cung nó vẫn vững bền; Nhờ Đấng Chăn Chiên, là Vầng Đá của Y-sơ-ra-ên, Mà đôi tay nó vẫn lẹ làng.

25 Đức Chúa Trời của cha sẽ giúp đỡ con; Đấng Toàn Năng sẽ ban phước cho con, Tức là phước lành từ trời cao sa xuống, Cùng phước lành từ vực thẳm dâng lên, Phước lành của vú mẹ và dạ con.

26 Phước lành cha chúc cho con Trổi hơn các phước lành của tổ phụ chúc cho cha, Vượt trên các đỉnh núi từ nghìn xưa. Nguyện các phước lành nầy ngự trên đầu Giô-sép, Trên trán của ông hoàng giữa các anh em mình.

27 Bên-gia-min là một con sói ưa cấu xé; Buổi sáng nó vồ lấy con mồi, Buổi chiều nó chia phần mồi đã săn được.”

28 Đó là mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên và những gì người cha đã nói với họ khi ông chúc phước cho họ, mỗi người một lời chúc phước riêng biệt.

29 Sau đó ông dặn bảo các con: “Cha sắp về sum họp với tổ tiên. Các con hãy chôn cất cha cạnh các tổ phụ, trong hang đá ở cánh đồng của Ép-rôn, người Hê-tít,

30 tức là hang đá trong cánh đồng Mặc-bê-la, gần Mam-rê, thuộc xứ Ca-na-an mà Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm nơi an táng.

31 Ở đó, người ta đã chôn Áp-ra-ham và vợ là Sa-ra, Y-sác và vợ là Rê-bê-ca, và cũng tại đó cha đã chôn Lê-a.

32 Cánh đồng và hang đá trong đó đã được mua lại từ gia tộc Hếch.”

33 Vừa dứt lời trăn trối với các con, Gia-cốp rút chân lên giường, rồi trút hơi thở cuối cùng, và được về sum họp với tổ tiên.

50

1 Giô-sép cúi xuống mặt cha, vừa hôn vừa khóc.

2 Giô-sép truyền lệnh cho các thầy thuốc đang phục vụ ông, dùng thuốc thơm ướp xác cha mình, và các thầy thuốc đã ướp xác Y-sơ-ra-ên.

3 Họ phải thực hiện việc nầy trong suốt bốn mươi ngày, vì đó là thời gian cần cho việc ướp xác. Dân Ai Cập để tang Gia-cốp trong bảy mươi ngày.

4 Khi những ngày tang chế đã qua, Giô-sép nói với các triều thần Pha-ra-ôn: “Nếu tôi được ơn trước mặt các ông, xin các ông tâu với Pha-ra-ôn như thế nầy:

5 Cha tôi đã bắt tôi thề rằng: ‘Nầy, cha sắp chết. Con hãy chôn cha trong phần mộ mà cha đã đục sẵn ở Ca-na-an.’ Vậy bây giờ, xin cho tôi lên đó chôn cha tôi, rồi tôi sẽ trở lại.”

6 Pha-ra-ôn bảo: “Ngươi hãy lên chôn cha ngươi như lời cụ đã bắt ngươi thề.”

7 Vậy, Giô-sép lên Ca-na-an để an táng cha. Cùng đi với ông có tất cả các triều thần Pha-ra-ôn, các trưởng lão trong triều, các trưởng lão trong xứ Ai Cập,

8 cũng như tất cả người nhà, các anh em và những thân quyến của cha ông. Trong đất Gô-sen chỉ còn lại trẻ con và chiên, bò của họ mà thôi.

9 Ngoài ra còn có chiến xa và kỵ binh hộ tống. Thật là một đoàn người rất đông.

10 Khi đến sân đập lúa của A-tát, ở phía đông sông Giô-đanh, họ cử hành một tang lễ rất long trọng và xúc động. Giô-sép để tang cha trong bảy ngày.

11 Dân địa phương, tức là người Ca-na-an thấy đám tang trong sân đập lúa A-tát, thì nói: “Đây là một đám tang long trọng của người Ai Cập.” Vì vậy người ta gọi nơi nầy là A-bên Mích-ra-im, ở phía đông sông Giô-đanh.

12 Vậy, các con trai Gia-cốp đã làm theo lời trăn trối của cha.

13 Họ đưa ông về xứ Ca-na-an, chôn trong hang đá ở cánh đồng Mặc-bê-la, gần Mam-rê, mà Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm nơi an táng.

14 Sau khi chôn cất cha, Giô-sép và các anh em cùng những người đưa tang trở về Ai Cập.

15 Các anh Giô-sép thấy cha mình chết thì nói với nhau: “Nếu Giô-sép còn giữ lòng thù hận và báo thù chúng ta về những việc ác mà chúng ta đã làm cho nó thì sao?”

16 Họ sai người đến nói với Giô-sép: “Trước khi qua đời, cha em có truyền dặn rằng:

17 ‘Các con hãy nói với Giô-sép thế nầy: Xin con hãy tha thứ lỗi lầm và điều ác mà các anh con đã phạm khi muốn làm hại con.’ Vậy, bây giờ xin em hãy tha tội cho các đầy tớ của Đức Chúa Trời của cha.” Khi nghe những lời nầy, Giô-sép khóc.

18 Các anh của ông đích thân đến quỳ trước mặt ông và nói: “Nầy, các anh chỉ là nô lệ của em.”

19 Giô-sép nói với họ: “Các anh đừng sợ! Tôi thay thế cho Đức Chúa Trời được sao?

20 Các anh định hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại định cho nó thành điều lành để thực hiện việc đang xảy ra hôm nay, tức là bảo tồn sự sống cho bao nhiêu người.

21 Vậy, xin các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh.” Giô-sép an ủi các anh, dùng lời lẽ êm dịu mà nói chuyện với họ.

22 Giô-sép và gia đình cha của ông sinh sống ở Ai Cập. Giô-sép sống được một trăm mười tuổi.

23 Ông được thấy con cháu Ép-ra-im đến đời thứ ba, và cả các con của Ma-ki, con của Ma-na-se, cũng được sinh ra trên đầu gối Giô-sép.

24 Giô-sép nói với các anh em: “Tôi sắp qua đời, nhưng chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ thăm viếng anh em, đem anh em ra khỏi xứ nầy để trở về xứ mà Ngài đã thề hứa với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.”

25 Giô-sép bắt con cháu Y-sơ-ra-ên thề rằng: “Khi Đức Chúa Trời thực sự thăm viếng anh em, thì anh em sẽ đưa hài cốt của tôi ra khỏi xứ nầy.”

26 Vậy Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta dùng thuốc thơm ướp xác Giô-sép, và liệm trong một quan tài tại Ai Cập.